Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

ABC- Bức Tranh Thơ

Clich xem tên các bài viết  http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat
============================================================================
Thắm ơi, có em trong truyện đấy. Nhắn tin cho anh! (tranductrungvl@gmail.com)
Thi phú suốt đời, vô ích thật
Sách đàn đầy giá, có ngu không
(thơ Nguyễn Du)

Sau tết tôi nhận được nhiều quà thơ. Có người in được nhiều, tặng tôi dăm bảy cuốn. Tôi mang thơ đi làm quà tiếp, lộc bất tận hưởng mà. Tuần trước xuống thăm anh Ngữ tôi mang đi hai tập, một là của nhà thơ kiêm tiến sỹ kiêm đại tá, người kia là doanh nhân thì lúc về có cả một túi thơ, ngót nghét gần chục quyển. Anh Ngữ năm ngóai đi dạy tại chức ở Nam Định. Ở đấy có nhiều hội thơ lắm. Về nhà tôi dở từng tập của tác giả nữ ra xem, chủ yếu là ngắm nghía ảnh các cô in ở bìa cuối hoặc bìa đầu, địa chỉ, rồi mới xem các bài thơ. Không, tôi không đọc thơ mà cứ như đang đi tìm thơ, tìm người. Cũng có mấy cô trông hấp dẫn nhưng trong tập thơ không tìm được bài nào dành cho tôi cả, cho riêng tôi. Tôi cũng có lúc làm thơ, làm như ăn vụng vậy. Sợ nhất lúc đó có người nhìn thấy. Mình thì chẳng bao giờ nhận thấy vẻ mặt của mình cả, hình như nó chẳng giấu được gì, nó khai hết. Dù sao trong lòng tôi vẫn có những khỏang trống cần được lấp đầy, những bãi hoang khô nứt cần được ai đó tưới nước. Và ở đó thơ như những bông hoa gai dại lại mọc lên, ai đó hái, ai đó lại chảy máu...
Lâu rồi tôi không làm thơ, không có cảm hứng, không có người để tặng. Bài thơ cuối cùng tôi làm riêng cho mình lúc rời Thành phố Hồ Chí Minh, kết thúc đợt dạy về môn Đàn hồi kỹ thuật cho khóa cao học trường Bách Khoa. Tôi đọc lúc em đi tiễn tôi ở sân bay.

Chưa viết Thơ trong Người
Viết rồi Người trong Thơ
Trời đùa cho chút mộng mơ
Neo mình những lúc dại khờ cuồng si.


Em khóc. Em đã có hai bài thơ tôi dành cho em, một chiều ở Thủ Đức, một sáng ở Đà Lạt. “Anh có cuồng si đâu, anh chỉ biết cuồng điên thôi” - Em nhìn tôi bằng đôi mắt đẫm ướt đầy giận hờn. Ra Hà Nội hai tháng sau tôi nhận được thư. Em lấy chồng. Hai bài thơ không đủ. Có lẽ bao nhiêu thơ cũng không đủ. Chỉ thơ thôi không đủ. Từ đó tôi không nhận đi dạy xa ở miền Nam và tự hứa với mình không làm thơ nữa. Tôi học Thiền.
---
Hôm nay trong lúc ngồi ở hội đồng chấm luận án thạc sỹ kỹ thuật tôi nhận được tin nhắn của họa sỹ Lê Thiết Cương: “Mời anh 6 h chiều hôm nay đến dự buổi đọc thơ của Nguyễn Hoàng Đức tại 39 Lý Quốc Sư”. Tôi không nhớ đã gặp họa sỹ Cương ở đâu. Còn Đức, tôi có gặp đôi lần ở nhà bạn bè, ở quán nhưng tôi nhớ rằng anh ta là nhà triết học vì câu chuyện có lúc dây sang triết học. Lúc đó thì Đức hùng hổ lắm, cứ như không biết mình đang ở đâu, người xung quanh đang nghĩ gì. Thật đáng ghét. Tôi phải đầu hàng ngay. Tham quá. Tham Sân Si mà. Đây lại là tham Đúng, tội nặng nhất rồi. Mười phần đúng bảy tám. Cho người ta đúng với một chút chứ. Thế giới này đâu có được tạo ra bởi Logic đúng sai của Aristot. Khác hẳn là lúc anh ta chơi dương cầm, rất mơ màng, cũng không biết đến ai, nhưng lại rất đáng yêu. Thôi, cũng là cần có cái cớ để quên đi, xua đi những nhận xét khen chê, đấm xoa, sáo rỗng lặp đi lặp lại ở hội đồng bảo vệ cao học hôm nay và cũng để lên bờ hồ, xem phòng tranh của họa sỹ Cương mà Khánh nhiều lần nhắc đến....
Tôi ngắm phòng tranh, bé quá, khác biệt có rồi đây. Tôi đã quen với các Galerie, các phòng triển lãm có những không gian rộng mở để có thể lùi dần ra xa nhìn ở những khỏang cách và góc độ khác nhau. Lần ở bảo tàng Weimar tôi đã đứng thần ra ngắm bức tranh vẽ vườn hoa có Bethoven đi dạo với vẻ mặt hằm hằm giận giữ đầy khinh bỉ và Goethe đang tiến lại với nụ cười đon đả nịnh bợ. Bethoven từ chối vương triều Weimar còn Goethe lại phục vụ cung đình vì cho rằng nếu ông ta cũng bỏ đi thì mọi thứ đã tệ lại càng tệ hơn. Vĩ nhân mà, họ luôn có lý, kể cả có cái lý của sự vô lý. Lùi ra xa tôi thấy Bethoven đỡ hằn học hơn và hình như họ còn chào hỏi nhau nữa. Thuyết tương đối Einstein thật bao dung và nhiều đồng cảm với đạo Phật của hòa thượng Thich Nhất Hạnh.
Chỉ cần thay đổi cách nhìn
là bao vẻ đẹp muôn hình hiện ra

Tôi chọn ngồi góc nhà, xa khuất, khó thấy diễn giả, nhưng an tòan, cần rút lui cũng dễ. Cũng như đi Karaoke, đi khiêu vũ ấy, ngại nhất là gặp người quen. Hai bên đều khó xử. Hơn mười năm trước tôi đã phải biện hộ với con gái về những bài thơ của mình
Ba ơi sao lại làm thơ
Thời này ai có dại khờ ngồi nghe
Con ơi lắm kẻ ngây si
Ba trong số đó có gi lạ đâu

Tun à, con đang ở đâu. Ba không trong số đó nữa đâu. Ba đến đây cũng chỉ lần đầu thôi - Tôi nhớ con gái và lại tự biện hộ với mình. Còn ở nơi làm việc, tôi đã giống và hoà lẫn vào mọi người. Có mỗi một lần họp bộ môn, cô thư ký mượn bút xoá, lôi trong cặp của tôi ra tập thơ của Blok làm tôi cứ phải thanh minh mãi là sách học của con gái nhờ phô tô, bởi ở đây, thơ là một cái gì hơi thừa và đáng ngờ. Phần đông các đồng nghiệp của tôi không đọc thơ từ lâu và họ chẳng thấy thiếu gì hết lại tránh được phiền toái.
---
Tôi nhắm mắt ngồi chờ sự kiện. Hai tay xòe ngửa trên đầu gối, thẳng lưng, thở ra hít vào thật sâu nhưng đầu cứ nghĩ lan man, không tập trung, không tụ được khí ở Đan Điền. Thơ mà, nó có phải cái neo cho Tâm đâu. Mới trước tết tổ dân phố phường Yên Hòa, nơi tôi có miếng đất cho thuê, gửi giấy mời tôi xuống dự và đóng góp tùy tâm ủng hộ Câu Lạc Bộ khiêu vũ ra mắt. Ở đó tôi mới thấy sự thay đổi nhiều của cuộc sống ở cái Làng Cót xưa này. Chị em váy tóc đủ màu, các quý ông cũng vet đen, vet đỏ, giày đen, giày trắng. Sau những diễn văn chúc mừng và phong bì tài trợ của các quan chức, các đoàn thể của phường ( tôi cũng phong bì gọi là, nhờ bác tổ trưởng dân phố đưa hộ ) là đến lượt hội thơ. Thế là ông hội trưởng đọc bài diễn văn bằng thơ rồi lần lượt các hội viên lên đọc thơ của họ, vừa đọc lại còn vừa giải thích mới khổ chứ. Họ chẳng thèm để ý đến những tâm tư của CLB chủ nhà với những đôi nhảy nhấp nhổm, đôi chân ngứa ngáy.
Sau gần hai giờ chịu đựng thơ, một ông già có lẽ trên bảy mươi, áo xanh, quần và giày da đều mầu trắng đứng dậy bất ngờ đi lên và bật nhạc. Tiếng nhạc nhảy to hết cỡ. Mấy đôi nhảy ùa ra vừa nhảy vừa vẫy mọi người đứng lên dọn ghế. Mọi người cũng đứng lên tất cứu buổi khiêu vũ. Tôi nhận ra giọng hát của Alain Barier trong bài “Em bỏ đi rồi”. Tôi muốn hòa vào giai điệu Rumba đó, mời một cô mặc váy xẻ, nhưng cô ấy lắc đầu, quay mặt, rồi bỏ đi khỏi. Chắc cô ấy ở hội thơ và chưa kịp đọc thơ. Tôi thấy thương Thơ...
---
Ngồi chờ lâu quá, bỏ đi thì tiếc. Tôi cứ phải dỗ mình, tự hứa xong việc Thơ về sẽ đền mình bát phở ở hàng cuối phố Lý Quốc Sư. Mãi, cuối cùng một ông tự giới thiệu mình là chủ nhà họa sỹ Lê Thiết Cương lên cầm Micro khai mạc trong lúc khách vẫn lục tục kéo đến, lộn xộn chào hỏi, bắt tay, có lẽ được hơn hai mươi người và cũng đã chật hết ghế. Hầu hết khách đến là quen nhau. Qua cách họ chào hỏi, nói chuyện thì có thể thấy đây là những người quan trọng, nổi tiếng. Có một bà giọng khàn dạo này tôi hay thấy trên vô tuyến. Hồi xưa trên vô tuyến còn một bà tóc ngắn hay nói về thơ văn, cũng giọng khàn, lại là tiến sỹ gì đấy, lâu không thấy lên, không biết giờ làm gì. Ngồi cạnh tôi là một cô gái trẻ, cao, tóc dày nhuộm vàng, ăn mặc rất hot, cũng giọng khàn. Trẻ thế mà đã nổi tiếng, đã khàn rồi, có cả những Show Thơ, còn đi đọc thơ ở nước ngòai nữa. Bây giờ người ta thích nghe hát giọng khàn. Có cả một kênh vô tuyến lăng xê cô ca sỹ giọng khàn, cao, tóc cũng nhuộm vàng, hot. Cô này còn đóng cả phim. Không chừng truyền thông nhảy cả vào Thơ rồi mà mình không biết, cứ mải mê với cái thuyêt tiến hóa, tập mờ, thuật tóan tối ưu, rồi lại với thiền, thật hâm quá.
Giọng họa sỹ Cương không khàn, cách nói bỗ bã thân mật như ở quán bia, thiện chí, bao dung, có vẻ lãng tử. Tôi thích. Đến lượt Nguyễn Hoàng Đức cầm Micro, trịnh trọng dáng chú rể, trước mặt là cái bàn con để hai tập đóng dày như luận án của cậu thạc sỹ chiều nay, đằng sau là tường có treo hình trái tim, vòng nguyệt quế và cây thánh giá to. Đức mặc áo vet sẫm, cái khăn phô la vàng nâu. Trông anh ta không giống một nhà văn. Nói là giống nhà thơ thì nó cũng thế nào ấy. Đại để là trông hiền, hơi tròn trịa kềnh càng. Cái miệng hiền. Nụ cười càng hiền. Cái nhìn cởi mở cũng hiền nốt. Nhưng thôi, cái này phải để cho các bà, các cô. Họ thạo hơn, vội hơn và cũng say sưa hơn với những đánh giá về phái mạnh. Tôi quay đầu một vòng tìm xem đâu đó có bóng dáng của cô nàng Caroline nào không, cái cô quý tộc đã chết say những buổi đọc thơ của của Byron ấy. Có lẽ không có. Trong phòng có mấy cô trẻ, giống như các cô giáo dạy văn, các cô nhà thơ, nhà báo với các quyển số ghi chép. Không ít trí thông minh được phát triển nhờ những buổi đọc thơ bình văn. Nói chung các cô này không gây cho tôi ấn tượng, cũng không được xinh bằng cái cô ở hội thơ Yên hòa nọ. Hình như cái mối liên hệ gữa các nhà thơ và các quý bà, tiểu thư đã không còn gần gũi như xưa nữa. Chắc các người đẹp đi chơi rong, đi nhảy hết rồi. Các nhà thơ nữ thì vẫn vậy, không có các quý ông đi kèm. Phái mạnh thì thích rượu, thơ chị em thì tỉnh táo quá, không say, không ngông, không điên mà cũng chẳng ngây. Khó nói lắm.
Đức bắt đầu nói, giọng nói say sưa, nói không biết đến ai, nói cho mình, nói với cái vô hình, không dè dặt, khiêm nhừơng. Có lẽ đó là tính cách của Trường ca. Cái khác có sẵn trong Đức, cứ thế tuôn chảy, không cần tạo ra. Có mấy nhà thơ, nhà văn rất tưởng như rất khác, nhưng sau khi tiếp xúc tôi thấy họ giống hệt nhau. Họ giống nhau ở cách biết quan sát người nghe, giống như những ca sỹ bây giờ ấy. Họ biết tạo ra cái khác để thu hút đám đông, biết tác động vào đám đông qua con đường lây nhiễm.
Giọng Đức đọc diễn từ lên bổng xuống trầm, thăng hoa với các lời lẽ rất Tây, khiến cho ai giàu trí tưởng tượng có thể cùng Đức “liên tưởng đến những Salon Thơ Văn ở Paris, ở đó không cần nhiều, nhưng mà những con người ưu tú hạt nhân đã tạo ra sự mở màn cho những tài năng lớn”. - Đức dừng lại nhìn mọi người với ánh mắt hân hoan rồi tiếp tục: “Và tôi hy vọng, tôi sẽ không phải sự thất vọng mà là một hạt mầm, một hạt men được hé cửa ở chính salon mang đầy đủ những dấu hiệu hạt nhân này, trở thành một bóng dáng sừng sững giỡn gió thi đàn”.
Đức đã xua đi cái mặc cảm ban đầu của tôi là rất dị ứng với các bài khai mạc, giới thiệu giải thích, trình bày nguyên nhân, hòan cảnh, rào đón nhàm chán. Cái diễn từ này không phải là cô phù dâu cho phần sau là các bản trường ca mà nó dành cho nó, các khoảnh khắc là của nó. Phần sau sẽ tự lo lấy. Cái đẹp thật sự, cái tuyệt đối đâu cần đến hoàn cảnh ra đời, cần ai giới thiệu. Nó phải thóat khỏi tù túng của không gian, thời gian và có lẽ của cả con người như câu thơ của Adam “Bay trên đầu thế kỷ nhân gian”. Tôi quen qua thơ để tìm người chứ không phải qua người để hiểu thơ. Thế nhé, tôi không quen anh chàng này, không nhớ cái thứ triết học duy lý mà anh ta hay khoa trương, càng không biết là anh ấy cũng chơi dương cầm bản Nactingal Serenade. Tôi đang thấy anh ta lần đầu, cái anh chàng Paul này. Chúng tôi đang ngồi trong Salon Thơ Văn ở Paris.
Âm thanh và những khoảng im lặng đã tạo nên nhịp điệu tuyệt vời. Diễn giả như đang khiêu vũ solo. Một vũ điệu luôn dướn căng thân với lên trên độ cao mình có để thăng hoa các lời lẽ đẹp, hoa mỹ và cũng đầy nhận định chủ quan, rồi chùng xuống để lại bung lên. Cái hấp dẫn ở đây là có một anh chàng đang căng dướn lên tự sướng mà miệng lại luôn nhắc đến Logic. Đang say sưa thế cần gì đến Logic Aristot nhỉ, cần gi biết đến định lý bất toàn (Gödel's incompleteness theorems), nguyên lý bất định(Heisenberg uncertainty principle), thuyết tương đối (Einstein's theory of relativity) và những phát hiện cay đắng, bơ vơ hụt hẫng mà tư duy khoa học mang đến cho loài người.
Bài diễn từ kết thúc trong tiếng vỗ tay, vì nó hay hay vì nó ngắn. Chắc cả hai. Đức có nhắc tới nữ thi sĩ Ba Lan Szymborska ( giải Nobel 1996 ) với câu thơ “ có dăm bảy người còn lại nghe thơ chỉ vì họ phải trú mưa”. Hôm nay trời đẹp không mưa nhưng không thấy ai bỏ đi.
Lại vẫn còn vài người đến muộn đang loay hoay len vào thu xếp chỗ ngồi. Có một ông Tây đứng ở bậu cửa ngó ngang ngó dọc mãi rồi bỏ đi. Nếu ông ấy gặp tôi ngòai phố và hỏi tôi là nên đi đâu, xem gì ở nơi này thì tôi sẽ không ngần ngại cho ông ta mấy lời khuyên là đến Văn Miếu, chùa Một Cột, gò Đống Đa, đi xem múa rối nước, những nơi mà tôi hầu như không đến bao giờ. Hầu như thôi, chứ tết năm ngóai Khánh rủ tôi ra Văn Miếu chơi, xem người ta viết chữ. Khánh quen hết các nghệ nhân ở đó, cầm máy ảnh, chai rượu chạy lăng xăng. Tôi cũng ngó xem một ông râu dài, tóc búi củ hành ngồi viết chữ, người xem đông nhất. Ông ta không cầm bút bình thường mà cái bút to dài giống cái chày. Hình như Trương Thúy Sơn phái Võ Đang cũng đã nổi tiếng với binh khí này. Tôi hỏi giá cả. Họ nói năm trăm ngàn một chữ tàu viết trên giấy gió. Một cô bé đang chờ lấy chữ Đỗ, chắc cho kỳ thi sắp tới. Mấy người chờ mua chữ Tâm, chữ Nhẫn. Họ thiếu hay họ mua để tặng ai vậy. Tôi kéo một bạn trẻ ra hỏi nhỏ vì sao đắt thế. Anh chàng nhìn tôi như người ở hành tinh khác đến vậy :”Vì đó là Cung Tiên Sinh”- rồi lại quay vào vòng người. Cuối cùng tôi cũng hiểu ra chân lý ”Vì đó là Cung Tiên Sinh ” và xếp nó vào đầu như các chân lý khác mà tôi đã thu nhận được từ khi đi học. Liệu rồi sau buổi đọc thơ hôm nay Đức có được là Tiên Sinh như Tiên Sinh Cung ấy không nhỉ. Chờ đã, để nghe Trường Ca đầu tiên mà Đức đọc có tên “ Kẻ hành hương từ đời đến thơ”.
---
Phải thú nhận là những vần thơ của Đức với các triết lý về thơ, về người làm thơ qua lời đối thọai với Homer đã đụng đến những chỗ sâu nhất trong lòng tôi. Chẳng là hồi mười tuổi tôi bị liệt hai chân không đi lại được một năm. Lúc mẹ đi dạy học, tôi lê bò trên giường xuống đất, lên ghế, dùng tay chống đu, với những sách của ông nội trên giá. Tôi đã đọc hết các bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh. Một năm liệt tôi đã trốn mình trong hòn đảo phiêu lưu của Robinson Crusoe, đã theo Ulysses và sau đó theo Telemachus rong ruổi trên biển, lạc vào các hòn đảo, gặp bao nguy nan bất ngờ và các tiên nữ. Một năm đó đã gieo vào tôi nhận thức là thế giới này thật bao la, không chỉ là cái phố Bến Nứa, cái gác xép nhỏ cho mẹ tôi và ba anh chị em tôi, không chỉ có dòng sông Đào mà có cả biển cả vô tận, những thảo nguyên, núi non, cánh rừng và tôi thuộc về nó dù là trong tâm trí. Đọc xong giá sách của ông nội, bệnh liệt của tôi cũng chữa xong, hình như là nhờ cháo cám, xúp cà rốt, khoai tây, bắp cải ninh xương. Năm đó Nam Định xây nhà máy say. Gạo xay trắng không cần thức ăn vẫn rất ngon nhưng không đủ chất. Bác sỹ bảo thiếu B1....

Tưởng chừng đã quên hết rồi, thế là hôm nay Đức lại khơi dậy trong tôi Homer và thế giới thời thơ ấu. Khi đó thơ khác bây giờ lắm, nó như những hòn sỏi lung linh dưới nước trong suối Bâm ở Tuyên Quang. Lúc đó tôi mới bốn tuổi. Mẹ thấy túi tôi đầy sỏi, đánh mắng tôi cho sợ, để sau này không mò ra suối một mình nữa, chết đuối thì sao, dưới suối là hà bá đấy. Thế mà tôi vẫn trốn ra mò sỏi. Mình đúng là có tội, cả sau này nữa, khi lớn lại vẫn mò Thơ. Tôi cũng đã nghĩ về thơ, về những hòn sỏi đó và tự bào chữa
Con ơi nhà vốn đã nghèo
Mà sao con lại dây vào với Thơ
Mẹ ơi bởi tiếng mẹ ru
Theo con đi đến bây giờ mẹ ơi

Sau này những lúc tôi ốm quặt quẹo, mẹ chăm lau mồ hôi, quạt cho tôi ngủ, xua đi cái nóng, cái nghèo trong cái gác xép nhỏ ở Nam Định. Mẹ vẫn hát ru. Mẹ nhớ Ba. Tôi lại mò được trong dòng suối đó những hòn sỏi Thơ về mẹ.
Nếu phải chọn người sinh ra mình
Thì chính là mẹ đấy mẹ ơi
Từ thuở còn mầm ủ sâu nơi ấy
Con đã nghe tiếng mẹ gọi con rồi

Lớn lên tôi có gặp một số nhà Thơ chuyên nghiệp đã từng lên giảng ở trường viết Văn Thơ. Họ cho tôi bài giảng để trở thành Thi Sỹ như họ và hơn nữa, biết đâu có thể thành Thi Hào. Tóm lại là gồm năm bước như trong dây chuyền sản xuất mì ăn liền vậy, chất lượng Hảo Hảo. Đầu tiên là ghép vần theo thể thơ (lục bát, thất ngôn…) gọi là theo thơ tìm lư. Thạo rồi, nhuyễn rồi là đã sang cấp hai - trong thơ có lư với ”từ lư bàn thơ”. Thực ra đây là cấp của bà nội tôi. Bà không biết chữ vì ông nội tôi dạy học, một người biết là đủ rồi, dúng ra là hơi thừa. Bà tôi không chỉ thuộc lòng các truyện thơ hồi đó, từ Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai đến Phan Trần để kể cho đám cháu nội, ngoại mà khi bà nói chuyện, mắng các con dâu, dạy cháu cũng dùng thơ, ví von các kiểu. Bà tôi chưa ra được những tập thơ nghĩa là chưa đạt được mức cấp ba. Cấp bốn là đã thành Nhà Thơ ( Thi Nhân). Đã là hội viên của các hội nhà văn Việt Nam, đã có thơ trong các Tuyển Tập Thơ Quốc Gia. Cấp cao nhất là cấp Thi Hào. Đó là thơ đã đạt trình độ “thể dụng đều mất”, nghĩa là “thơ thành lư lập
Hình như điều đó là vô ích với tôi. Tôi không học được họ. Tôi còn nhớ được tên họ nhưng không nhớ nổi thơ của họ. Tôi nhớ những viên sỏi long lanh dưới suối xưa. Họ không có...Tôi nhớ bà nội tôi và Thắm, cô bé láng giềng thời nhỏ, vẫn sang chơi, hóng chuyện kể của bà. Khi tốt nghiệp về nước, tôi về thăm bà ở quê với chú thím tôi, bà có nhắc Thắm, nói em vẫn hay sang chơi, hay hỏi về tôi. Giọng nói của bà đầy sự tiếc nuối. Thắm đã lấy chồng, là cô giáo ở trường làng. Mấy hôm sau bà tôi tìm cách nhắn Thắm sang chơi. Bà xuống bếp, tôi chưa kịp nói chuyện hỏi han gi thì có tiếng bà mẹ chồng Thắm gọi vọng sang, bâng quơ, mát mẻ, bóng gió. Tôi lặng người nhìn em và lúng túng.  Thắm đứng dậy xin phép về. Tôi đưa em ra đến cổng, chỗ bờ rào khuất, đi sau nhìn cái cổ trắng, cái gáy trần vì mái tóc dài đã bị kéo lên trước ngực, đôi vai tròn, vẫn của cô bé láng giềng thơ ngày nào. Không cầm được tôi nắm tay kéo em lại. Em không cưỡng, úp mặt vào ngực tôi. Rồi cũng như vậy em đã ra khỏi vòng tay tôi rất nhanh, nhìn tôi qua ngấn nước: "Muộn rồi anh". Tôi cũng buông vai em ra rồi, như trong cơn mơ nhìn em đi khuất sau bụi cúc tần, những câu em nói chia tay để tôi đứng lặng đi :" Em về. Có chồng chẳng dám đi đâu. Có con chẳng dám ngồi lâu nhà người, anh". Bà nội tôi giờ không còn nữa. Còn Thắm không biết đã mấy con rồi. Có kể thơ cho con như bà đã kể cho chúng mình không em...Với bà không có làm thơ, chỉ có nói thơ. Không có nhà thơ hay thi hào gì cả. Chỉ có Người Thơ. Thơ nó trong mỗi hơi thở của bà...
Thôi, tôi lắc đầu để trở về với hiện tại. Không biết anh chàng Đức là người ở bước thứ mấy chứ trong số những người nghe Đức ở đây chắc có nhiều người trong tốp bước bốn. Để xem diễn giả cho Thi Hào Homer, người đã đạt đến bước năm nói gì nào
ta biết chàng
đã vượt qua một cuộc hành trình
đầy gian lao thử thách
mong tìm một đường thơ
vậy ta sẵn lòng truyền lại
tất cả những gì
ta hiểu về thơ


Tôi như lặng đi. Tôi ngồi thẳng lưng lên, nhắm mắt để nghe, hai xòe trên đầu gối, thở đều sâu, để ghi nhận, để cảm nhận, để hòa đồng cùng Đức trong cái thế giới của anh ta. Tất cả sự tồn tại và tiến hóa của lòai người đâu có ngòai những phép Thử-Sai ( Try-Error ) mà. Dám thử rồi dám lọai trừ cái sai để có thể sống sót và thử tiếp, đi tiếp. Hãy thử lắng nghe một con người đang say sưa hạnh phúc đọc vang
Cuộc sống con người
Là cuộc sống mang ý nghĩa về cuộc sống
bởi con người không sống
như hình thức tồn tại
của gốc cây hòn sỏi bờ sông hay núi đá
mà con người sống
khi cố tìm lý do để sống!

Mọi người vỗ tay hoan hỉ. Chắc rằng ở đây ai nấy đều có đầy đủ hoặc thừa lý do để sống. Ở đây không thể có Ecenin với câu thơ ông gửi lại khi hết lý do sống.
Chết chẳng có gì là lạ
Nhưng sống cũng có gi mới mẻ hơn đâu

Tôi ngước nhìn hình cây thánh giá và trái tim trên tường sau chỗ Đức ngồi. Sao lại thế nhỉ, Ecenin, Blok rồi Maiakovski nữa lại tự tử. Họ không có cái lý nào để sống nữa hay là cái lý của họ cũng như những hòn sỏi lung linh dưới đáy suối ấy. Người chết vì suối đã cạn, các viên sỏi khô rồi không lung linh nữa. Có ông Tolstoi khác chút, không tự tử nhưng cũng chết lang thang ở một ga xép, chạy trốn khỏi trang trại giàu có của mình. Ông ta chết đuối dưới suối. Già rồi còn đi tìm sỏi...
Cái lý sống mà Đức đọc là gì nhỉ. Nó có thể lượng hóa bằng những phép đo, những con số và tiện hơn nữa có thể cấy ghép, thừa hưởng từ bên ngòai không. Được chứ Đức ơi. Thời buổi công nghệ mà, trái tim cũng được cấy ghép ngon lành. Công nghệ số sẽ dẫn tới Nghệ thuật số. Truyền thông, số lượng tin nhắn bình chọn - thật quá tiện lợi và hiện đại. Có lẽ sự thành công là phải tìm được một ông bầu, bầu Show, bầu Thơ đấy Đức ạ. Mọi người sẽ được nghe thơ của Đức ở truyền thông, mua những CD thơ Nguyễn Hoàng Đức và nếu công chúng yêu cầu sẽ cần có cả giọng đọc thơ khàn ấy. Tôi thì vẫn thích giọng Đức trong ấm, hùng hồn và thật hơn.
với thi nhân
sống không có nghĩa
giữ lấy cuộc đời
mà sống để sáng tạo
những vần thơ ý nghĩa cho đời !

Điều này tôi được học từ bé nhưng cứ loay hoay mãi. Tôi không may mắn có được những ý nghĩ đó như Đức. Những vần thơ của tôi có ý nghĩa cho tôi, rồi may ra cho một ai đó. Nó thật hơn chứ cho đời, cho mọi người quả thật là khó. Tôi nghĩ đến em. Em ở đâu. Em còn khóc không, có đỡ không khi có thơ của tôi.
Có phải vì em mau nước mắt
Mà Thơ tôi bật khóc suốt chiều qua
Tôi dỗ nó, nín đi nào, hãy nín
Hóa thành khăn lau nước mắt cho nàng

Thực ra trong sâu thẳm tôi vẫn thấy có gì không ổn. Giá như em không yêu thơ, tôi không biết làm thơ, em đã không khổ. Tôi yêu em? Tôi nghĩ mãi. Thơ tôi đấy. Nếu như Vampire ( con Ma cà rồng ) cần uống máu người để sống thì Thơ tôi nó cũng cần nụ cười và cả nước mắt của em. Cùng lắm em yêu thơ tôi thôi nhưng đừng yêu người làm thơ, cũng như ghét Ma cà rồng chứ đừng ghét con người bị cắn biến thành Ma. May mà thơ tôi chỉ quanh quẩn về Tình yêu chứ lại còn định dành cho Đời nữa thì quả thật tai hại. Tôi nhớ đến lời của một nhà tóan học Thụy Sỹ: “Tôi tự hào là công dân của một nước nhỏ để không làm ra được những ngu ngốc lớn” . Ôi chao, thơ mà, những từ ngữ, những lời nói và nhận định của con người vốn rất chủ quan. Ở đây nó có cần Logic Aristot đâu nhỉ. Nó sinh ra và được ru ngay trong cái nôi của các nghịch lý mà Szymborska đã viết.
Khi chúng ta cất tiêng nói Tương Lai,
Âm tiết đầu tiên đã rơi vào Quá Khứ

Thế mà Đức lại say sưa khóac cho Thơ cái áo:
Ở đó lô-gíc sẽ khơi thông
mạch cho ngôn từ trôi chảy
và thi nhân không phải kẻ vô tâm
đứng ngoài lô-gíc!

Lẽ ra chúng ta cần có thêm một tôn giáo nữa: tôn giáo dành cho Thơ, cho những người mơ mộng, những kẻ muốn nói mà không biết nói gì. Họ còn không biết rõ nữa thì người nghe sao mà biết được rõ được mà cứ mổ với chả xẻ, bình với chả luận đúng sai. Có cuộc chiến nào không bắt đầu từ quyền lợi đâu, mà cuộc chiến thành Troy lại đòi bắt đầu từ Tình yêu, thứ Tình yêu mù quáng. Tìm lý thực khó lắm, lý do, lý trấu. Tìm cớ nọ cớ kia thì đầy. Nhiều khi càng it lý kiểu “Một chiều cả gió găm đầy áo em”, càng lơ mơ, thú nhận, bất định bao nhiêu thì càng thật, Thơ càng sống bấy nhiêu. Bốn năm ở sa mạc Xahara hoang vu, nhiều đêm tôi nhìn lên bầu trời, ngắm các vì sao lunh linh, chiêm ngưỡng cái bí ẩn của thế giói này. Con người càng muốn mạo hiểm, vất vả tìm kiếm để thoả mãn một niềm khát khao không tên như của người Digan, của Hoàng Tử Bé... và cả của Einstein nữa: “Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là cái bí ẩn. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng ngạc nhiên, kẻ đó coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình”. Trong lòng tôi đến bây giờ vẫn còn chút bản năng của cánh buồm Lermontov:  
Trong màn đêm dày đặc phủ sương
Đi kiếm tìm chi nơi đất lạ?

và cũng thật mơ hồ với câu trả lời:
Hay buồm đi tìm giông bão,
 Bởi trong giông bão có bình an

Vũ điệu Thơ của Đức càng phiêu, càng thấy tù mù với các triết lý
và thi ca cũng vậy
nó luôn luôn lên đường
tìm ý nghĩa cuộc đời
nó không lần theo máu chiến trường
đếm những xác chết
không lần theo mồ hôi
để đếm công lao động
mà nó là cuộc lên đường đi tìm ý nghĩa

Lại ý nghĩa rồi. Cái vô nghĩa khi đi tìm ý nghĩa cụ thể mà đôi khi đã được chuẩn bị sẵn, cái áp đặt khẳng định tuyệt đối, cái lối mòn đơn điệu, sáo rỗng, tất định lại làm cạn kiệt người đọc và đặt thơ trước tình trạng không còn ai muốn quan tâm tới thơ, ngoài những người chẳng biết làm gi, những nhà thơ chăng. Thực ra quan trọng vẫn là sự phiêu lưu vào miền xa lạ, không tìm được cái này thì ra cái khác. Những bước chân mới là cần thiết, ý nghĩa đã có ngay trong mỗi bước chân đi, ngay trong con đường. Và con đường gọi chúng ta đi, thôi thúc cả trong giấc ngủ yên lành, có lẽ vì những khát khao bất định, kỳ diệu và cả mạo hiểm nữa. Có lẽ cả vì cả những ngã ba để ta đứng lại bơ vơ, suy ngẫm, lựa chọn, tặc lưỡi, rồi mãi không quên được. Nhiều khi chúng ta lại cần kiếm cái cớ để đi, để tự an ủi, để nuôi cảm cái giác có sống và có yêu chứ đâu phải cái đích thực sự cụ thể để rồi nuối tiếc và trách mình.
Tôi đi trăm núi ngàn sông
Có tìm thấy lá diêu bông bao giờ
.
Diêu Bông ơi, thật ra nhờ có cái ảo mộng có Em đó mà ta đi được trăm núi ngàn sông, và đó không thể gọi là ta đã sống vô nghĩa. Trên con đường đi, trong mỗi bước chân, trong mỗi lần vấp ngã, trong mỗi lần đứng dậy ta lại hiểu ra ta hơn, mỗi lần ta lại tìm thấy một chút Ta. Ta ngã rồi, đau quá, không chết, ta đứng dậy được rồi. Đứng thẳng lên. Ta làm được rồi. Ta lại đi rồi, lại ngẩng đầu lên, bướng bỉnh tìm kiếm, không lom khom. Đó mới là điều cần nhất. Ta vẫn không hết ngạc nhiên về mình.
Hóa ra cái hành trình không ngờ tới lại là hành trình vào chính mình. Ta như con sâu bò vậy. Hồi còn sinh viên cô giáo dạy tiếng Nga đã nói về hai lọai sâu và chiếc lá cải. Phần đông là sâu bò lên ăn, càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng tốt, ăn không hề hỏi, đấu tranh sinh tồn mà, giành giật, không bỏ lỡ cơ hội như giới kinh doanh bây giờ thường nói. Sâu ăn rồi có thể thành sâu to, rất to, siêu sâu, nhưng ... mãi là sâu. Có những con khác lại vừa bò lại vừa hỏi về chíếc lá cải, về sâu, về các cái chân để bò. Tôi buột miệng hỏi cô giáo: ” Irina Ananhevna, thế cô là lọai sâu nào ”. Hỏi xong tôi thấy ân hận, mình lỡ lời rồi. Nhưng cô giáo chỉ cười: “ Chúng ta cùng lọai sâu hay hỏi. Có những con sâu còn hỏi là khi chân thứ nhất giơ lên thi chân thứ chín đang ở đâu”. Cô ngừng một lúc rồi nói tiếp: “Với nó điều đó còn quan trọng hơn chiếc lá cải. Rồi những con sâu ấy có thể mọc cánh thành bướm, cũng như con vịt xấu xí của Andersen có thể hóa thành thiên nga vậy ”. Câu chuyện về sâu đó cứ theo tôi mãi, theo vào cả trong bài thơ đăng trong tạp chí “ Văn nghệ quân đội “.
Cứ day dứt mãi không ra
Mình là ai, ai là ta, là mình

Những bài thơ khác tôi gửi họ không đăng nữa. Hỏi gì mà lắm thế. Sợ câu hỏi. Con người còn sợ nhiều thứ lắm, và sợ nhất là không phải sống, chỉ là tồn tại tù đầy trong cái tất định, đơn điệu mà Puskin đã từng than:
Không thiên thần, không nguồn cảm hứng
Không cuộc đời, nước mắt, tình yêu.

Nhưng con người cũng lại sợ cái bất định và cái khỏang tự do của nó, vừa thèm muốn vừa sợ những cái bí ẩn, sợ những gì chưa biết, sợ cả những thứ đã biết. Nhà thơ lại càng sợ, sợ người ta chê thơ của mình, sợ mất đi những lời khen. Cái cảm giác thấy mình yếu đuối, nhỏ bé luôn phải tìm kiếm một nguồn sức mạnh, đám đông để nương tựa, để phần nào cảm thấy an toàn, để đám đông đó đánh giá, nói giúp cho mình là ai. Đức có thế không nhỉ. Bây giờ anh đang như một vũ công dướn trên mũi chân độc diễn bước xoay wheelspin, như muốn bay lên thắng được cái sức hút trái đất dù trong khoảnh khắc, buông bỏ cái xung quanh đang níu mình lại. Có Thơ như rượu say, làm ai khóc, ai cười, ai đó lặng đi, ai đó chạnh lòng.
Ý nghĩa của đời sống là vô tận
Và nghệ sĩ tài năng
Chính là người nâng cánh cuộc đời
Bay vào cõi đẹp không bến không bờ

Thôi, thế là Đức bắt đầu sang cái Đẹp rồi, bỏ qua cái Thiện. Đã xong được phần Chân, phần Lý với kết luận luôn đúng “Ý nghĩa của đời sống là vô tận” . Những câu đầy chất thơ kiểu này tôi vẫn hay nghe trong các bài phát biểu ở các hội đồng khoa học. Lúc đó trong tiếng vỗ tay tán thưởng đôi khi tôi lại bắt gặp một cái nhìn ngơ ngác, một ánh mắt buồn của ai đó. Tôi tự an ủi mình là không sao, chỉ là trùng hợp, không có ai bị mất, bị thiệt thòi, bị sai ở đây cả. Không có ai phải nhường cái Lý của mình cho ai vì nói cho cùng có ai thật biết nó ở đâu. Nó đâu như một miếng thịt hiếm hoi trong bữa cơm nghèo mà mẹ gắp nốt vào bát tôi. Mẹ nói không thích ăn thịt, nó gây. Mẹ thích cơm chan nước rau, dễ ăn.
Đức vẫn tiếp tục
nghệ thuật cò con có thể còn mặc cả
còn nghệ thuật lớn lao
là một cuộc lên men vô tận
hình ảnh cuộc đời
ý nghĩa cuộc đời
vẻ đẹp cuộc đời
vì thế không thể nào mặc cả!

Không, tôi lại vội rồi. Anh chàng không dứt khỏi Lý được. Có người kẹt trong cái Tình. có người trong cái Lý. Lòai người đang bị kẹt trong nhà tù đúng Chỗ, đúng Lúc, đúng Độ vì tội tham lam của Cái Lý. Nó vốn hiếu thắng, không muốn chia sẻ nhưng lại ưa ban phát. Đức lại cất giọng
một bài thơ ngắn
là một bài thơ chưa biểu hiện lòng khát sống
nó sợ bão tố cuộc đời
và nấp mình trong căn lều bé nhỏ

Cái Lý ca ngợi thơ dài, phê thơ ngắn của Đức như được vang lên đắc thắng từ bên trong lòng, từ trái tim. Thơ của anh không phải tìm vần, nhịp điệu nữa. Nó cứ như vị chát chua ngọt đã có sẵn trong quả nho rồi, chỉ cần ủ ấm sẽ thành rượu, sẽ làm ta say. Tôi cũng như bị say. Cũng một phần nữa vì nghe giọng Đức vang, bay, chưa khàn, nói đúng hơn nghe trực tiếp tác giả đọc, thưởng thức cách đọc, trình diễn mới thấy hay, chứ từ lâu tôi đã không đọc được thơ dài quá một trang. Đã chót có thói quen hay ra xa, lên cao để nhìn, để thấy như trong thơ của Tạ Minh Châu
Dẫu mênh mông tựa cách đồng
Cũng là một khúc tang bồng cò bay

Có bao giờ cái Lý cảm thấy cô đơn, tàn nhẫn và vô nghĩa không nhỉ. Chẳng là Lê, nghiên cứu sinh của tôi trong lúc làm luận án gặp phải trường hợp bất định với số điều khiện it hơn số ẩn. Để cho đủ, chúng tôi bổ sung các điều kiện tầm thường ( Trivial ) – lấy đạo hàm những đại lượng không lên quan đến nhau và cho bằng không. Giải thích điều đó thật là khó khăn ở các hội thảo khoa học vì chẳng ai làm thế cả, các đại lượng đó có liên quan với nhau đâu. Người ta quen những điều kiện liên quan chứ ai để ý đến những thứ không liên quan. Vị giáo sư đầu ngành hỏi : “ Thế thì cái gi cũng lấy đạo hàm tất à, các đại lượng đó có liên quan đến nhau đâu. Con gà cũng cứ lấy đạo hàm được à ”. Tôi cười đáp: “ Vâng, con gà cũng được, con mèo cũng được và ta có điều kịên bộc lộ sự liên quan đó qua số không. Về Logic Hình Thức ( Formal Logic ) ta không phạm sai lầm gì, mà lại có thêm các điều kiện bổ sung cho đủ với số ẩn “. Vị giáo sư lắc đầu rồi thôi. Ông vẫn không yên tâm. Mọi người yên lặng không hỏi nữa. Tôi ngồi xuống bỗng nghe có tiếng cô nghiên cứu sinh của vị giáo sư đó ngồi sau nói nhỏ: “ Có khác thầy ạ, con gà, con mèo nó đau”. Bài tóan tối ưu với các điều kiện bổ sung sau này được Lê giải và chúng tôi công bố kết quả trong một tạp chí quốc tế. Tôi nhắc lại lời của cô gái đó với Lê và phần tíếp của đề tài cậu ta xin chuyển sang dùng Logic Mờ ( Fuzzy Logic ). Hôm Lê bảo vệ luận án tiến sỹ cô gái đó không đến dự, tiếc quá. Lê thì trong lúc bảo vệ vẫn cứ thỉnh thỏang nhìn ra cửa như ngóng ai. Tôi hiểu quá rõ học trò của mình
À ơi cái Lý ở đâu
Để cho Tình phải qua cầu gió bay.

Điều bất ngờ là sau đó có một hôm Thịnh học trò cũ của tôi đến rủ đi xem thi khiêu vũ ở nhà thi đấu Quần Ngựa gần nhà cậu ấy. Cậu ta cũng đã từng thi đấu, đọat giải mấy năm trước. Thịnh sợ tôi chán nên giải thích cho tôi khá nhiều về bộ môn Dancesport này, về những trường phái khác nhau. Đúng là người học kỹ thuật, cái gi cũng cần đi đến nguyên lý, ngọn ngành. Bỗng dưng tôi nhìn thấy một cô gái váy vàng rực để tay lên tay người bạn nhảy diễu qua chỗ chúng tôi ngồi rồi bước vào sàn. Tôi nhận ra Thu, cái cô nghiên cứu sinh bộ môn gia công áp lực, cái cô vắng mặt khi Lê bảo vệ tháng trước ấy. Đôi nhảy đó nhận giải nhất về Vals chậm, giải ba Tango. Giám khảo là người nước ngòai. Họ đã nhận ra những bước đi lung linh của em. Có lúc em hơi trễ so chuyển động của Patner, có lúc để tiếng phách nhạc tuột qua trước rồi lướt lên đuổi theo, lúc lại dướn trước để tạo khỏanh khắc dừng chờ đợi. Những lúc ấy em đã cố tránh dẫm lên nốt nhạc, sợ nó đau.
Đúng là cái Lý có thể làm đau. Nó hiếu thắng và chiến thắng. Cái Tình nhường và thua. Tình chết và được chôn ở trong những Kim Tự Tháp Thi Ca. Ý nghĩa của cái Lý của Thi Ca ở đâu khi với nó người ta có thể giết chết Thi Ca và cả những nhà thơ. Thực ra Đức chẳng chứng minh gì cả, chẳng có một thao tác nào của Logic Hình Thức, cũng chẳng giải thích như kiểu “qua cầu gió bay”. Anh toàn khẳng định, chỗ dựa của anh là sự bất tử của các trường ca của Homer, là tình yêu của Đức đối với thể lọai trường ca. Nhà thi hào mù, cậu bé Cupidon của tình yêu cũng mù. Tình Yêu mù mà, có thế nó mới say đắm lòng ta đến lạ kỳ. Nhưng dài thế nào Đức không nói rõ. Cái lý ca ngợi Trường Ca là ở chỗ nhiều chữ hay là cứ xuống dòng là xong, tốn giấy lắm. Nếu trào lưu thơ dài mà lên ngôi, không chừng sẽ có cả siêu Trường Ca, siêu Dài phục vụ các đại gia. Có rất nhiều bài thơ dài chỉ hai trang nhưng quả thật tôi đọc không nổi, không nhớ nổi một câu thơ, một ý thơ. Đức không giống như vậy. Những ca từ bay bổng và lý lẽ táo bạo của anh lại dễ nhớ. Anh cho rằng Dài là cần nhưng không đủ mà phải là Bi Kịch cơ. Trường Ca vui thua Trường Ca buồn.
Bi kịch vĩ đại hơn hài kịch!
Vì bi kịch là sự hiến tế cho đời
mồ hôi, máu và sự sống
còn hài kịch nhỏ bé
vì là vụ gặt tức thì
nụ cười trên môi trong khoảnh khắc
!
Anh này theo quan điểm của Aristot về bi kịch rồi. Những người tốt chịu đựng sự bất hạnh, Cái Ác không tha cho họ, không phải vì họ chống nó mà vì họ khác nó. Nhưng sự thất bại của họ làm cho người đời xót thương, ca ngợi họ, vẽ chân dung họ “đẹp hơn thực” để treo trước cuộc đời một tấm gương. Đức luôn muốn đối chọi, lọai trừ. Có dễ thế không. Dài –Ngắn, Buồn –Vui đan xen vào nhau, theo ta suốt cuộc đời chứ. Tôi lại nhớ tôi rồi
Nhà đã nghèo lại ồm đau quặt quẹo
Mẹ vẫn cười dỗ tôi thìa cháo
Hành cay sao, mắt mẹ đỏ hoe

Những lời ngân vang sang sảng của Đức lại đưa tôi ra khỏi giây phút chạnh lòng
Ta là kẻ yêu thơ từ nhỏ
Nên ôm nỗi sỉ nhục trong lòng
về một hình ảnh thi nhân
bị nguyền rủa
chỉ ngâm nga vài lời đào kép
Và anh đã tìm ra
nguyên lý mới cho thơ
May thay! May thay!
đến một ngày ta phát hiện rằng
sở dĩ thi nhân ở xứ ta bị mọi người dè bỉu
là bởi hắn đã tự co mình lại
trong vài vần thơ miệng hắn xướng lên
từ chiếc cổ họng nông choèn

Sao lại mới nhỉ. Sinh sớm mấy chục năm chắc Đức đã có mặt trong hàng ngũ những nhà thơ Nghệ Thuật vị Nhân Sinh rồi. Có thể có tên phố đặt cho anh nữa. Anh là nhà thơ - chiến sỹ. Thế giới Thơ của anh thật hoành tráng.
Ở đó đôi cánh thi nhân không còn lả lướt
Mà là đôi cánh
chở mang
gánh nặng cứu chuộc con người!

Đức trẻ trung quá khi anh đọc những câu kết này. Mình già quá rồi, tôi nghĩ thầm và bỗng dưng thèm cái hồn trẻ trung đầy nhiệt huyết của anh. Liệu sau lần này tôi sẽ nghĩ khác đi về thơ không và tôi có khác đi không. Ý nghĩ thật kỳ quặc. Không, thế giới của tôi và em, bức hình Thơ đó lấp lánh ảo ảnh và những hòn sỏi bé nhỏ. Chúng mình đã nhìn hình của hai đứa lung linh trong suối và có lẽ chỉ ở đấy nó được bên nhau, hòa xen đan vào nhau. Chúng tôi không tìm thấy cái Lý của bức hình đó. Nếu có cái Lý nào đó mà tôi được chọn cho có cảm giác yên tâm thì có lẽ kiếp trước tôi và em không phải là hai nửa mà là một thôi, có thể đó là một viên sỏi. Chỉ riêng ý nghĩ này tôi đã thấy cái Lý không thể chia sẻ được. Hoặc là nó quá gần, quá riêng tư. Cái Lý chung thì lại quá xa và đồng hành với bao sự ngẫu nhiên, tình cờ mà ta cố tình không nhìn để thú nhận sự nhỏ bé và bất lực của con người. Tôi càng it nói đến cái Thiện vì khi nói ra nó, nó đã không còn nguyên vẹn rồi. Chỉ có cái Đẹp - như Gogol viết: “ Cái Đẹp cứu thế giới”. Nó cứu chúng ta vì một lẽ đơn sơ - nó đẹp tự nó, là bản thể của nó. “Bông hoa của em” -Tôi đã ngắt bông hoa ở bờ suối cài lên tóc em năm ấy. Em cười: “ Đấy là anh nói chứ. Bông hoa đẹp quá nhưng nó có biết chúng mình đâu mà, nó đẹp cho nó chứ”.
- - -
Thôi, thế là bản Trường Ca cuối cùng được kết thúc với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt Đức. Thật tuyệt vời. Tôi lại thấy cái Đẹp trong câu nói của Baudelaire: “Nó làm cho người anh hùng thành hèn nhát và đứa bé con thành can đảm “. Tôi muốn ra về, đói rồi, thèm ăn phở nhưng lại ngại vì mọi người bắt đầu tranh luận, ý kiến mãi. Không biết có phải biểu quyết không. Mà quyết liệt lắm. Jadeh, nhà toán học đưa ra Logic Mờ đã có lý: "Khi ai đó có cái búa trong tay thì họ chỉ thấy trước mặt chỉ là những cái đinh”. Nhiều bàn tay giơ lên đòi micro. Người ta phản ứng. Tội nghiệp cái đinh quá. Ca ngợi cái thơ Dài của mình thì là việc có thể bỏ qua nhưng lại chê thơ Ngắn của người khác thì ai chịu nổi. Đúng là điếc không sợ súng. Người ta có bao nhiêu là độc giả, người ta nổi tiếng, người ta thành đạt. Thảo luận lên đến cao trào, có cả những lời nói đầy bức xúc, đôi khi lại không vào Trường Ca mà vào tác giả của nó. Điều này tôi ghét nhất.
Tôi muốn kết thúc. Tôi nhìn Đức. Tôi giơ tay và Micro được diễn giả đưa cho tôi. Chắc là trông mình ngọai đạo với cả thơ ngắn thơ dài. Cầm mic trong tay, đứng lên, không biết gì về những lý luận văn chương như cô gái giọng khàn vừa phát biểu, cũng không biết nhiều về Đức và quá trình làm thơ của anh như nhà thơ béo tốt đạo mạo có ria tiết lộ, tôi đành nói thật. Tôi kể là đến đây với hy vọng không phải nghe những cái lý đúng sai như đã dự ở hội đồng bảo vệ luận án cao học kỹ thuật chiều nay. Tôi mong có một sự ngẫu nhiên, khác biệt và đủ sâu sắc. Tôi xin cám ơn Đức và Trường Ca của anh. Tôi đã thấy có sự khác biệt. Còn về sâu sắc, tôi cần thời gian. Mọi thứ trong trường ca đều với lên cao. Hy vọng sẽ thấy những đôi cánh chứ không phải là các bong bóng bay.
Tưởng nói thế là đã tạt được bóng nhẹ vừa tầm để Đức ghi bàn kết thúc có hậu, ai ngờ anh ta nổi nóng giành lấy Mic, nói rằng tôi hai phải, ba phải kiểu Tàu rồi. Anh ta không phải Tàu. Tây mà. Logic Aristot - anh ta đúng, khác anh là sai. Chết tôi rồi, khác anh ta đông lắm. Số đông mà sai à, thơ ngắn mà sai à. Và thế là bóng lại đặt vào giữa sân. Lùng bùng một lúc, may quá một bà ngồi hàng đầu cầm được Mic khàn khàn cất giọng giảng giải, tổng kết về Đức, về Trường Ca, về Văn Thơ, về buổi gặp mặt chiều nay hệt như trên truyền hình, rất chuyên nghiệp. Nhưng cái cô tóc vàng giọng khàn kia lại chưa chịu, lại đi bóng. Kỹ thuật và lắt léo quá. Tôi không có được cái may mắn hiểu được các thuật ngữ lý luận văn chương đó.
Bù giờ. Tranh luận lại càng sôi nổi. Mọi người biết cách đặt các câu hỏi khác nhau. Họ tập làm việc đó từ lâu, hôm nay không phải lần đầu. Tôi sốt ruột rồi. Không biết sau bao lâu nữa rồi mọi người cũng kết thúc. Hình như không ai ghi thêm được bàn nào. Bóng luẩn quẩn. Có điều càng phản ứng quyết liệt, Đức hình như càng chiếm được cảm tình mọi người hơn. Họ nhận ra Đức cũng giống họ. Đến lúc chủ nhà họa sỹ Cương nói lời bế mạc, cám ơn thì ai nấy đều hỷ hả. Tôi chào Đức và không quên bắt tay chủ nhà họa sỹ. Có thể lúc nào tôi sẽ rủ Khánh đến xem tranh anh.
Trên đường về tôi suýt bị phạt vì không thấy biển đi ngược chiều ở phố Nhà Chung. Tôi mải nhìn ông Tây vẫn còn lang thang xem tranh treo la liệt ở trong và ngoài các cửa hàng. Toàn tranh chép.
...( còn nữa )
click để trở về xem các chủ đề.... http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét