Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

ABC-Có Một Cách Học ... Tư Duy Và Kỹ Năng

Click xem các tên bài viết   http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat  
-------------------------------------------------------------

Có Một Cách Học
Học nhồi nhét dẫn đến sự nông cạn và vô văn hoá ... với kiến thức được chuyên môn hóa con người giống như một con chó được huấn luyện tốt hơn là một con người được phát triển hài hoà ... Mọi thứ phải được đơn giản tới mức có thể chứ không chỉ là đơn giản hơn.
(A. Einstein).

Không có tri thức nếu ta không giữ lại những gì ta đã hiểu được .
(Dante)

Philosophy = philein (tình yêu) + sophia (trí tuệ) - Tiếng Hy Lạp. Tri thức về cách học có lẽ là tri thức quan trọng nhất.
(j. Gleb)
Học là gì?
 Chưa có ai hỏi tôi câu hỏi đó. Từ bé tôi chỉ được nghe mọi người nói "Học đi, Học". Tôi cũng nói như vậy. Nhiều người coi việc học chủ yếu là đọc sách. Quan trọng là đọc xong có điều gì hay chưa biết tìm ra và đọng lại không. Cả quyển sách dầy mà lưu lại trong ta Một dòng, Một ý cũng là quý lắm rồi. Thực ra điều đó không dễ chút nào vì quyển sách có bao nhiêu ý, muốn giữ lại một ý thì lại cần khả năng phân biệt và lựa chọn. Nghe giảng cũng vậy thôi. Có người lại nói học là hành, là có kỹ năng. Ai đó lại còn nói học qua trải nghiệm, học qua sai lầm. Rất nhiều người nói, học cần thời gian, kiểu mưa lâu ngấm dần. Thời gian quý lắm chứ, cái vốn trời cho đó khá là công bằng, phải biết giữ dìn, chắt chiu nó chứ, đừng để kiểu học ề à thành thói quen, nhờn đi, mất đi cái những cái cần nhất cho việc học là khả năng tập trung cao, loại bỏ cái phụ, nắm bắt cái chính. Tôi thử đặt câu hỏi "học là gì" và thử trả lời theo cách riêng của mình. Ở đây không có đúng sai mà là một cách thôi, một cách dễ, có thể hợp với một số người giống tôi, không muốn mất nhiều thời gian cho việc học
Học là đi TìmTìm các câu hỏi trước rồi tìm các các câu trả lời
Đầu tiên hãy là các câu hỏi. Theo Socrates những trí thức quan trọng nhất đã có sẵn trong đầu con người. Những chất vấn, câu hỏi giúp nó bật ra, đóng vai trò bà đỡ.
-Câu hỏi tìm ở đâu, nên chọn những câu hỏi nào?
Ít khi ai cho ta câu hỏi. Ta phải tự học cách đặt cho mình thôi. Thực ra không có câu hỏi sai, chỉ có những câu hỏi lặt vặt như những ngõ ngách sâu, cụt để ta bị lạc, luẩn quẩn. Nên trở về với các đại lộ chính, các quảng trường, không mắc kẹt ở đó. Có một cách chọn khá đơn giản giới hạn ở 3 câu hỏi chính.
What? 
Đó là cái gì, danh từ, tên của nó đối tượng, sẽ sâu hơn nếu biết tên tiếng Anh của nó. Ví dụ nghe từ Pháp Đàm cứ thấy sự lập lờ. Tiếng Anh là Disscusing sẽ dễ hiểu hơn. Nghe từ Duyên cũng vậy. Tiếng Anh là Condition giúp ta hiểu và tư duy tich cực hơn trong trường hợp không có duyên. Có hai cách cho dễ hiểu đối tượng.
-Một là đối chiếu với một sự vật lân cận mà ta đã nắm vững (refference), xem nó giống và khác chỗ nào.
- Hai là xem nó bao gồm những phần nào(decomposition)
How? 
Câu hỏi này về trạng thái của đối tượng. Để trả lời nên tìm sự so sánh, ví dụ so sánh vói một đối tượng khác về tính chất đối lập (dichtomy) nhờ tính từ khác và giống, về hai mức độ khác biệt nhờ các trạng từ nhiều và ít. Chú ý ở đây là nên có phần định lượng (con số) và phần định tính (đánh giá). Điều này cần thiết để phân biệt cái lớn và cái nhỏ. Biết bỏ qua những cái nhỏ, lặt vặt không để nó che lấp cái lớn cũng là điều rất khó nhưng cần thiết trong sự học.
How to use, to do?
Dùng ở đâu. Các bước thực hiện.
Nhận xét: Có 3 điều thì dễ nhớ, như nhịp đếm 1,2,3 như a,b,c như leo lên nhà 3 tầng vậy, đến tầng 3 phải nghỉ, lấy hơi. Thay vì nói các điều cơ bản hãy thử nói 3 điều cơ bản. Sẽ có sự kỳ diệu ở con số  đó, học, nhớ, làm sẽ dễ hơn. Thế giới hinh như đã chuẩn bị sẵn nhưng nhịp 3 như 3 mầu ánh sáng cơ bản, như Thời gian gồm Quá khứ-Hiện tại-Tương lai, Bài văn gồm Mở bài-Thân bài-Kết luận, Bài toán gồm Đầu vào-Đầu ra-Tương tác..Dặn dò ai cũng chỉ nên giới hạn ở 3 điều để họ dễ nhớ. Hay quên như Trình Giảo Kim cũng nhớ được 3 búa, ngu như cô Ngốc mà cũng học được 3 chiêu tát của Hoàng Dược Sư. Với những người đó, 4 là khó, học thêm là quên. Tôi (người viết) cũng vậy mà. 3 cạnh như lưới võng, 3 chân như kiềng, nó thành một miếng cứng vững để dễ xếp vào trong tâm trí chúng ta.
Có thể tạo ra tập 3 đó bằng cách lựa chọn dần kiểu nếu chi được chọn 1 thì chọn gì, nếu được chọn thêm 1, thế là có 2 rồi và sau đó với phần còn lại là có 3. Ví dụ khi học về Cơ Khí cụ thể là Máy móc ta thấy ngay phần chuyển động-Cơ Cấu, rồi phần đỡ-Kết Cấu, rồi phần 3 là nhưng gì còn lại.
Tập 3 cũng chỉ là tương đối. Nhiều người có thói quen khác như người châu Á rất hay dùng tập 4 kiểu Đông, Tây, Nam, Bắc hay Sinh, Lão, Bệnh, Tử....Tuy vậy trong dân gian vẫn hay dùng tập 3 để nói, 3 điều để dễ nhớ như cơm 3 bát, chiếu 3 manh hay trong thơ ca như câu
Nhà em cách 4 quả đồi.
Cách 3 ngọn núi cách 2 cánh rừng

Dễ nhớ quá, có 3 khoảng phải vượt mà số lượng giảm dần 4, 3, 2 khiến câu
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng yêu em

Chỉ còn là câu khích lệ.
Trong trường hợp đối tượng có hơn 4 phần thì chúng ta có thể quy về 3 cộng 1, 3 cộng 2. Ví dụ thay vì nhớ 4 chàng ngự lâm của Alexandre Dumas ta sẽ nhớ 3 chàng ngự lâm và D'Artagnan.
Ví dụ:
- Lên chùa thấy treo 14 điều răn của Phật. Mấy ai thuộc được. Để học có thể có các câu hỏi. Nếu chọn 1 thì chọn câu nào. Nếu thêm 1 thì thêm câu nào... Điều đó buộc chúng ta phải học tích cực với 3 yếu tố tập trung, phân biệt và lựa chọn. Bằng cách đó ít nhất chúng ta cũng thuộc được 3 câu, it nhất cũng thấy sự liên quan giữa các câu và có thể gom lại thành 3 nhóm cho dễ nhớ.
-Có thể thấy trong khoa học các tiên đề thường quy vế 3 như các tiên đề Newton vậy. Các Luật thường chọn 3 Luật cơ bản như 3 bảng Chân lý trong Logic hình thức vậy.
- Người ta hay nói, thơ của nước ngoài hay vì hay triết lý. Thực ra với tôi thơ của họ hay làm bật dậy những câu hỏi chìm ngủ trong lòng tôi. Nhiều khi họ đặt ra câu hỏi trong thơ, nhiều khi đọc thơ của họ thấy dáng dấp các câu hỏi họ đặt ra sau các câu thơ cứ như làm thơ là xếp các câu trả lời cho một vài câu hỏi cho trước rồi dấu các câu hỏi đi, cho vần điệu vào những gì còn lại. Thử xem bài thơ 3 nhịp Quá khứ, Hiện tại, Tương lai của O.Berggolts trong "Bài thơ cuộc đời"
Em nhớ lại chuyện ngày quá khứ
Khúc hát ngây thơ một thời thiếu nữ
Ngôi sao cháy bùng trên sông Nhêva
Và tiếng chim kêu những buổi chiều tà
Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn
Em mới hiểu bây giờ anh có lý
Dù chuyện xong rồi, anh xa cách thế
Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa.
Lớp trẻ lớn lên giờ lại hát theo ta
Lại nhắc lại vị ngọt ngào thuở trước
Vẫn sông Neva chiều tà ánh nước
Nhưng nghĩ cho cùng họ có lỗi đâu anh?
(Bằng Việt dịch)
Cuối cùng học cũng cần viết, ghi chép lại không chỉ trong lòng mà ra giấy. Một thầy giáo Xô Viết của tôi, giáo sư L.I. Steivolf, người Do Thái, có kể cho tôi cách học của ông. Mỗi ngày ông lấy giấy bút viết khoảng 1 trang 3 ý, gì cũng được, không cố chấp về nội dung, chỉ cần đảm bảo về hình thức. Mỗi tháng một lần ông cố gắng dành thời giờ xếp sắp lại các bản viết, những ý cùng nhau sẽ vào cùng một bài viết, có được 3 trang là tốt rồi. Sigmund Freud gọi việc Darwin ghi lại tất cả những gì ông quan sát thấy là "Quy tắc vàng của Darwin".
Học là quan sát, tưởng tượng, thực hiện. Dùng tâm pháp mô phỏng sự vật thực trong không gian tâm thức.
Ví dụ khi chơi bóng, ta hay chọn đứng sau một người chơi giỏi. Xem người đó chơi và nhắm mắt lại, thực hiện lại nhiều lần cuộc chơi đó trong đầu. Cuộc chơi, cách chơi và các động tác sẽ được mã hóa vào tâm thức sau một số hữu hạn lần. Nó sẽ thể hiện ra khi ta chơi thực. Học các môn trình diễn như thể thao, nghệ thuật như đấu kiếm, khiêu vũ, nói trước đám đông có thể dùng thử phương pháp Avantar(sự vật được mã hóa trong không gian tâm thức điều khiển sự vật xảy ra trong không gian thực real world) và sẽ thấy hiệu quả. Nếu ta cứ tập bề ngoài, chỉ có những động tác cử chỉ ở tầng ngoài sẽ mất rất nhiều thời giờ để mã hóa vào tâm thức. Chữa bệnh, luyện cơ bắp thể hình cũng dùng Tâm Pháp kết hợp. Hãy lưu ý: tư duy, hệ thần kinh, tâm ý là nhưng từ khóa khi luyện tập kể cả những hoạt động cơ bắp. Khi đi bộ, cũng như khi tập bài Thái Cực Quyền hãy tập trung tư tưởng theo dõi dòng chảy của tâm ý. Khiêu vũ cũng vậy, hãy nghĩ đến chân trái khi nó nhấc lên, rồi chân phải khi nó đến lượt đầu tiên chậm đã, sau nhanh dần giống như trong võ học bộ pháp đi kèm với khẩu quyết, hòa đồng dòng tâm ý với chuyển động cơ thể, hãy luyện hệ thần kinh điều khiển có ý thức với bộ phận cơ thể trước, nhạc sau.
Nhận xét:Năm 1980 đội Hockey Liên Xô đã vận dụng phương pháp này trước trận đấu với đội Hoa Kỳ và đã thành công. Họ đã soạn một kịch bản cho trận đấu hôm sau và các cầu thủ ngồi nhắm mắt tập trung nghe bác sỹ tâm lý kể nhiều lần về trận đấu ảo đó. Trận đấu có trong đầu các cầu thủ Liên Xô đã xảy ra tương tự trên sân băng hôm sau. Trớ trêu là năm đó, một nghệ sỹ điện ảnh đã được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ, và là tác giả của chiến lược mang tên"Chiến tranh giữa các vì sao"
Trong khoa học quen thuộc phương pháp tư duy virtual gắn liền với tên tuổi Lagrange. Một yếu tốvirtual có 3 tính chất: tưởng tượng, lân cận và liên kết với yếu tố thực được bảo toàn. Trong Thiền Quán (Visualization Meditation) thực chất là con người học và luyện sử dụng không gian tâm thức.
Học theo kiểu này đòi hỏi cao độ sự tập trung tưởng tượng. Hiệu quả phụ thuộc vào sự mãnh liệt của ý niệm và sẽ rất kỳ diệu.
Học khả năng sáng tạo theo 3 bước bắt đầu bằng chữ I
-Imitation : bắt chước, dập khuôn hoàn toàn những cái dễ, đơn giản. Ở đây cần phải có khả năng chấp nhận, tránh thói quen cưỡng lại dựa trên những cái cũ đã có để xung đột với những cái đang học. Những người đã biết nhiều hay mắc kẹt với tư duy chống đối. "Hãy đói và dại khờ hơn một chút"-Steve Jobs). Alexandre Đại đế đã từng bắt chước Achilles và Cesar lại bắt chước Alexandre Đại đế.
-Inovation : sửa, làm mới, thay đổi. Ở đây là khả năng điều chỉnh những cái đã biết, những giải pháp đã có cho phù hợp, hiệu quả hơn. Không nên thay đổi quá nhiều, cần thận trọng, bảo toàn cái cốt lõi.
-Invention : sáng tạo, bắt đầu từ câu hỏi - có thể khác được không. Ở đây cần sự táo bạo, rẽ nhánh, bất ngờ, ngược lại. Ví dụ vỏ khoai Tây phải dùng dao gọt. Liệu có thể không dùng dao mà dùng nhiệt độ nóng nhanh để đốt cháy bong lớp vỏ không? Nhiều khi sáng tạo là sự vận dụng các kinh nghiệm giải quyết vấn đề này cho những vấn đề khác. Biểu hiện của sáng tạo là sự thông minh, dám thay đổi kinh nghiệm và góp phần tạo nên kinh nghiệm.
Học là buông bỏ những cái phụ, nhỏ, nhiễu...
Một thực tế là tâm lý những người đọc sách yên tâm với những quyển sách dầy, những bài viết dài và nhiều khi đọc xong chẳng đọng lại gì cả, không kể lại được (vẫn tấm tắc khen hay, khen sách hấp dẫn). Ở đây không phê phán những quyển sách dầy làm gì. Người viết có lý do của họ kể cả sự lẫn lộn giữa một quyển sách giáo khoa và một cẩm nang tra cứu với qan niệm viết thừa hơn viết thiếu. Để cho dễ học có một cách đơn giản là xóa bớt đi. Buông bỏ được càng nhiều những cái phụ, độn, che mắt thì cái còn lại không bỏ đi được là những cái chinh, là kiến thức cần thu nạp. Nếu tài liệu dưới dạng văn bản có trong máy tính thì thực hiện điều này càng đơn giản, đầu tiên là xóa bớt cho nó ngắn. Xóa tiếp là các từ không phải danh từ, cuối cùng là lưu lại những từ khóa. Dựa trên những từ khóa đó tập hinh dung lại tòan vấn đề.
Có thể luyện tập cách đọc sách theo kiểu lướt, buông bỏ những cái phụ. Hãy đễ quyển sách ở xa mắt và tập xem lướt theo đường chéo từ trên (góc trái) xuống dưới (góc phải). Có thể phải làm ba lần rồi nhắm mắt để trả lời câu hỏi từ nào là chính ở trang. Lưu ý chỉ danh từ. Nếu là tiếng Đức thì càng tiện lợi vì các danh từ đều viết hoa. Đấy là đọc một trang. Sau đó tập dở trang chậm, liên tục và có thể dừng lại ở những trang nào cần nhất. Cuối cùng đọc chậm lại các trang đó. Thay vì thói quen đọc từ tốn từng dòng từng chữ, hãy lướt nhiều lần.
Người ta có nói: cái gì cũng thạo cả thì không thạo cái gì. Chọn cái gì cần thạo, thạo đến mức độ nào, cái nào luyện thành kỹ năng, thói quen, thao tác nhanh, cái nào cần buông bỏ, khi cần đã có cẩm nang, chỉ dẫn, người giúp rồi. Có người vợ thích và giỏi nấu ăn thì anh nên học ăn hơn là học nấu. Còn cẩn thận anh nên ghi chép chụp ảnh một số cách nấu cần thiết phòng khi có một mình phải tự lo bếp núc. Nhiều cái nên tổ chức lưu giữ dưới dạng trong cẩm nang hoặc chỉ dẫn."Ngày đầu sang Liên Xô học, mấy anh em buổi tối ra bếp cùng nấu ăn. Có hai sinh viên người Đức mang đồ nấu, sách, đồng hồ ra bếp. Một cậu ngồi ghế đọc từng thao tác rán trứng theo đồng hồ cho cậu kia thực hành".
Kết Luận
Tất cả những điều viết trên có thể không có ý nghĩa gì với nhiều người. Có người bản thân đã được trời phú cho thiên tư hơn người, có người do luyện tập tâm pháp, tập thiền nên hệ thần kinh đã được luyện tập, khai mở, có khả năng tập trung cao độ rồi và càng không cần thiết đối với những người học với Tình Yêu việc học đó.
---------------------------------------------------------
Bàn Về Tư Duy
Chỉ cá thể đơn lẻ mới có thể tư duy
(A. Einstein)

Mankind, we loved you — be vigilant (Loài người hãy cảnh giác, tôi yêu các người)
(Julius Fučík)

Je pense, donc je suis (Tôi tư duy nên tôi tồn tại)
(Décartes)

Bài nói chuyện ở trường Quốc Tế - Vip Shcool (25-4-2013)
A-----Giới Thiệu------
Chào các bạn!
- Thành thực mà nói tôi không quen lắm khi đến nói chuyện về chủ đề "Tư duy" hôm nay và ở đây, trước những thầy cô, những chuyên gia giáo dục, nhũng kỹ sư tâm hồn. Tôi tốt nghiệp kỹ thuật, làm công việc giảng dạy ở khoa Chế Tạo Máy ĐHBK. Tôi tự tin báo cáo ở những hội nghị khoa học nhiều hơn vì vấn đề chuyên môn hẹp, ít người biết, hỏi đi hỏi lại thì toàn mấy người quen, mấy câu hỏi mang tính kỹ thuật, cứng nhắc. Ở đó các báo cáo có đặc thù chủ yếu là sự kế thừa, nối dài những gì đã được giới chuyên môn chấp nhận từ trước. Vì thế chỉ có hai khả năng rõ rệt: một là hiểu thấu đáo, hiểu cái bên trong (chủ yếu là những đồng nghiệp gần gũi và những người phản biện đã trao đổi tay đôi trước); hai là không hiểu, hay chỉ hiểu lờ mờ cái bên ngoài. Số đông không hiểu ngay từ những thuật ngữ, ký tự, công thức. Còn hôm nay, lại là vấn đề con người, cuộc sống, tư duy, theo tôi hình như ai cũng hiểu cả. Chỉ có điều sẽ hiểu rất khác nhau (thực ra con người chỉ giống nhau ở một điều là chẳng ai giống ai cả). Ngay cả cái thuật ngữ tư duy chắc cũng mỗi người hiểu một kiểu. Hình như nói đến tư duy là ngại, không cần thiết, xu thế bỏ qua tư duy học kỹ năng lên ngôi với một lập luận hiểu làm gì, suy ngẫm làm gì, quan trọng là làm. Đó là một đám đông vội đến nỗi không đi giầy cho đúng cách, cứ mặc kệ cả viên sỏi trong giầy và ... đi. Bỏ qua tư duy ta đã bỏ qua cái quý nhất mà tạo hóa ban cho con người đó. Vậy tư duy là gì.
Đầu tiên có thể hiểu đơn giản Tư duy là suy ngẫm, lựa chọn. Ví dụ bạn cần làm một bài thơ. Để có thể làm được bài thơ diễn tả ý thơ đó, bạn phải lựa chọn thể loại, chọn lựa cấu trúc, chọn cách gieo vần, nghĩa là mất thời gian để suy nghĩ, tìm tòi. Có nghĩa là bạn tư duy. Những nhà học thuật còn chia nhỏ ra như tư duy Logic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoa học, tư duy triết học v.v...Thực ra tư duy chỉ có một, là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi con người. Khi đã làm nhiều lần, thành thói quen thì không cần tư duy nữa, nghĩa là tư duy định hướng đã dẫn đến sự thành thục. Khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc. Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc.
Trở lại về suy nghĩ của mọi người khác nhau thì để cho đơn giản tôi có thể hình dung ba nhóm :
Nhóm một sẽ thấy những điều tôi nói là rất đáng ghi ngờ, không đâu vào đâu. Tuy nhiên những cái không đâu vào đâu đó cũng không lớn lắm và ... thôi bỏ qua nhé.
Nhóm hai thấy chẳng có gì mới lạ, người ta nói chán rồi, thậm chí sách viết còn dầy cộp, đủ hết cơ.
Nhóm thứ ba, nhóm cuối thì phân vân, thấy có cái khác và khác thì là sai. Con người quen nói về cái một cái gì khác là" Sai Khác" chứ có nói "Đúng Khác" bao giờ đâu. Với những người ở nhóm này tôi muốn nhắc đến câu nói của Bernard Shaw "Anh có một quả táo, tôi có một quả táo. Đổi cho nhau mỗi người có một quả táo. Nhưng anh có một ý tưởng, tôi có một ý tưởng. Đổi cho nhau mỗi người có hai ý tưởng (tất nhiên nếu nó khác nhau)". Nhưng chấp nhận ngay cái khác thì cũng thật là không nên vội. Ngay cái giống cũng cẩn thận, đừng như cô gái Lọ Lem ăn táo độc xưa. Cần chậm lại. Chỉ cần ghi nhận cái khác thôi. Đến đây chúng ta có thể có được bài học.
Bài học thứ nhất: Ghi nhận - Tư duy - Chấp nhận.
Decart có nói :" Tôi tồn tại vì tôi tư duy và mọi thứ là sự ghi ngờ, chỉ có một cái nằm ngoài sự ghi ngờ đó chinh là sự ghi ngờ". Ghi ngờ không có nghĩa là phủ nhận. Cái khác đó có thể ghi ngờ nhưng hãy ghi nhận. Không phải chốc lát có thể nhận thức được ngay.
"Mankind, we loved you — be vigilant (Loài người hãy cảnh giác, tôi yêu các người)" - Julius Fučík đã viết dưới giá treo cổ. Đó là quyển sách làm tôi xúc động nhất. Con người thuộc động vật có vú, nghĩa là đẻ rất ít, nuôi con, dạy cho con những khả năng tồn tại, sống sót trong cái thế giới bất định bắt đầu từ sự nhận biết các nguy hiểm, sự ghi ngờ, đề phòng. Ngay Đức Phật cũng dạy bảy điều không nên tin, không những không nên tin lời của những người có quyền uy mà không nên tin ngay cả lời của những đạo sư nói. Không nên tin chứ không phải là không nghe, không ghi nhận. Phải tự chịu trách nhiệm về lòng tin của mình, cần đến tư duy.
Tôi vừa nói đến Bernard Shaw. Tôi cũng xin nhắc lại câu nói của Steve Job "Hãy đói và dại khờ một chút". Tôi hiểu điều đó theo nghĩa là luôn phải dọn dẹp vứt bớt (đào thải) những cái trong đầu đi, làm rỗng nó thì mới có thể tiếp thu được cái mới. Càng ngày càng lắm cái mới, sản phẩm mới hữu hình và vô hình cứ sinh ra đầy ắp mà đầu con người có hạn. Và không chỉ để chất các thông tin vào đầu. Các thông tin cần được truyền đi thông thoáng. Và chúng ta có được bài học tiếp.
Bài học thứ hai: Đào thải - Kết nhập - Sắp xếp
Loại bỏ, quét dọn những thông tin rác, vô ích, vụn vặt là điều cần thiết. Không chỉ thế những cặp thông tin có tính đối lập, có thể từ cái nọ suy ra cái kia thì có thể loại đi một nửa, kiểu như nhà mặt phố thì đắt có thể suy ra (loại đi) không ở mặt phố thì không đắt.
Nhiều thông tin kéo theo có thể kết nhập vào một, ví dụ như thích nhiều tiền và thích cái điện thoại đẹp. Có cái trước tất nhiên sẽ có cái sau. Nhanh nhiều tốt rẻ thực chất có liên quan đến nhau. Nhanh nhiều rẻ có thể kết nhập với nhau, còn tốt lại là yếu tố độc lập. Điều răn thứ bẩy và thứ tám của Phật cũng vậy. Điều bẩy về đáng thương nhất của con người sẽ cho điều tám đối lập về đáng khâm phục nhất.
Tất nhiên việc loại bỏ đi còn có yếu tố tâm lý tiếc rẻ. Ngoài ra cũng cần phải ra soát cẩn thận trước khi loại bỏ. Tôi còn nhớ một lần trên TV đưa ý kiến của một số học sinh và giáo viên là bỏ định luật một Newton "một chất điểm cô lập thì đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều" như là trường hợp riêng khi lực bằng không trong định luật hai. Nhưng thực ra không có định luật một thì không có khái niệm về lực để có định luật hai. Cần phải hiểu "khi nói chất điểm cô lập chúng ta đồng thời thừa nhận có chất điểm không cô lập (chịu tác động được gọi là lực)".
Như vậy nhờ tư duy thông tin trong đầu chúng ta mạch lạc, thoáng đáng hơn. Riêng về sắp xếp thì tiện nhất theo các tập 3 cho vững. Chúng ta có bài học tiếp.
Bài học thứ ba: Khái quát hóa để quy mọi thứ về các cụm ba.
Có 3 điều thì dễ nhớ, như nhịp đếm 1,2,3 như a,b,c như leo lên nhà 3 tầng vậy, đến tầng 3 phải nghi, lấy hơi. Thay vì nói các điều cơ bản hãy thử nói 3 điều cơ bản. Sẽ có sự kỳ diệu ở con số đó, học, nhớ, làm sẽ dễ hơn. Thế giới hinh như đã chuẩn bị sẵn nhưng nhịp 3 như 3 mầu ánh sáng cơ bản, như Thời gian gồm Quá khứ-Hiện tại-Tương lai. Bài văn gồm Mở bài-Thân bài-Kết luận, Bài toán gồm Đầu vào-Đầu ra-Tương tác..Dặn dò ai cũng chỉ nên giới hạn ở 3 điều để họ dễ nhớ. Hay quên như Trình Giảo Kim cũng nhớ được 3 búa, ngu như cô Ngốc mà cũng học được 3 chiêu tát của Hoàng Dược Sư. Với những người đó, 4 là khó, học thêm là quên. Tôi (người viết) cũng vậy mà. 3 cạnh như lưới võng, 3 chân như kiềng, nó thành một miếng cứng vững để dễ xếp vào trong tâm trí chúng ta. Quan niệm có màu sắc tâm linh của Platon cũng sắp xếp con người theo ba phần từ thấp lên cao: thể chất (ham muốn), sự sáng tạo (say mê), trí tuệ (tư duy).
Một thực tế là các chuyên gia, các nhà nghiên cứu luôn có thói quen chia nhỏ, không bỏ sót từng ngõ ngách. Chúng ta làm sao một lần nhớ hết các ngõ ngách như người hướng dẫn du lịch được. Đấy là công việc hàng ngày của anh ta. Cũng như tôi không thể nhớ hết các tiêu chí đánh giá một trường Đại Học được. Với tôi chỉ có ba điểm: Số lượng các giáo sư, tiến sỹ, những nhà phát minh ( có nhiều người giỏi tự nhiên sẽ có đầu tư)- Số sinh viên sau một năm xin được việc - Số sinh viên thành đạt (lương, vị trí cao) sau năm năm. Hình như cứ càng chia nhỏ, càng nhiều thì càng có cảm giác yên tâm về kiến thức hay sao. Ngay các loại hình thông minh cũng vậy, họ chia người đến bảy, người đến mười, càng thông minh càng thấy rối. Tôi nghĩ đến ba: IQ, EQ và Còn Lại. Quan trọng là sự hồn nhiên, cái hồn của tự nhiên, nó gần gũi với con người. Đó là Tinh-Khí-Thần. Phần Tinh là những thứ ta thu nạp vào, ghi nhận. Phần Khí là những dòng chảy hòa nối chúng lại. Phần Thần là nó hòa, kết tinh vào ta rồi.
Có thể tạo ra tập 3 đó bằng cách lựa chọn dần kiểu nếu chỉ được chọn 1 thì chọn gì, nếu được chọn thêm 1, thế là có 2 rồi và sau đó với phần còn lại là có 3. Ví dụ khi học về Cơ Khí cụ thể là Máy móc ta thấy ngay phần chuyển động-Cơ Cấu, rồi phần đỡ-Kết Cấu, rồi phần 3 là nhưng gì còn lại. Ngoài hiệu sách có bán quyển sách "21 chìa khóa thành công trong kinh doanh". Nhiều quá. Theo tôi chìa khóa Nghệ thuật nên để riêng ra và có thể hiểu theo ý " 20 + 1". Sau đó ta chia nốt 20 còn lại thành hai (hay thành một + còn lại).
Vào những thế kỷ trước bên Anh người ta bắt đầu nhảy Valse và bị chống đối kịch liệt, chủ yếu không phải do các quan niệm phong kiến cho là điệu nhảy không đứng đắn mà là từ phía các vũ sư vì nhịp 3 của Valse xình chát chát chao, quay, lướt sẽ rất ít bước, phải tự luyện đồng nghĩa với việc vũ sư sẽ không làm khó được để kiếm tiền. Họ quen đếm các bước dạy tính tiền, tránh dạy cách nhảy, cách hiểu cũng như trong các trường dạy làm từng bài toán cho nhanh chứ không dạy cách làm toán. Cần tư duy để học một bước dùng trong nhiều điệu nhảy, học cách tư duy giải toán để giải được nhiều bài khác nhau, học tư duy khái quát.
Tiếc thay con người có thói quen sống mượn, tư duy cũng vậy. Cách khái quát quen thuộc được lấy làm chỗ dựa cho tư duy chỉ là mọi người nghĩ như vậy, cho và làm như vậy. Mọi người nào? Câu trả lời đơn giản là đám đông. Tất nhiên đám đông có sức mạnh vô địch là sự lây nhiễm nhưng nó trì độn về tư duy và cảm xúc, nó chỉ quen chịu tác động bởi hình ảnh và ví dụ (đó cũng chính là cơ hội cho những người hoạt động kinh doanh đa cấp).
Gần gũi với con người đôi khi còn là các giai điệu, những bài thơ, những đặc thù của ngôn ngữ. Với người biết tiếng Anh có một một công thức học 5W1H được cho là có nguồn gốc từ bài thơ “The Elephant's Child” của Rudyard Kipling.
I have six honest serving-men
They taught me all I knew
Their names are What and Where and When
And How and Why and Who.
Tạm dịch:
Tôi có 6 chú hầu trung thực
Dạy cho tôi mọi thứ đủ điều
Tên của họ là What, Where, When, chưa hết
Còn cả Why, Who nữa và How.
B-----Tư duy mềm -----
Tư duy mềm là Tư duy khoa học, cơ sở cho Phương pháp tính toán mềm được phát triển trong những năm gần đây. Cần phân biệt với Kỹ năng mềm thực chất là Kỹ năng sống và hay được hiểu theo cái bề ngoài, phần nhiều lại là đi với bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy. Nếu kỹ năng sống được xây dựng trên cơ sở tư duy mềm thì hay biết mấy. Nhưng điều đó ra ngoài khuôn khổ của của chủ đề hôm nay.
Thực Tế là Một lẫn lộn và đan xen (Fuzzy)
Nếu có ai hỏi tôi rằng khi phải chọn một trong ba đam mê : Khoa học, Nghệ Thuật và Thi Ca thì câu trả lời ba thứ ấy không bóc tách ra được. Chúng đan xen vào nhau, là những khái niệm, những tập fuzzy (tiếng Việt tạm dịch là mờ theo nghĩa là không bóc tách được rõ ràng), riêng rẽ chúng rất chông chênh. Tôi thuộc cả về ba tập ấy. Tất nhiên không chỉ có ba đam mê đó, còn có những đam mê khác cũng sở hữu tôi nhưng ở mức độ ít hơn và có thể bỏ qua.
Nhận Thức dù Tương Đối cũng cần đến sự bóc tách Một thành Hai
Như vậy mọi sự bóc tách tuyệt đối phần nào ra phần ấy thực chất là rất khó hay là không thể. Nhưng đó lại là điều cần thiết, dù là tương đối, dù phải nhắm mắt, phải bỏ qua để có được hai cái gọi là riêng biệt ban đầu. Nhận Thức cần hai cái đó như đôi cánh để bay, như con bướm bay về nơi ánh sáng ấy với mong muốn từ đó nhìn thấu suốt mọi sự vật. Muốn bay cao để nhìn, để thấy cả bức tranh toàn thể mênh mông.
Có Một mới trả lời câu hỏi Cái Gì (What). Mới có cái ban đầu, cái tồn tại.
Có Hai mới có phép so sánh tương đối, mới có sự khác biệt, mới có thông tin vì đơn vị thông tin E~ logarit cơ số 2 của n. Chỉ có một trạng thái, không có gì đối chiếu, n=1, E= 0, thế đấy. Chỉ khi n=2 mới có được một đơn vị thông tin, một bit.
Để có Hai, để so sánh, đối chiếu, để trả lời câu hỏi Thế Nào (How) có 3 cách:
-Dễ nhất là mượn cái bên ngoài để so sánh. Có thể gọi đó là cách Ta-Người.
-Nếu chẳng có Ai cả, thì đành so sánh chính Ta ở những thời điểm (hoặc địa điểm) khác nhau. Có thể gọi đó là cách Ta-Ta.
-Cách thứ ba là dùng Phép Tách Đôi (dichtomy) phụ thuộc vào con người muốn gì. Có thể tách riêng biệt Thế Giới ra hai phần Vật Chất và Tinh Thần, có thể bóc tách Sự Vật ra Hình Thức và Nội Dung, ra Sắc và Không, Âm và Dương, Đầu Vào và Đầu Ra, tách con người ra hồn và phách... tuỳ ta. Hai câu hỏi lại đặt ra ở đây cho hai phần được bóc tách đó:
Cái gì có trước, cái gì có sau.

Tương tác giữa hai cái đó.

Câu hỏi đầu tiên cũng tuỳ sự lựa chọn của con người. Thường người ta cho rằng Nhân trước Quả sau, không sao cả và có thể giải thích được một số hiện tượng. Nhưng nếu coi Quả trước Nhân sau (bài toán ngược) thậm chí Nhân là Quả hay Sắc là Không cũng là những quan niệm, những lựa chọn khác nhau của con người trong cái thế giới kỳ diệu này. Điều kỳ diệu trong sự bí ẩn. Bí ẩn trong sự bất định.
Câu hỏi thứ hai mới là điều quý giá cho Khoa Học và có ý nghĩa vói con người. Mức ý nghĩa đó là lớn nhưng không tuyệt đối vì như đã viết ở trên "Phép Tách Đôi (dichtomy) phụ thuộc vào con người muốn gì " mà ý của con người đâu có hoàn toàn giống nhau. Cũng may, nếu giống hệt nhau, cùng chung một rọ, chết là chết hết.

Sự bơ vơ hụt hẫng của Tư Duy Cứng

Trong "Chiến Tranh và Hoà Bình" L. Tolstoi đã cho nhân vật Bolconski bộc lộ ý muốn của minh, thực chất chỉ là ước mơ, luôn chỉ là ước mơ. Ước mơ bóc tách thế giới của mình thành hai phần đen trắng không lẫn lộn và trong phần trắng tinh khiết đó có Tình Yêu, có Natasa. Chắc lúc đó ông đã không để tâm tới hinh Thái Cực Âm Dương. Trong phần Dương thịnh (màu trắng) đã có chấm đen xen vào. Phần âm cũng vậy, chấm trắng bộc lộ ra đúng lúc không ngờ khi phần Âm đang thịnh lên, đang đắc thắng. Bi kịch của Andrej Bolkonski là vậy, không chấp nhận cái thực tế đan xen, không chấp nhận người mình yêu đã có lúc nhẹ dạ, không biết tha thứ. Bi kịch của hoàng tử Hamlet tưởng là khác nhưng suy đến cùng cũng là Tư Duy thì lại không Hành Động và ngược lại khi Hành Động lại không cần đến Tư Duy.
Cũng có hai ước mơ nữa của hai con người vĩ đại, hai bác học và ... cũng chi là ước mơ.
Heisenberg vói ước mơ về Trường Thống Nhất trong Vật Lý. Cố gắng bằng phép bóc tách để đi ngược lại tìm cái ban đầu ông lại bị chặn đứng ở cái nguyên lý bất định mang tên ông. Hoá ra cái có được là ở bên trong, ở Diện Tích hình tròn, cái không có được lại là Chu Vi. Một nghịch lý đời thường "càng nhiều càng thấy thiếu"
Còn thiên tài Hilbert thì bị phá sản với chương trinh Toán học mang tên ông. Hai định lý mang tên Godel và nghịch lý của Rutsel nữa đã làm số phận Toán Học cũng bơ vơ như Vật Lý vậy.
Hãy còn một người, một Thiên Tài, một vị Thánh - Einstein. Nhưng ông ta không có tham vọng rõ rệt như hai ông trên, đơn giản như câu nói của ông "Đã gặp Thượng Đế và Ngài thich chơi gieo súc sắc".
Trong cái bơ vơ đó hãy còn một chỗ tựa. "Quay đầu là bờ"- Đức Phật nói.
Con người quay lại tìm trong chính mình, trong sự sống - tựa vào Thuyết Tiến Hóa Của Sự Sống của Darwin, coi mọi đối tượng trong thế giới này như những sự sống, không có cái gì vô tri vô giác, cây cỏ, núi sông, cát bụi, và cả dải ngân hà, đâu cũng là sự sống, sinh ra, phát triển, chết đi. Hãy thử nghe chàng chăn cừu trên núi của Anfonse Dode kể về các vì sao :” Ngôi sao đẹp nhất trong các vì sao, là Ngôi sao của những người chăn cừu, nó mê chàng Thổ Tinh, và cứ bảy năm lại làm đám cưới với chàng một lần “.
Sự Sống gần nhất, quen thuộc nhất với con người chính là con người với bốn bảo vật tạo hóa ban cho là ngôn ngữ suy luận, sự sinh sản, bộ não và những ước muốn chủ quan. Ra đời Phương Pháp Tư Duy và Tính Toán Mềm với bốn phần : Logic Fuzzy (mờ) - Lập Trình Tiến Hóa - Mạng Neuron - Tối Ưu Đa Mục Tiêu.
Như vậy để nhận biết được Tư duy mềm chúng ta lưu ý đến các đặc điểm củả nó:
- Thay vì khẳng định một điều sẽ là đưa ra những khả năng về điều đó (thường là 3). Luôn duy trì một sự kết nối trên cơ sở tương đối hóa, có phần chung với đối tượng cần kết nối. Lùi ra xa, nhìn sự vật lờ mờ, lung linh một chút (với con người hãy biết yêu, thông cảm một chút theo cách của người đó. Có thể coi yêu thương là mô liên kết mọi vạn vật trong vũ trụ). Tránh những giải pháp đột ngột. Có thể làm mềm, vát đi vòng đến đich.
-Luôn làm mới mọi việc, làm mới tư duy, các lập luận
-Để ý các nút xử lý thông tin, các trọng số điều chinh
-Luôn dùng phép kết nhập để có hai mục tiêu A, B đối ngược và sự dụng giải pháp nhượng bộ để kết nối hai mục tiêu đó vào một C nhờ hai trọng số a,b có thể điều chỉnh được C = aB + bB. Chú ý giải pháp chọn phải dễ thực hiện và bền vững.
Có thể theo tư duy mềm mọi quá trinh sẽ chậm lại. Nhưng không sao. Sau nhiều lần tư duy sẽ có kỹ năng, sẽ nhanh.
C-----Click xem Video trình chiếu về------
Tư duy vầ tính toán mềm: http://youtu.be/sMA71LQykkU
Logic Mờ(Fuzzy)
Để hiểu về Logic mờ chúng ta nhắc lại một chút Logic nhị phân của Aristotle cho rằng thế giới tạo bởi các cặp đối nghịch, thí dụ nam-nữ, nóng-lạnh, khô-ướt. Mọi thứ hoặc là A hoặc là không-A, không thể cả hai.
Nhưng đó chỉ là một cách nhìn thế giới này của khoa học thôi. Còn có những cách nhìn khác, ví dụ theo thuyết âm dương của Phương Đông thì hình tròn thể hiện sự toàn vẹn của sự vật, trời đất; mỗi sự vật hiện tượng đều có hai mặt âm và dương đối lập nhau, cùng tồn tại, mặt này thịnh thì mặt kia suy (phần âm to ra thì phần dương nhỏ đi và ngược lại); dấu trắng trong phần đen và dấu đen trong phần trắng thể hiện trong âm có dương, trong dương có âm; dấu đen trong đầu to của phần trắng thể hiện khi dương cực thịnh thì chính là lúc trong lòng nó xuất hiện âm (và ngược lại).
Logic nhị phân Aristotle và lý thuyết tập hợp của Cantor trở thành nền tảng của khoa học. Cuối thế kỷ 19, khi một nhà toán học người Anh, Russell, phát hiện ra một nghịch lý của Logic nhị phân mang tên ông và cái nề tảng đó bị lung lay. . .
Trước hết chúng ta phân biệt hai loại tập: tập chứa chính nó và tập không chứa chính nó.
Xét thí dụ: một quả lê thuộc tập các quả lê, nhưng tập các quả lê không thuộc về tập các quả lê do bản thân nó không phải là một quả lê! Nghĩa là tập các quả lê không phải là một thành viên của chính nó. Như vậy nếu nó là một thành viên của chính nó, thì không thoả mãn định nghĩa. Mặt khác, nếu nó không phải là thành viên của chính nó, thì theo định nghĩa về tập đó, thì nó lại thoả mãn và như vậy nó là thành viên của chính nó!
Vì vậy khi tìm ra nghịch lý này, Russell ngẫu nhiên chứng minh rằng Logic nhị phân, mà ông nghĩ là cơ sở của toán học, không thể tự chứng minh nó. Tất nhiên ngày nay, chúng ta biết nghịch lý của Russell không phải là một trường hợp không giải được, nếu dùng Logic mờ thì ta có câu trả lời ngay. Tuy nhiên, Russell không hề biết gì về Logic mờ và đã thất vọng với toán học. Ông từ bỏ toán học, rồi năm 1970 đoạt giải Nobel văn học, cho thấy không thể tách biệt văn và tóan hoàn toàn.
Năm 1964, Zadeh đưa ra khái niệm tập mờ và Logic mờ và khái quát hóa Logic nhị phân Aristotle và lý thuyết tập hợp của Cantor. Phải mất một thời gian dài Logic mờ mới được chấp nhận, mặc dù ngay từ đầu một số người đã rất quan tâm. Bên cạnh các kỹ sư, những nhà triết học, tâm lý học và xã hội học nhanh chóng áp dụng Logic mờ vào ngành khoa học của mình. Đầu tiên là ở Nhật Bản, do tôn giáo ở Nhật thừa nhận rằng mọi thứ có thể bao dung, chứa phần đối lập của chính nó.
Thực ra bản chất thế giới này là sự bất định với các yếu tố ngẫu nhiên, không chắc chắn, không đầy đủ thông tin. Logic mờ cho chúng ta cái nhìn mềm mại, bao dung hơn, chấp nhận những ý thức chủ quan của con người, ví dụ hôm nay nhiệt độ là 18 độ C. Ta có thể coi nó có một chút Lạnh, phần lớn là Vừa và có Nóng thì không đáng kể. Tất nhiên là không có Rất Nóng rồi. Và hàm thành viên dùng trong Logic mờ để tạo ra những trọng số định lượng từ 0 đến 1 cho thấy nhiệt độ 18 độ thuộc các tập mờ “ Lạnh, Vừa, Nóng, Rất Nóng “ là bao nhiêu. Với người xứ lạnh họ có thể chấp nhận “0.2, 0. 9, 0.05, 0“. Người xứ nóng thì quen với nóng hơn sẽ thich hợp “0.8, 0. 3, 0.01, 0“
Logic mờ được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực tính toán, điều khiển. Có thể coi chất lượng đầu ra của hệ thống phụ thuộc các thông số đầu vào. Những đại lượng rõ ở đầu vào cần được mờ hóa (phân hoạch tập mờ) sau đó cần có các luật suy luận mờ để có các giá trị mờ ở đầu ra rồi bằng phép kết nhập và rõ hóa ta có giá trị rõ ở đầu ra.
Thuyết Tiến Hóa Và Giải Thuật Di Truyền(GA)
Tư duy mềm luôn đi kèm với các khả năng và sự lựa chọn của con người theo tiêu chí họ đề ra. Chúng ta quen nói về điều đó như là sự tìm kiếm giải pháp tối ưu.
"Nhưng người ta không thể lựa chọn từ cái không có - Aristotle". và nếu có một thì cũng không có chuyện lựa chọn.

Phương pháp truyền thống là lấy một giải pháp khả thi (một cá thể), dựa vào đó chọn giải pháp mới tốt hơn thay thế rồi lại dựa vào nó để chọn tiếp. Phương pháp này có cái dở là có thể bị mắc kẹt ở cái tốt (cực trị) địa phương. Tránh sự mắc kẹt đó cần đến yếu tố ngẫu nhiên. Dựa theo Thuyết Tiến Hóa của Darwin người ta đưa ra Thuật giải di truyền mô phỏng các hiện tượng tự nhiên của sự sống: kế thừa và đấu tranh sinh tồn (đào thải) của một quần thể các cá thể theo một nguyên lý của tự nhiên (không chứng minh) là quần thể sau sẽ "tốt-tiến hóa" hơn quần thể trước.
Thực ra giải thuật di truyền (GA) thuộc lớp các giải thuật xác suất nhưng lại rất khác với các giải thuật ngẫu nhiên vì chúng kết hợp hai yếu tố ý thức và ngẫu nhiên. Khác biệt quan trọng nữa giữa tìm kiếm của GA và các phương pháp tìm kiếm khác là GA duy trì và xử lý một tập hợp các lời giải (một quần thể) - tất cả những phương pháp khác chỉ xử lý một điểm trong không gian tìm kiếm. GA thực hiện tiến trình tìm kiếm lời giải tối ưu theo nhiều hướng, bằng cách duy trì một quần thể đủ lớn các lời giải, thúc đẩy sự hình thành và trao đổi thông tin giữa các hướng này. Quần thể trải qua quá trình tiến hoá: ở mỗi thế hệ lại tái sinh các lời giải tương đối "tốt-thích nghi", trong khi các lời giải tương đối "xấu-kém thích nghi" thì chết đi. Để phân biệt các lời giải khác nhau, hàm mục tiêu được dùng để đóng vai trò môi trường.
Các cá thể mới sinh ra trong quá trình tiến hoá nhờ sự lai ghép ở thế hệ bố mẹ. Một cá thể mới có thể mang những tính chất của cha mẹ (di truyền) cũng có thể mang những tính chất hoàn toàn mới (đột biến). Di truyền và đột biến là hai cơ chế có vai trò quan trọng như nhau trong quá trình tiến hoá dù rằng đột biến có xác suất xảy ra nhỏ hơn nhiều so với di truyền. Các thuật toán tiến hoá, tuy có những điểm khác biệt nhưng đều mô phỏng bốn quá trình cơ bản: lai ghép, đột biến, sinh sản và chọn lọc (đào thải) tự nhiên. Đào thải những cá thể xấu là yếu tố Tất Định, là Ý Thức. Còn lai ghép, đột biến, sinh sản cần là yếu tố ngẫu nhiên để tránh mắc kẹt trong cái "Tốt" địa phương.
Điểm yếu của GA là quá trinh tiến hóa diễn ra chậm chạp. Để có yếu tố tác động nhanh người ta có thể tạo ra nhiều quần thể tranh chấp, hay yếu tố tương tác, chia sẻ thông tin trong một quần thể như trong giải thuật bầy đàn.
Cuối cùng là kích thước quần thể (số lượng cá thể trong quần thể) là không đổi. Việc tăng số lượng có thể ảnh hưởng đến chất lượng quần thể.
Các bước thực hiện GA khá đơn giản. Ví dụ ta cần tìm nghiệm f(x) = 0. Chuyển sang bài toán tối ưu với hàm mục tiêu g = abs[ f(x) ] = min để đo và loại bỏ những cá thể xấu (lớn). Tạo quần thể 10 cá thể bằng cách lấy ngẫu nhiên 10 số. Đo g của chúng, bỏ đi 4 cái xấu (lớn nhất), 6 số còn lại cho lai ghép ngẫu nhiên để khôi phục kích thước quần thể nghĩa là tạo quần thể mới. Thường người ta hay mô phỏng sự lai ghép của nhiễm sắc thể là dải băng chứa các thông tin 0 và 1.
Mạng Neural
theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mạng Neural Nhân tạo là một mô hình toán học hay mô hình tính toán được xây dựng dựa trên cách thức họt động của các Mạng Neural Sinh học. Nó gồm có một nhóm các Neural nhân tạo (nút) nối với nhau, và xử lý thông tin bằng cách truyền theo các kết nối và tính giá trị mới tại các nút (cách tiếp cận connectionism đối với tính toán). Trong nhiều trường hợp, Mạng Neural Nhân tạo là một hệ thống thích ứng (adaptive system) tự thay đổi cấu trúc của mình dựa trên các thông tin bên ngoài hay bên trong chảy qua mạng trong quá trình học.
Trong thực tế sử dụng, nhiều Mạng Neurallà các công cụ mô hình hóa dữ liệu thống kê phi tuyến. Chúng có thể được dùng để mô hình hóa các mối quan hệ phức tạp giữa dữ liệu vào và kết quả hoặc để tìm kiếm các dạng/mẫu trong dữ liệu.
Có cách nhìn chung về điều khiển mờ và Mạng Neural theo ba phần: Đầu vào-Hộp đen-Đầu ra (Input-Black Box-Output). Với mô hình mờ Mandani những số liệu đầu vào (rõ) sẽ được mờ hóa (những đánh giá định tính và mức độ của nó thông qua hàm thành viên) để nạp vào bộ máy lập luận mờ (những luật If - Then). Bộ máy lập luận mờ hoạt động cho những thông số mờ ở đầu ra để rồi được rõ hóa ra những số liệu (rõ). Với mô hình mở Sugeno bộ máy lập luận mờ chọn đầu theo các dạng hàm số với các hệ số bất định. Mạng Neural trong trường hợp cấu trúc được làm cứng (chọn và không thay đổi) các trọng số truyền thông tin đến các nút có thể coi là những hệ số bất định, được xác định dần để các thông số đầu ra khớp dần với thực tế theo công thức bình phương tối thiểu.
Về Mạng Neural cần chú ý các vấn đề sau đây
1. Cấu trúc mạng ( Truyền thẳng, phản hồi,tự tổ chức, nhiều lớp, số nút, trọng số...)- CỨNG
2. Hàm kích hoạt ( Sigmoi,RBF... ) NỐI GIỮA CỨNG VÀ MỀM
3. Thuật học hay Luyện mạng( Perceptron,thích nghi,Delta... ).. MỀM
Mạng Neural chủ yếu dùng để xấp xỉ hộp đen
Giải quyết bài toán này chỉ là phép CHỌN 1 2 3 ở trên là HẾT
Giỏi hơn nữa nếu tạo ra 1 2 3 mới cho bài toán cần giải quyết ( KHÓ LẮM )
Khó nhất là vấn đề MÔ PHỎNG BÀI TOÁN CẦN GIẢI QUYẾT TRÊN MẠNG NHƯ THẾ NÀO
Tư duy mềm dùng Mạng Neural yếu hơn dùng Fuzzy Logic
Tư duy cứng dùng Fuzzy Logic yếu hơn dùng mạng Neuron
Tối Ưu Đa Mục Tiêu
Có nhiều mục tiêu là phức tạp. Thực tế là nên quy về đơn giản, hai thôi. Và với hai mục tiêu đó chúng ta sẽ nghiên cứu sự tranh chấp của hai mục tiêu A và B theo kiểu được cái này hơn phải hy sinh chút cái kia. Chúng ta có hai giải pháp cực biên khi chỉ xét một mục tiêu A hoặc B. Các giải pháp thỏa hiệp C = kA + (1 - k)B sẽ là tập giải pháp tối ưu Paretto với trọng số k (hệ số quan trọng).
Kỹ Năng
Tư duy là suy ngẫm, đắn đo, ghi ngờ ... , nói chung là lâu, nhưng nó xác định được cái đich của hành động, hình dung ra kết quả. Một kỹ năng là khả năng học được để thực hiện kết quả xác định trước thường với kinh phí tối thiểu thời gian, năng lượng, hoặc cả hai. Nói cách khác đó là khả năng
đến được kết quả nhanh.
Để có được kỹ năng về một lĩnh vực nào đó, học, hiểu không đủ mà phải luyện tập nhiều lần cho thuần thục, nói chung là thành thợ thực thụ trong lĩnh vực ấy.
(còn nữa)
----------------------------------------------------
Ví dụ về học
- Khi Robinson bị đắm tàu, được sóng dạt lên hoang đào. Tỉnh dậy việc đầu tiên là ghi chép, lấy dao khắc vào cây ngày đó và những thông tin về mình.
- Chuyện kể về ông Edison đánh rơi 1 USD vàng. Ông ấy cho rằng nếu nói một số người : vợ, một nhà kinh tế, một nhà vật lý, một nhà toán học, một nhà sử học và một nhà văn thì người tìm ra đồng xu đó nhanh nhất chỉ là vợ ông bằng thói quen quét dọn nhà và giặt các quần áo có túi của ông ta. Còn ông vật lý sẽ nghĩ chế tạo cái máy dò vàng, ông kinh tế nghĩ xem nếu đồng tiền đó không tham gia vào vòng quay tài chính thì kinh tế Hoa Kỹ bị ảnh hưởng ra sao. Ông toán thì tính sác xuất và khả năng tìm thấy, ông sử thì ghi chép sự kiện đó, còn nhà văn sẽ sáng tác truyện về đồng tiền đó, có thể theo kiểu kinh dị vì mọi người đang thich xem phim kinh dị.
- Một đoạn trích trong "Bức Tranh Thơ"- tranductrung abc. blogtiengviet.net
Tôi đi trăm núi ngàn sông
Có tìm thấy lá diêu bông bao giờ.
Diêu Bông ơi, thật ra nhờ có cái ảo mộng có Em đó mà ta đi được trăm núi ngàn sông, và đó không thể gọi là ta đã sống vô nghĩa. Trên con đường đi, trong mỗi bước chân, trong mỗi lần vấp ngã, trong mỗi lần đứng dậy ta lại hiểu ra ta hơn, mỗi lần ta lại tìm thấy một chút Ta. Ta ngã rồi, đau quá, không chết, ta đứng dậy được rồi. Đứng thẳng lên. Ta làm được rồi. Ta lại đi rồi, lại ngẩng đầu lên, bướng bỉnh tìm kiếm, không lom khom. Đó mới là điều cần nhất. Ta vẫn không hết ngạc nhiên về mình.
Hóa ra cái hành trình không ngờ tới lại là hành trình vào chính mình. Ta như con sâu bò vậy. Hồi còn sinh viên cô giáo dạy tiếng Nga đã nói về hai lọai sâu và chiếc lá cải. Phần đông là sâu bò lên ăn, càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng tốt, ăn không hề hỏi, đấu tranh sinh tồn mà, giành giật, không bỏ lỡ cơ hội như giới kinh doanh bây giờ thường nói. Sâu ăn rồi có thể thành sâu to, rất to, siêu sâu, nhưng ... mãi là sâu. Có những con khác lại vừa bò lại vừa hỏi về chíếc lá cải, về sâu, về các cái chân để bò. Tôi buột miệng hỏi cô giáo: ” Irina Ananhevna, thế cô là lọai sâu nào ”. Hỏi xong tôi thấy ân hận, mình lỡ lời rồi. Nhưng cô giáo chỉ cười: “ Chúng ta cùng lọai sâu hay hỏi. Có những con sâu còn hỏi là khi chân thứ nhất giơ lên thi chân thứ chín đang ở đâu”. Cô ngừng một lúc rồi nói tiếp: “ Với nó điều đó còn quan trọng hơn chiếc lá cải. Rồi những con sâu ấy có thể mọc cánh thành bướm, cũng như con vịt xấu xí của Andersen có thể hóa thành thiên nga vậy ”. Câu chuyện về sâu đó cứ theo tôi mãi, theo vào cả trong bài thơ đăng trong tạp chí “ Văn nghệ quân đội “.
Cứ day dứt mãi không ra
Mình là ai, ai là ta, là mình
Ví dụ về tốii ưu hóa bầy đàn
Meldeleev nói "khoa học bắt đầu từ phép đo", thực chất là phép so sánh tương đối. Một con chim bay đi tìm thứ ăn sẽ so sánh vị trí của nó với vị trí ở thời điểm trước, cho thông tin A. Con chim đó trong bầy sẽ so sánh vị trí của nó với vị trí của con đang ở nơi có nhiều thức ăn nhất là B. Với trọng số a,b có thành phần ngẫu nhiên con chim sẽ xác định hướng và vị trí mới bay đến C = a.A + b.B
Trong cuộc sống cũng, theo đạo Phật, không so với bên ngoài, chỉ với mình trước đó A
Do tính cộng đồng cần chọn cá thể tốt nhất để so B
Kết nhập hai phép so đó để có thái độ sống cho bình an và thich nghi C

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét