Hồn là phần duyên dáng của cái đẹp
(Plato)
Cái đẹp cứu thế giới chúng ta
(Gogol)
Lâu Đài Trí Tuệ có nhiều cửa vào: Khoa Học, Nghệ Thuật, Văn Chương, Tôn Giáo... Ai, người dám buông tay khỏi cái cánh cửa của lối mình vào để đi tiếp vào trong?
(Trần Đức Trung)
(Plato)
Cái đẹp cứu thế giới chúng ta
(Gogol)
Lâu Đài Trí Tuệ có nhiều cửa vào: Khoa Học, Nghệ Thuật, Văn Chương, Tôn Giáo... Ai, người dám buông tay khỏi cái cánh cửa của lối mình vào để đi tiếp vào trong?
(Trần Đức Trung)
Có một cái mà không nhìn thấy, không sờ thấy, không thể tiếp xúc trực tiếp qua những giác quan. Nhưng nó có thật, cái vô hình đó. Có người thấy nó trong giấc mơ, tỉnh dậy thì hết. Thực ra khi tỉnh nếu chú ý cũng nhận ra nó thấp thoáng, quấn quýt quanh những cái hữu hình, tác động vào những cái hữu hình đó, chỉ khác là nó bay bổng, không cứng nhắc, khó nắm bắt và định lượng trực tiếp như những cái thuộc thế giới hữu hình và đặc biệt hơn cả là nó đến với người này và tránh hay tuột khỏi người kia. Có nhận ra nó không, còn tùy con người nhưng mọi người sẽ dễ nhất trí ở những trường hợp không có nó. Đó là sự bề bộn chật chội gò bó của những cái hữu hình, sự lặp đi, lặp lại máy móc, những cách thức chau chuốt, giả tạo ... và đặc biệt nó rất dị ứng với các con số, rất xa lạ với những cái mà ta quen gọi là kỹ năng. Chúng ta gọi nó bằng một từ - "Hồn hay là Linh Hồn" của sự vật. Đó cũng chính là sức sống, năng lượng truyền cảm, lực hấp dẫn, sự hồn nhiên, thô mộc tự nhiên của vạn vật và của con người nữa, tất nhiên.
Sáng nay mở “Bài Ca Họa Mi”. Bỗng có tiếng chim hót ngòai cửa sổ. Mấy con chim đến hót cùng tiếng hót Họa Mi, đến gọi nó. Cái hồn của âm thanh, của ca nhạc đây rồi. Mình sẽ bắt đầu từ Ca Nhạc và tôi bắt đầu viết.
Phần 1 - Ca Nhạc
Có lẽ không ai không hát bao giờ và khi bắt đầu ê a tập nói là đã hát với những giai điệu âm thanh của một bài ca không có tên rồi đấy. Và cả sau này, lớn lên vẫn lặng đi khi thấy ai đó ru con. Rồi ai cũng có những bài ca mình yêu thích, những giai điệu quen thuộc làm bạn với cuộc đời mình, đỡ mình những lúc khó khăn hay cô đơn, để cuộc sống trở nên dễ dàng hơn. Những ai đã học ở Liên Xô thời xưa càng thấy rõ điều đó. Lên ngồi trong xe ô tô đi chơi là hát, vỗ tay giữ nhịp. Ngồi đợi là quây quần hát. Đi cắm trại trong rừng là tiếng ca và tiếng ghi ta bập bùng lại vang lên bên đống lửa, cuộc sống trở lại nguyên sơ như nó vốn vậy, mọi người gần với nhau hơn, bao dung, tha thứ và bỏ qua nhiều hơn ... Ở đây mọi thứ hòa quyện vào nhau, thiên nhiên, âm thanh và con người. Vậy còn gì để nói nữa.Phần 1 - Ca Nhạc
Nhưng phần nhiều chúng ta là khan giả, xem nghe nhiều hơn, mà cũng chủ yếu là qua vô tuyến lên, giải trí, giết thời giờ hay thưởng thức. Chúng ta thấy gì nhỉ ? Tất nhiên là thấy rồi, ai cũng thấy người hát, cũng nghe thấy âm thanh. Có ai thấy cái hồn của nó không?
Tôi thấy một cô nàng quằn quại rên rỉ trên sân khấu, rồi lại cười, cũng chẳng có lý do gì cả. Thế mà cả đám đông hừng hực như lên đồng cũng rên rỉ quằn quại theo rồi vỗ tay, đập bóng sáng. Cũng na ná như đi xem bóng đá vậy, cổ vũ của khán giả là quan trọng nhất. Ở đây sự kích động cảm xúc là quan trọng hơn cả bài hát. Cố gắng đánh vào các giác quan con nngười, ánh sáng, trang phục v.v. Hồi xưa Tom Jone đi biểu diễn còn điệu mặc áo choàng, khoác cái khăn cổ dài để cho hai nữ khán giả ngưỡng mộ quá lao lên sân khấu giành nhau cái khăn làm chàng ca sỹ người Anh này xuýt bị chết ngạt. Khiếp thật. Người ta hay đồng nghĩa cái hồn với cảm xúc. Có hồn tất nhiên có cảm xúc và nó đọng lại, nâng tâm hồn ta lên. Nhưng còn những cách khác đến với cảm xúc, cách kích thích vào các giác quan, tim mạch, các cách gây nghiện. Thấy mọi người nức nở, lâu rồi cũng bị lây, cũng nghẹn ngào, chảy nước mắt ra, các tuyến nội tiết, cả hệ thần kinh thực vật và cấp thấp chỉ chờ có thế. Có gì liên quan đến tâm hồn chúng ta đâu. Giới truyền thông và đám đông, nhưng con số và doanh thu. Loài người đang mắc kẹt. Nói thế không có nghĩa là tôi không thích giọng ca Tom Jone. Tôi yêu thích "It's Not Unusual", "Delilah", "Green, Green Grass of Home", "She's a Lady", "Kiss" của anh.
Thôi, bỏ qua cái tầng ngoài của các cảm xúc, giác quan, những thứ rất dễ bị kích động do hiệu ứng lây nhiễm thường có trong đám đông được hỗ trợ bởi các công nghệ hiện đại thử đi tìm tiếp cái hồn ca nhạc, nó ở đâu.
Tìm nó cũng khó như tìm cái định nghĩa về nó vậy. Nhưng có lẽ nhiều người cùng ý nghĩ nó là cái bên trong. Nếu chấp nhận cái ý nghĩ đó ta hãy gạt cái bên ngoài đi, đỡ vướng ta, vướng nó. Phải bỏ đi nhiều đấy, những kiểu trình diễn hiện đại gắn với thế giới vật chất hữu hình, những sự chính xác của công nghệ số, sự sắp xếp cầu kỳ, quá cụ thể, những từ hoa lá của các MC, v.v. Và ta hãy lắng nghe, để phần sâu trong mình cũng lắng nghe. Có thể rồi ta sẽ thấy, hồn có ở đâu.
-Ở ca từ.
Như vậy cái hồn của thi ca có ở đây, tất nhiên. Nó gần gũi quá, thật quá. như những tâm sự trong bài "My Way", "I Started A Joke" hay tiếng gọi trong bài " Xa Khơi "... Khi hát những bài ca này, người hát cũng như người nghe quên hết xung quanh. Còn đâu cần múa may, nhăn nhó. Những ca từ đã nói hộ lòng chúng ta.
-Ở giai điệu.
Nhiều bài ca nước ngoài ta có hiểu lời đâu, và các bản nhạc không lời nữa nhưng nó làm ta say đắm. Có lẽ hồn nó bay nhờ những giai điệu đó, như cánh chim cần những dòng khí - hơi thở của trời đất để nâng, chao lượn. Những cánh chim vỗ nhịp, đơn sơ, lặp đi lặp lại ở những cung bậc khác nhau, gần gũi lại bất ngờ để thấy trong cái hữu hạn đó sự vô tận giai điệu Bolero của Raven. Nghe giai điệu nhạc Rachmaninoff "Rhapsody on a Theme of Paganini" bao lần và lần nào tôi cũng phải dừng lại để lắng nghe. Tinh cờ suy nghĩ của tôi hoàn toàn trùng với Neal Wilson – “Không ai có thể sáng tác nhạc đẹp như vậy .. Tôi không là người theo tôn giáo nhưng tin rằng những giai điệu này đến từ một quyền lực cao hơn và chính nó đã chọn Rachmaninoff để bộc lộ. Có lẽ cả thế giới cần đảo ngược để làm cho nó đẹp như nó đáng có” (No man could have composed such beautiful music. I'm not religious but melodies came from a higher power that worked through Rachmaninoff. Maybe the whole world needs inverting to make it as beautiful as it should be).
- Cuối cùng.
Nghệ thuật nói chung khi đạt đến một mức nào thì nó lạ lắm, nó tỏa sáng và nó theo ta, vào tận tầng tâm thức.
Phần 2 - Thi Ca
Người ta hay nghĩ đến nó như những sản phẩm, sáng tác và đem nó ra ngâm nga, bình giảng, phân tích.... Nhưng mấy ai hiểu khi làm điều đó họ lại đang sáng tác đấy, theo ý họ, đôi khi chẳng liên quan gì đến nhà thơ cả. Với thơ dịch còn tệ hơn. Vì muốn phổ biến nó cho mọi người không đọc được biết họ lại dịch, làm biến dạng các bài thơ và cả nhà thơ nữa để dễ hấp thụ hơn, để gần họ hơn. Y như có một đồ vật cho vào không có chỗ, đáng nhẽ sửa lại chỗ, lại mình thì khó quá, sửa cái vật đó tiện hơn. Mà không chỉ trong thi ca đâu. Cái cách hạ chuẩn này khá thân quen với người mình. Ngay những bài thơ dịch của Puskin thôi. Đọc nhiều bài dịch tôi không nhận ra Puskin nữa, một quý tộc kiêu hãnh với 700 nhân tình, trong sáng đến nguyên sơ - thiên tài "Mặt trời của thi ca Nga". Ngay ở nước Nga có cuộc thi viết về bài thơ " Gửi K...", tạp chí "Tuổi Trẻ" giới thiệu bài được giải, thì đó là bài viết ngắn nhất với mấy dòng của một cô bé. Nội dung là Puskin không làm thơ, đó là lời nói của trái tim ông. Bài thơ đó dành cho hai người, ông và A. Kern. Vì thế nó rất đơn sơ, thật như con người ông, không hình ảnh. Nhưng vì nó thật nên ai đọc cũng có thể thấy mình trong đó, và nhận muốn nhận vơ nó cho mình.Ông sẽ nói một cách thật thà từ "Tình Yêu" mà " không cần đến từ bóng bẩy như "Ngọn lửa tình" vì ông không phải là Romeo của Shakespeare, không diễn kịch trước người mình yêu.
Như vậy hình như ta đã lờ mờ hiểu được "Hồn thi ca" của thơ tình. Nó thật vì đầu tiên là cho ta, ta nói dối ta làm gì. Nó riêng tư vì ta nghĩ đến ai đó, nhớ ai đó. "Dù có đào hoa nhất trần đời, ta cũng không thể có hai người tình cùng một lúc-thơ Trần Đức Trung". Có ai đó cảm nhận, cộng hưởng đó là rồi đánh giá suy xét đó lại là việc khác. Có lẽ vì thế nhưng cuộc thi sáng tác thường cho những bài thơ hay ... và vô hồn. Vì chấm hồn thì chấm thế nào. Nó mang tính chất chủ quan mà cuộc thi nào cũng cần những chuẩn mực chung cho đỡ mạo hiểm, dễ chấm, dễ thống nhất, dễ phân tích, dễ đánh giá và ... dễ quên.
-----------
Xem thêm
- Xem thêm trích đoạn "Mối tình đầu"-http://tranductrungabc.blogtiengviet.net
... Tối hôm đó về Chi khó ngủ, chắc là tại uống chè đặc quá. Nhắm mắt mãi mà cô vẫn như thấy Tùng bên cạnh, nghe tiếng anh trầm ấm: ”Puskin gặp Ana Kern lúc cô mới mười sáu tuổi. Ana yêu ông nhưng nhà thơ không để ý, còn quá nhiều việc bận bịu , tưởng là cần hơn. Sau này gặp lại bà ấy đã có chồng, Puskin viết trường ca Oghinein tặng Ana và kẹp vào đó bài thơ tình anh vừa đọc. Anh thích vì bài thơ đó gửi cho một người, nó là lời từ trong lòng, những lời nói rất bình thường, chân thành dành cho một người, nó thật quá, đơn sơ quá và có lẽ vì thế ai đọc được, hợp thì sẽ rất thích. Mỗi bài thơ đều có một tiểu sử, một cuộc sống, một nơi trú ngụ. Không phải ai cũng viết được như thế, người ta hay quen những câu thơ to tát ồn ào, cho muôn đời, đọc cho muôn người, quen ngộ nhận, nói thay người khác. Cần phải có một tầm sống thế nào, phải thành thật với chính mình đã, phải nói từ lòng mình. Đó chính là Puskin. Lúc anh đọc thơ của ông, anh như cứ thấy nhà thơ ở rất gần, cũng đang lắng nghe “...
- Xem thêm trích "Thơ Việt, Thơ Nga, Thơ"-
http://tranductrungabc.blogtiengviet.net
Phạm Quỳnh có so sánh cái vô hồn trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan với cái hồn của thơ Baudlaire. Ở đây tôi có lấy những bài thơ mới hơn của những người khác, hai bài thơ hay của NTG, ĐĐK và bài thơ của O.Berggolts.
Gửi Boris Kornilov
(O.Berggolts)
Anh nói đúng, em đã khác rồi, em biết.
Cuộc đời trôi nhanh thật, biết làm sao
Em già rồi, đấy là anh cố ý
Không nói ra mà chỉ để trong lòng
Em không thể vì hiểu rằng vô ích
Những sai lầm em đã chót gây ra
Không làm lại được, cũng không mong tha thứ
Chỉ mong ngày gặp lại sẽ khác đi
Cái ngày đó giận hờn mình quên hết
Cùng bên nhau đi dạo giống thuở nào
Chỉ khác trước chúng minh im lặng khóc
Chỉ khóc thôi và đều biết vì sao
Suy nghĩ của Trần Đức Trung
Thơ Việt
-Hai bài thơ Việt đẹp. Mỗi dòng một ý hay chọn lọc, phát hiện riêng. Tiết tấu rõ, chậm rãi của giai điệu Rumba.
- Thơ làm theo dòng thơ chuyên nghiệp mất rồi, nhân công, kỹ thuật, chau chuốt nhiều quá, tỉnh táo, điêu luyện, không còn chỗ cho một cái frisson (rùng mình) của Baudlaire nữa ( không say, không ngông, không ngờ nghệch vô lý, không đau .., không điên ).
-Các bài thơ chật hinh ảnh đẹp, nhiều họa tiết, như cái phòng nhỏ treo đầy tranh, không còn chỗ cho những chia sẻ bình thường, gần gũi, cho suy tư nữa. Chất liệu tạo lên bài thơ được chọn lọc một cách tinh tế từ những hình ảnh bên ngoài để tạo nên bức tranh mô tả cái bên trong của con người.
"Bài thơ là những sản phẩm thơ của người sáng tác thơ"
Thơ Nga
Bài thơ của Olga Berggolts được viết ra không có hinh ảnh ví von nào. Không cần. Nó không dành cho các giác quan, cái tầng bên ngoài, không để thưởng thức. Cũng dễ hiểu thôi. Thơ viết ra như từ tiếng đập của con tim, như trào ra từ cảm xúc bên trong. Bài thơ viết ra như là riêng cho hai người. Nó thật. Người khác đọc có thể thấy minh trong đó. Muốn đọc lại, muốn tìm ai để cùng đọc, ...nhưng không muốn đọc ở chỗ đông cho nhiều người. Thơ như dụ ta vào nó hay tự nó đi vào ta. Câu kết bất ngờ, neo bài thơ vào lòng ta.
Chất liệu của bài thơ lấy ngay từ tâm hồn bên trong con người.
"Đây không không là thơ của Olga Berggolts, đây chính là Olga Berggolts"
Phần 3 - Khiêu Vũ
Khiêu vũ là gì?
Có nhiều định nghĩa lắm. Ở ta gọi là nhảy đầm, nghĩ ngay đến chuyển động của đôi chân. Không sai vì chân không đi được thì hết nói chuyện về đề tài này. Nhưng khiêu vũ khác thể dục nhịp điều nói riêng, múa nói rộng hơn hay các chuyển động có nhạc khác thế nào? Như vậy là dính vào quan niệm về ngôn ngữ rồi, nghĩa là không có định nghĩa chặt chẽ hay nói cách khác có nhiều định nghĩa khác nhau. Tôi thử đưa ra một định nghĩa theo quan niệm Hành Thiền-Vũ Đạo: KV là chuyển động của cơ thể mà Tâm ý được đặt vào trọng tâm theo dòng nhạc một cách đẹp mắt (Nhạc còn giai điệu và hòa âm chứ không chỉ mỗi là nhịp). Khi khiêu vũ thực chất là chúng ta đang tâm sự đấy, đang chia sẻ, bộc lộ không chỉ điệu nhảy mà hơn nữa là bộc lộ bản thân Mình là Ai. Chúng ta diễn đạt bằng ngôn ngữ chuyển động của cơ thể, bắt đầu từ cách cầm tay người bạn của mình với một lời nói thầm vào lòng mình (Niệm) cảm ơn sự tin cậy, cách đẩy thân, treo hông, tận hưởng cùng nhau cảm giác bay lên thắng sức hút của trái đất, cảm giác hòa đồng để thoát khỏi cái tầm thường của cuộc sống. Và là ánh mắt nhìn nhau, thân thiện, cảm ơn. Ta đã đồng thời đã nhận được cái trao đi. Nó đẹp, lung linh hơn rồi. Đây không những chỉ là văn hóa khiêu vũ mà là cái hồn của khiêu vũ (Vũ Đạo). Nó rất cần cho sức khoẻ. Thân Tâm hợp nhất, giao hòa cùng giai điệu, cùng người bạn nhảy. Hãy nhớ lại-Thiền là Thân Tâm hợp nhất, hòa đồng cùng vũ trụ. Đây là vũ trụ của hai người, không lấn bấn quá khứ, không xáo động tương lai, chỉ tận hưởng màu nhiệm của nhịp sống, giai đệu âm thanh của nó trong phút giây hiện tại.
Khi đi nhảy có đôi?
Nếu đi thường xuyên với nhau cũng nên để cho người khác mời bạn mình đôi lần, mình ngồi quan sát xa sẽ rõ hơn, sẽ học, rút kinh nghiệm được nhiều, sẽ có lợi, chứ cứ gần sát bên nhau còn nhìn thấy gì, quan sát được gi bạn nhảy đâu, lo đúng nhịp coi như xong. Xiêu vẹo mà gần quá có nhìn thấy đâu, nhất là phần từ khớp gối đến khớp chân, cách tiếp sàn, có nhảy bao năm vẫn cứ thế thôi, thạo hơn nhưng không khá hơn. Cứ chỉ nhảy hai người sau thành tật không sửa được đâu và sẽ bị quan niệm sai là chân quen, chân lạ
Về cách xem và thưởng thức vũ điệu thì nên tách riêng ra mà quan sát: phần từ đầu gối cổ chân, phần hông và phần thân vai, sau đó là tổng thể.
Luu ý về đúng nhạc?
Đúng nhịp không có nghĩa là đúng nhạc. Cũng như chúng ta khi chơi đàn giữ được nhip 3/4, hay 4/4.. nhưng nhầm nốt Son sang nốt La. Chơi đàn thì sai sửa được còn KV thì lại thành tật và chúng ta như một lần trên VTV6 cô giám khảo nhận xét một đôi thí sinh là các ban nhảy rất thạo, rất đúng nhịp nhưng như tập thể dục ở công viên ấy. Thường mọi người hay quan niệm đúng nhạc là dẫm lên nốt nhạc, bước đúng khi có tiếng gõ nhịp. Nhảy với người quen, bài quen thì như thế cũng được. Nhưng nếu tập được vũ hình Chờ (Kết thúc một chuyển động toàn trọng tâm dồn về một chân) thì người Nữ có thể chờ nhạc cất lên, tin hiệu dẫn của Nam đã có để chuyển động theo nhạc và khiêu vũ sẽ có hồn, chất nghệ thuật sẽ nhiều hơn. Tất nhiên chất thể dục thể thao sẽ chìm đi. Hình như nhiều người chưa học nhảy thì dáng đi còn ngay ngắn, học rồi trông đi đứng chán quá. Trong bản nhạc có nốt lặng. Người không biết nhạc đến đó vẫn cứ ngân. Khiêu vũ cũng vậy, cũng có khoảnh khắc căng dừng chờ như cái nốt lặng trong bản nhạc, như dấu chấm xuống dòng trong bài thơ. Cũng nên dùng tiếng Anh để đếm nhịp. Tiếng Việt chậm và nhanh đều chỉ có một âm tiết, miệng đếm chậm mà chân vẫn bước nhanh là tất nhiên. Thêm nữa là nên thuộc tên tiếng Anh của các vũ hinh. Nói chung cũng chi khoảng mươi mười lăm từ tiếng Anh thôi, cho nó yên tâm, để trao đổi giao tiếp. Ví dụ khi vui chơi với vũ điệu Samba chỉ cần 4 từ tiếng Anh cho mạch lạc: Wisk, Walk, Botafogo và Volta.
Về chọn nhạc khiêu vũ?
Bản nhạc Việt Nam thường dài quá. Nói chung là dài gấp rưỡi bản nhạc Tây. Đó không phải nhạc để khiêu vũ mà để nghe hát. Ví dụ bài "Bản Tango cho em" chất cho khiêu vũ Tango như căng thân, dướn, hãm, dừng, thay đổi nhịp chuyển động bất ngờ, bị mất hết do lời ca tiếng Việt ngân nga đều đều, lại dài quá. Cái hồn của vũ điệu kỳ lạ đó - dò dẫm lưỡng lự, người nữ như bị thôi miên dắt đi trong cái vô định bỗng bừng tỉnh. Hai người cùng nhập một cầm tay dướn tiếp vào cuộc phiêu lưu. Bài hát Việt làm người ngồi nghe sốt ruột, người nhảy chắc cũng thế. Cũng nên thay đổi nhạc cho thêm nhạc Tây hài hòa, chỉ ê a mấy bài quen thuộc nghe đi nghe lại ở các CLB rõ nhịp, vô hồn giống như các CLB thể dục ấy thì hơi tiếc. Tất nhiên để tập thì được, nhưng để vui chơi, thưởng thức thì lại phải tránh sự đơn điệu, lặp đi lặp lại mấy bản nhạc đến nhàm chán, đếm nhịp, giữ nhịp cho đều dẫn tới sự vô cảm với nghệ thuật, nhất là đối với những người đã khiêu vũ lâu, những thày dạy khiêu vũ.
Thực ra khiêu vũ đóng một vai trò trong sự phát triển của ca nhạc nước ta thời Tây hóa. Tân nhạc Việt Nam ban đầu được sáng tác phần lớn theo tiết tấu của nhạc khiêu vũ và rất dễ nhảy. Các bài Valse, Rumba tiếng Việt thường là nhưng sự lựa chọn yên tâm cho người nhảy không còn trẻ. Tango có lời hát tiếng Việt thì tôi không chắc đó là sự lựa chọn thông minh. Mà không chỉ tiếng Việt. Tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Ba Lan và ngay cả tiếng Pháp cũng không thể so với tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý hay tiếng Đức trong các bài khiêu vũ Tango.
Để tiện lợi cho Khiêu Vũ Vui Chơi, dạ hội người ta thường xếp sắp nhạc tour gồm: 1) pasodoble (hoặc foxtrot); 2) slow; 3) rumba / bolero / beguine; 4) cha cha cha; 5) boston; 6) waltz (hay valse); và 7) tango. Bây giờ người ta hay cho thêm Múa Lào (chú ý đây là múa chứ không phải là khiêu vũ), Lambada, Meringue. Đối với những người mới học lưu ý là ba điệu bổ sung đó nó phá hết những gì học được ở những kỹ thuật khiêu vũ Latin hay Standart.
Cái hồn và cái đẹp ở đâu trong khiêu vũ?
Từ Thể Thao (Sport) trong Dancesport nghĩa chính là thi đấu (Sport is the form of competitive activity). Người nhảy ở đây không phải các nghệ sỹ mà là các vận động viên. Cái cần ở đây là đúng nhịp, nhanh và khó, thuộc bài (Không ai dẫn, ai theo cả, có chăng là khớp vào nhau thôi). Thể thao mang tính thắng thua, hiệu quả, cái đẹp, nghệ thuật không có nhiều chỗ đâu. Cái bề ngoài như nhanh, phức tạp, khớp thì dễ chấm, dễ thống nhất. Cái bên trong là cái hồn thì khó và mạo hiểm cho cả người chấm lẫn người nhảy. Trong KVTT không có ai dẫn, ai theo, mà là thuộc bài, đúng nhịp, cân xứng trình độ. Nếu không nhằm mục đích thi đấu (KVTT) thì nên học Khiêu Vũ Nghệ Thuật, mọi người đều có thể tham gia. Có giám khảo đâu, khán giả đâu. Chỉ có hai người đang cầm tay nhau thôi, chuyển động, cái nhìn cũng là dành hết cho nhau.
Cái khác nhau giữa xem khiêu vũ (cũng như những biểu diễn thể loại khác) của nước ngoài là cái hồn của họ. Vậy hồn là gì, đó là sự hồn nhiên, cái hồn của tự nhiên, cứ như họ không để ý xung quanh. Họ đang hát, nhảy như không có người xem, thỏa mãn sung sướng với chinh họ. Ở ta diễn quá, kịch quá, khớp quá, tinh xảo quá, thuộc quá, nhân công nhiều quá, đồng diễn quá, mất hết sự bất ngờ và các yếu tố cảm xúc. Lộ hết, phát chán. Lúc nữ quay nam ra tín hiệu sớm quá, hay nữ thuộc chân quá, hay là hai người khớp quá. Thực ra với nữ nên dành thời giờ tập quay là chủ yếu vì đó là phần hấp dẫn nhất. Không thể quay đẹp như vũ công nhưng những kỹ thuật quay đơn giản như Spot Turn (quay quét), Swith Turn (quay ngoắt) ... nên để ý. Thay vì học các bước nâng cao khi hãy tập cho ổn những bước dạo Latin và Standart cho vững, làm chủ trọng tâm, những kỹ thuật tiếp sàn (footwork) của bàn chân, kỹ thuật giữ thân (body line), thế của tay (arm positions) cho ra hồn.
Cái hồn còn bộc lộ ra ở sự kết nối với sàn. Đứng dậm mạnh quá làm đau sàn, nó cũng là một phần trong vũ điệu. Hãy tận dụng kỹ thuật tiếp sàn, nén, buông, rơi, thả, đặt, cứ như ta đang khiêu vũ trên sàn mà tầng dưới có người ngủ, hãy để họ ngủ.
Cái hồn bộc lộ ở tương tác người nhảy với không gian xung quanh, đôi khi cứ như có một cái gì vô hình đó tham gia vào chuyển động của ta. Những cái vô hình đó như kéo ta đi, như hãm ta lại đột ngột.
Cái hồn còn bộc lộ ra ở sự bất ngờ. Muốn vậy dễ nhất là nên bóc tách phần quay và phần đi thẳng trong mỗi chuyển động.
Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Câu nói đó ai cũng biết và biết một cách hời hợt. Không chỉ cái nhìn, cách nhìn giành cho bạn nhảy mà ngay trong chuyển động, cái nhìn tập trung sẽ tạo hướng, dẫn dắt chuyển động của chúng ta.
Vì ngôn ngữ là mờ (Fuzzy) nên đừng lầm lẫn giữa cái đúng và cái đẹp. Không phải hai khái niệm luôn là một đâu. Có nhiều cái sai nhưng rất đẹp: Mối tình Trọng Thủy và Mỵ Châu đấy. Cái đúng ít gây cảm xúc, chỉ có cái đẹp thôi. Cái đẹp (beauté) có cái rực rỡ là cái hồn nghệ thuật của nó (grace).
Chú ý:
a/ Học dẫn và học theo.
Đây là điều cần thiết trong khiêu vũ vui chơi. Nếu học theo thì nữ hãy cố đừng bước cùng nhịp, hãy nghe nhạc đã rồi mới chuyển động, hẫy trễ một chút, nhường cho nam dẫn (theo có nghĩa là theo sau, chậm hơn một chút, không ai nói theo cùng). Tập chuyển trọng tâm về chân trụ, chân kia buông ngay sau khi kết thúc một chuyển động dể chờ dẫn, tạo thế cân bằng phiếm định (cân bằng không bền để dời vị trí khi có ngoại lục tác dụng). Cố gắng để bắt đầu chuyển động là chuyển động chân tụ do chứ không còn phải chuyển trọng tâm để cho có chân tự do. Tập nghe Thân nhạc (Body Music) của người dẫn, cảm nhận được lực kéo và đẩy của họ. Đây là điều cần thiết mà ít người dạy để ý, ít người học muốn theo. Muốn dẫn nữ sang phải nam dùng nhẹ ngón tay, sang trái dùng lòng bàn tay.
b/Quan sát.
Đừng nghiêng đầu, hãy nhìn và quan sát không gian qua vai bạn nhảy để tránh va chạm phía sau lưng vì chúng ta đang tham gia giao thông trên đường nhảy cơ mà. Tránh những bước dài, ngáng chân ra phía sau mà các thày hay thích dạy, dễ va chạm với đôi nhảy bên. Bước dài luôn kèm với kỹ thuật đẩy thân chứ chân bước đi dài, người ở lại trông méo lắm. Cũng đừng nghe mấy thầy cô dạy vung tay sang ngang, nhỡ đâm vào mắt người nhảy bên thì làm sao. Vung cao lên phía trần thì vô tư. Nếu đi lùi thì hãy lựa ở góc sàn. Định mời ai hãy nhìn vào ánh mắt người ấy. Có cái nhìn đáp lại, hãy đứng dậy đi từ tốn, được nửa đường, dừng lại khẳng định sự chờ đợi bên ấy, rồi đi nhanh dơ tay mời. Đỡ họ ở bên phải minh ra sàn vì bên trái các hiệp sỹ thời xưa đeo kiếm mà. Đừng đứng xa vẫy nhau, Việt Nam quá. Lúc chia tay có thể không cần nói gì nhưng cũng nên gửi lại một cái nhìn thân thiện, một cái cầm tay nhẹ. Nếu khéo hơn thì một cái nhún chân chào của người nữ. Không khó, không mất gì, chỉ được.
c/ Cơ bản.
Chúng ta hay lạm dụng nói từ cơ bản, thực chất cơ bản chỉ tồn tại đến 3 mà thôi cũng như 3, như đầu, mình và chân tay. Cái gì mà quá 3 là khó nhớ thì đừng nên dùng từ cơ bản.
Có lẽ từ CƠ BẢN và NẢNG CAO hợp với KVTT (thực chất là thi đấu, trên sàn chỉ có dến 6 đôi), KV đồng diễn (không gian của từng đôi được xác định). Còn trong KVNT vui chơi nên như thời ngày xưa đó là DẠO (Promenade) và PHĂNG ( Variation). Nếu dạo được rồi thì hãy lựa mà Phăng (biến tấu) không thôi.
Tóm lại:
- Hiện nay người nhảy thì nhiều nhưng chuyện một CLB nọ đi chơi thì không thể nhảy với CLB khác được là một thực tế ở ta. Vẫn là ở Việt Nam thiếu một truyền thống văn hóa nói chung và khiêu vũ nói riêng mang tính vũ hội, xã hội, với những mặc cảm, định kiến, không tự tin. Xem thử trong các hội nghị, giao tiếp, gặp gỡ có người các nước khác, người mình cứ túm tụm lấy nhau cho có cảm giác yên tâm, ngại hỏi, ngại học. Thật tội.
- Cứ chỉ chăm chăm vào bài và nhịp thì còn gì cảm hứng nữa. Đồng diễn mãi, song diễn mãi chán lắm. Tôi có hỏi một đôi bạn nhảy hai năm vẫn cứ đơn điệu thế chưa chán sao. Họ nói chán rồi nhưng không nhảy với người khác được vì khác bài, phải học cùng cơ. Tôi có đi chơi với một số bạn nước ngoài hoặc ở nước ngoài về họ chịu thua văn hóa NHẢY của ta. Ta nhảy với ta, ai học cùng thì nhảy với nhau, là gì có ai theo, ai dẫn ai lựa. Nhảy vui mà vất vả như thi đấu. Bế tắc nhất là những bà cô quen thể hiện chân Nam. Mất hết thói quen theo rồi. Nam nào mời phải họ sẽ thấy điệu nhảy nó dài như thế nào.
- Nếu ta chú ý đến trọng tâm (hơi thở, tâm ý, chuyển động) một chút và hòa động nó với dòng nhạc thì sẽ rất đẹp và TRỌNG TÂM chính là huyệt ĐAN ĐIỀN (vườn thuốc) thì sẽ còn rất khỏe, các xáo động sẽ tan đi và sẽ lại như câu thơ của Xuân Quỳnh viết hồi nào lại thấy “Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ” …. Nữ cần luôn chú ý đến trọng tâm, chủ yếu là thu treo một chân tự do, chân kia đỡ hết trọng lượng cơ thể, đợi dắt của nam. Luôn thử cảm giác chân trụ, và cụ thể hơn là gót (còn trong thế dướn là mũi) đỡ toàn bộ trọng lượng ngay cả khi chân treo không tì xuống đất. Tập được thói quen đó, một kiểu Hành Thiền, sẽ rất lợi cho sức khỏe và nam rất dễ dẫn. Hai chân mà cùng đỡ trọng lượng cơ thể, không có chân treo, chân trụ thì rất khó theo khi gặp người lạ, khi nam họ kéo đẩy sẽ lúng túng không biết bước chân nào. Cũng đừng sợ nhạc quá, nghe mãi rồi phần đông nữ vẫn cứ đi nhanh hơn nhạc. Một phần vì mấy người có tai nhạc, nhưng cái chính là trọng tâm không điều khiển, giữ được thăng bằng trên một chân trụ, đành phải để bước chân kia để đỡ. Thành ra nhìn thấy khiêu vũ mọi người cứ như sắp ngã ấy. Người ta hay nói nam dẫn, nữ theo. Theo nghĩa là theo sau, nghĩa là chờ theo. Chậm một chút, nữ ở thế treo chân nam họ sẽ dẫn được, cần thì họ sẽ kéo cho chuyển động nhanh lên, kịp nhạc. Nữ mà chủ động, nhảy nhanh hơn là nam bó tay. Hãm các bà, các cô đang hăng là điều không dễ. Giải pháp chính là nếu sai nhịp đừng dừng lại giữa chừng mà để nữ quay lựa lấy lại nhịp. Thường là hai lần, lần đầu chậm hơn, lần sau chỉnh đuổi kịp nhịp.
Cuối cùng:
- Do đặc điểm dân tộc ta không có thói quen tập dáng đi cho trẻ con từ bé. Ai đã sống ở châu Âu mới thấy chi em họ đi đẹp, khỏe và thướt tha như thế nào. Bà giáo người Nga của tôi có con gái cho con để quyển sách lên đầu tập đi nhanh, dáng lướt, chân thẳng, thế đấy. Chị em châu Á nói chung do thói quen bế ẵm từ bé nên nhiều người đi xấu chủ yếu là đi chùng đầu gối, đi lom khom. Học nhảy lại làm nhiều người lom khom hơn, buồn quá.
-Không biết nhảy nhót thế nào nhưng hãy tập đứng thẳng chân, căng thân lên, hảy dướn lên trên độ cao mình có, nhất là Nam – có thể biết rất ít bước, có thể sai 3/7 nhịp nhưng đừng đánh mất cái NAM TÍNH kiêu hãnh hiếm hoi trời cho….,
-Hãy tự mình tìm hiểu cơ thể và những điểm thuận với mình, phần đông các thày thực chất là những thợ nhảy, vũ công có năng khiếu, dạy những bước hợp và thuận với họ nói chung và khiêu vũ nói riêng, thuộc và thành thạo nhiều bước, thuộc lòng một bài thi đấu. Để là người dẫn luyện thì được, nhưng làm thày, vũ sư thì có lẽ là một điều phải bàn đến. Nói về từ Thày quả thực tôi rất ngạc nhiên với quan niệm ở ta thừa thày thiếu thợ. Ngược lại thì có. Người thày thì dạy nhảy, thợ thì dạy bước nhảy chứ không dạy nhảy, loanh quanh cũng chỉ biết nói đúng bước và đúng nhạc. Đúng thế nào được trong khi chân trụ không học đỡ được toàn thân, chân kia đành rơi xuống, thêm nữa là tâm lý sợ không kịp nhạc nên không bước nào làm đến cùng, méo mó thành tật. Nhưng biết làm thế nào khác được. Cũng như trong các trường học dạy giải bài toán chứ không dạy toán...
Cần thiết là học một cái, dùng trong nhiều cái
Đứng vội vào đôi ngay, lo đúng nhạc như các người ta thường dạy. Mình có thi đấu đâu, vui chơi thôi mà. Hãy tập đứng cho đẹp với những dáng đứng thân thiện tự nhiên ta có, không gò ép, chùng gối lõm khom, không khiên cưỡng. Rồi tập chuyển trọng tâm chân nọ sang chân kia, cảm nhận khoảnh khắc dừng để trọng lượng toàn thân đã đè xuống hết gót của một chân, chân kia được giải phóng hoàn toàn, treo buông hờ chờ thả bước. Khởi đầu một chuyển động sẽ tự nhiên, không phải chuyển trọng tâm nữa .
Vì thể người thầy đúng nhất là cái gương, là sách viết và bạn nhảy tốt nhất là cái cột thẳng và tay vịn ngang. Đứng học bước nhiều làm gì, thành tật khó sửa lắm, hãy dùng tường, tay vịn đứng cho ngay ngắn, tập treo chân, cân bằng thân treo với khớp hông, đầu gối, cổ chân, tập đi dạo với kỹ thuật mũi gót. Nữ thường nhảy nhanh hơn nhạc, không hãm lại được vì không treo được chân chờ, chân kia yếu không đỡ được thân. Nhảy với bạn nhảy, thuộc bài không sao, với người lạ là liêu xiêu. Khi tập nên ngó gương nếu thấy méo mó, thử sửa không được thì nên nghỉ đi dạo, thư dãn cơ cho nó xóa đi cái sai, cố tập sai sẽ thành tật, rất khó sửa.
-Không thiếu cái dễ, đơn giản mà đẹp, không thiếu cái khó mà xấu. Trong KVTT người ta chọn tiêu chi là cái khó vì dễ đánh giá, dễ thống nhất, cái đồng bộ, cái khớp nhau với nhịp chứ còn đánh giá theo cái đẹp, không dẫm lên nốt nhạc, hãy để nó tuột qua rồi đuổi theo nó thì khó chấm quá và mạo hiểm đối với giám khảo.
Trong mọi việc nói chung và vũ đạo nói riêng thường có 3 phần, 3 tầng của sự vật
-Hình chỉ là tầng da ngòai (Các bước đúng nhịp)
-Khí là tầng bên trong (Nó là dòng chảy hợp nhất từng phần của cơ thể với nhau).
-Thần đó là lớp tủy (Đó là cái nhìn, những chuyển động đuổi theo, chờ đợi, là ngôn ngữ của cơ thể, mà sự bắt đầu từ trong tâm ra rồi mới đến thân và chân)
Các Vũ điệu Latin Cha Cha, Samba, Rumba, Paso Doble, Jive.
Click vào đường dẫn dưới để xem video vũ điệu Rumba
http://www.youtube.com/watch?v=imrpmkdrmuM
Trong người chúng ta, nơi nào đó vẫn cất giữ những tiếng gõ nhịp từ thời xa xưa, tiếng gõ của tổ tiên chúng ta cũng như của những người Châu Phi cổ nhún nhảy bên đống lửa nướng thú rừng săn được. Những âm thanh bản năng ấy tưởng như đã bị lãng quên. Nhưng như sự tình cờ kỳ diệu, có lúc nó lại trỗi dậy cộng hưởng với tiếng nhạc, lại hòa âm với tiếng đập của trái tim, mạch máu, lại cất tiếng lên gọi hộ cho ai đó, làm ta bồi hồi vì hình như nó gọi ta đấy và gọi bằng cái âm thanh hoang dã của người xưa. Đó là Toi-A, là Je t’em-E Y A. Có phải vì thế mà tiếng nhạc đó, những bước đi đó mà ta gọi là VŨ ĐIỆU RUMBA được chúng ta thầm say mê một cách kỳ lạ chăng…
Rumba là loại nhạc tình cảm êm dịu. Nhảy Rumba, người đàn bà phải rất phụ nữ, khiêu gợi và quyến rũ đàn ông. Nếu Paso Doble là điệu vũ của người đàn ông, người đàn ông phải dũng mảnh, hùng mạnh, thì Rumba ngược lại là điệu vũ cũa phái nữ, một cặp nhảy đẹp hay không là do tài khiêu gợi quyến rũ của người đàn bà... Trong Rumba NỮ phô nữ tính và uyển chuyển, NAM giúp nữ thực hiện.... Rumba hiện đại đã được chuẩn hóa nhưng đừng quá cứng nhắc với những chuẩn mực đó, hãy cho nó cảm xúc.
Từ Rumba là nói về cả một dòng điệu nhảy của Cuba - Châu Phi. Trong Rumba chuyển trọng tâm từ chân nọ sang chân kia ở hai phách trong mỗi nhịp đã tạo ra sự gợi tình với phách một là phách mạnh nhưng chỉ có chuyển động hông.
Điệu Rumba là một điệu nhảy có quan hệ hữu cơ với dòng Rumba của nhạc Cuba - Châu Phi. Trải qua quá trình lịch sử, người ta có thể thấy được nhiều dấu tích của nhiều phong cách nhảy gọi là Rumba. Một số vũ sư xem Rumba là điệu nhảy Latin gợi tình và mang tính nhục dục nhất vì nhịp điệu của nó khác chậm và vì sự di chuyển hông của điệu nhảy này.
Có hai nguồn gốc: Tâybannha và Châu Phi. Nó thịnh hành trên các hòn đảo của Mỹ Latinh đặc biệt là Cuba. Rumba có từ thế kỷ 16 khi nô lệ châu Phi được buôn qua Mỹ. Điệu nhảy làm ta liên tưởng tới dáng đi con gà trống. Châu Âu đã tiếp thu nó thay đổi nó làm chính xác và uyển chuyển hơn. Ảnh hưởng của châu Âu là đã đưa những yếu tố của Ba lê vào trong đó rõ nét là thế Check (đầu gối chân sau vào hõm chân trước, chân trước hơi xoay mở).
Điệu Rumba ban đầu tại Mỹ
Điệu Rumba này đã được du nhập vào các Salon khiêu vũ Mỹ đầu thế kỷ 20 với đặc trưng có nhịp cao, gần như hai lần điệu Rumba phòng nhảy hiện đại. Rum ba Mỹ có các nét của Cuba như xoay nhấc hông từ đầu gối khuyủ chân và trong khi theo phái Latinh được gọi là Quốc tế thì chủ yếu là các bước chân thẳng.
Chuyển động của Rumba ngoài đặc trưng hông là những chuyển động tại chỗ, trượt ngang, đẩy thân và nén nhấn mũi rồi gót (Cucaracha-giậm chân giết dán).
Các tình cảm bộc lộ ở điệu Rumba là gợi tình, đam mê, né tránh, lưỡng lự theo nhịp 4/4.
............................
Các Vũ điệu Standart Tango, Foxtrot, Quickstep, Waltz, Viennese Waltz
Tango là một điệu nhảy đối tác có nguồn gốc trong những năm 1890 vùng Rio de la Plata, biên giới tự nhiên giữa Argentina và Uruguay, và nhanh chóng lan rộng đến phần còn lại của thế giới.
Từ năm 1930 Tango thay đổi nhiều cho phù hợp với sở thich của Tây Âu và được phát triển theo một hướng khác hẳn những điệu nhảy cổ điển khác mang sắc thái rất riêng, tiết tấu và giai điệu cũng vậy. Trong Tango không có kỹ thuật chao, bay, nâng, đổ như trong các điệu nhảy kia hay tóm lại nó không thuộc nhóm Swing Dance. Nó là vũ điệu với chuyển động ngang "flat and into the floor". Điều này khiến cho việc học Tango không khó đối nhưng người mới học và nhiều cô bác, cụ ông cụ bà rất thich đi Tango. Có điều cũng như các điệu cổ điển nên tránh đung đưa lắc hông, nên chuyến động dướn dừng dứt khoát. Luôn để ý đến dò chân, căng thân như con báo rình mồi, đến mép trong của bàn chân tiếp sàn. Lúc vui chơi, không thi đấu thì không nhất thiết phải làm kỹ thuật lắc hất đầu, vai và đừng chuyển hướng liên tục, tôn trọng dòng đi đường sàn. Bước đặc trưng được nhiều người ưa thich của Tango là Five Steps có chuyển động lùi nên để dành đến góc sàn, không cản trở giao thông trên đường nhảy. Cái chuyể động lúc dò dẫm dìu nhau, lúc bung căng thân cùng dướn cho Tango một cái hồn hoang dã, phiêu lưu, bất định.
Về nhạc Tango. Nên lưu ý có loại nhạc Tango nghe và Tango nhảy. Cái bản Tango Việt Nam chủ yếu là loại nhạc nghe, ngân nga không mang tải cái hồn vũ điệu Tango, lúc dứt khoát, bất ngờ, mãnh liệt, lúc dò dẫm...
Có nhiều Album nhạc Tango nhưng Album dàn nhạc Nhật Bản của Hisao Sudou là một sự lựa chọn tuyệt vời. Những bản nhạc như "La Cumparsita", "Adio Pampa Mía" hay những bản nhạc của dàn nhạc khiêu vũ Klaus Hallen ... cũng vậy.
Bản Tango Intaliano
truyện ngắn
http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/2013/03/27/p5434316#more5434316
Video
https://www.youtube.com/watch?v=FiCoGh4VZWk
(theo Wikipedia)
Valse, tiếng Pháp bắt nguồn từ từ “walzen” trong tiếng Đức cổ, nghĩa là “uốn”, “xoay” hoặc “lướt đi”, là một điệu nhảy trong khiêu vũ cổ điển và folk dance (nhảy dân gian), theo nhịp 3/4. Waltz ra đời ở ngoại ô thành Viên (Áo) và ở những vùng núi cao của nước Áo. vào khoảng giữa những năm 1780, điệu waltz bắt đầu thịnh hành khi nó được biểu diễn trong các lễ hội khiêu vũ tại cung điện Hapsburg, rồi dần dần lan ra các quốc gia khác trong những năm sau đó. Mặc dù vào thời kỳ đầu, waltz bị phản đối khá kịch liệt nhưng về sau waltz, đặc biệt là tư thế của nó, đã trở thành hình mẫu cho các điệu khiêu vũ khác. Vào thế kỷ 19 và 20, nhiều biến thể mới của waltz ra đời và phát triển, bao gồm các điệu waltz theo nhịp 2/4, nhịp 6/8 và cả nhịp 5/4.
Giữa thế kỷ 18, điệu allemande - điệu nhảy dân gian Đức, một hình thái của điệu waltz trở nên rất phổ biến ở Pháp. Lúc đầu, điệu nhảy này chỉ có tư thế tay của các vũ công bắt chéo mỗi khi di chuyển, giống tư thế của một số điệu nhảy dân gian khác, nhưng nó đã nhanh chóng cải biến thành một điệu nhảy độc lập với tư thế tay ôm ngang lưng và tay còn lại đưa lên không trung, như những gì chúng ta thấy ở điệu waltz ngày nay. Đến cuối thế kỷ 18, điệu nhảy dân dã cổ điển có nguồn gốc từ nước Áo này mới được tầng lớp quý tộc châu Âu chấp nhận, và dù tư thế thay đổi nhưng nó vẫn giữ nguyên nhịp điệu 3/4 của mình.
Tuy nhiên, việc phản đối điệu waltz vào thời đó vẫn còn tiếp tục. Các vũ sư chuyên nghiệp nhận thấy sự đe doạ tiềm tàng của điệu nhảy này đối với nghề nghiệp của họ; vì các bước đi cơ bản của waltz rất dễ học trong một thời gian tương đối ngắn, trong khi, điệu minuet (mơ-nu-et) và các điệu nhảy quý tộc khác đòi hỏi phải luyện tập thường xuyên bởi chúng bao gồm việc học những kỹ thuật khá phức tạp lẫn việc thay đổi khoảng cách và cách di chuyển của người nhảy.
Điệu waltz cũng bị phản đối xét trên phương diện đạo đức bởi những cá nhân cho rằng tư thế ôm ngang lưng tương đối sát người nhau của đôi bạn nhảy và cả bước xoay ngửa người trong waltz. Đặc biệt là những nhà lãnh đạo tôn giáo coi đó như một hành vi thô tục và tội lỗi. Một phiên toà xuyên lục địa đã diễn ra dai dẳng nhằm chống lại waltz. Cũng vì lý do đó mà waltz được chấp nhận khá muộn ở Anh, vùng đất của các giáo điều.
Tháng 7 năm 1816, điệu waltz được đưa vào trình diễn trong một buổi khiêu vũ ở Luân Đôn bởi hoàng thân nhiếp chính. Ngay sau đó ít ngày một bài xã luận trên tờ "Thời Đại" (The Times) đã nghiêm khắc phê bình: “Chúng tôi vô cùng xót xa khi biết rằng một điệu nhảy không đứng đắn của nước ngoài được gọi là Waltz đã được đưa ra giới thiệu (vì chúng tôi tin chắc đây là lần đầu) tại triều đình Anh vào thứ 6 vừa qua… thật là quá đủ khi phải chứng kiến một tư thế khêu gợi, hai tay của đôi bạn nhảy đan vào nhau và khoảng cách cơ thể lại quá gần khi họ nhảy, cũng quá đủ khi nhận ra rằng sự kín đáo trang nhã, vốn được coi như một nét đặc trưng của phụ nữ Anh kể từ trước đến nay, đã bị loại bỏ bởi điệu nhảy này. Chừng nào mà điệu nhảy tục tĩu này còn gắn liền với gái mại dâm và những người đàn bà lẳng lơ thì, chúng tôi nghĩ rằng, nó không đáng được để ý tới. Nhưng giờ đây khi nó đã len lỏi vào giới quý tộc, chúng tôi nhận thấy phải có nghĩa vụ cảnh báo các bậc phụ huynh đừng để con gái của các vị đến gần sự lây lan chết người này.
Thậm chí đến cuối năm 1866, trong 1 bài xã luận trên một tạp chí tiếng Anh, Belgravia đã viết: “Sau nhiều ngày đi công tác xa về và rồi ta bắt gặp chị em mình, vợ mình, với một thái độ thiếu cảnh giác nhất, để cho một kẻ lạ mặt nắm tay, ôm chặt ngang người, bước lòng vòng trong căn hộ nhỏ, và lý do duy nhất cho tất cả chuyện này gắn tên “âm nhạc”, thì ta có thể ít nhiều nhận ra sự nguy hiểm của điệu nhảy ma quái này.”
Rất nhiều lời phản đối đến từ phía những người lớn tuổi, nhưng ít ai biết nữ hoàng Victoria của Anh là một chuyên gia rất điêu luyện và dành nhiều tình cảm cho điệu waltz!
Nhưng lịch sử tự thân nó cứ lặp đi lặp lại và sự phản đối chỉ càng làm cho waltz ngày càng lan rộng. Sau Cách mạng Pháp, giai cấp tư sản nhanh chóng nồng nhiệt đón nhận waltz. Riêng Pari đã có tới gần 700 vũ trường khiêu vũ cổ điển! Một du khách người Đức khi đến Pari vào năm 1804 đã nói:
“Tình yêu đối với điệu waltz cũng như sự du nhập của điệu nhảy có nguồn gốc Đức này khá mới mẻ và đã trở thành một trong nhưng mốt mới dân dã kể từ sau chiến tranh, giống như thuốc lá vậy”.
Điệu waltz lần đầu tiên được giới thiệu ở Mỹ là vào năm 1834 ở Boston. Lorenzo Papanti, một vũ sư người Boston, đã trình diễn tại dinh thự Beacon Hill của phu nhân Otis. Nhiều người trong giới thượng lưu đã rất kinh ngạc trước những gì mà họ gọi là “một cuộc trình diễn thô tục”. Đến giữa thế kỷ 19, waltz mới có một vị trí vững chắc trong xã hội Mỹ.
Âm nhạc đóng một vai trò rất quan trong trong khiêu vũ, và mọi điệu vũ đều phụ thuộc vào sự tương thích của nhạc nền. Điệu waltz đã trở nên nổi tiếng khoảng năm 1839 nhờ 2 nhà soạn nhạc thiên tài người Áo – Franz Lanner và Johann Straus. Đây là hai nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của thếy kỷ 19, họ đã đặt nền tảng cho điệu waltz Viên, một phiên bản tốc độ nhanh của waltz.
Trong khoảng thế kỷ 19, hai phiên bản khác của điệu waltz cũng bắt đầu phát triển. Một điệu có tên là điệu nhảy Boston, với nhịp điệu chậm hơn và các bước di chuyển dài hơn. Mặc dù điệu nhảy này không còn tồn tại sau chiến tranh thế giới I, nó vẫn giúp phong cách nhảy của người Anh, hay còn gọi phong cách toàn cầu phát triển đến tận ngày nay. Biến tướng thứ 2 của waltz là một điệu nhảy với phong cách một bước dài bằng 3 phách. Điệu nhảy này vẫn còn cho tới ngày nay.
Điệu Waltz thường thấy trong những bản nhạc nhẹ, dân ca và nhạc cổ điển từ châu Âu. Tại Việt Nam, nó thường được được viết trong những bản nhạc trước năm 1975.
Một số bản nhạc viết ở điệu Waltz:
Danube Waves
Le beau Danube bleu
Danse Villageoise (Beethoven)
Valse năm Si Mineur (Waltz B Minor) (Frédéric Chopin)
Greensleeves (Dân ca Anh)
Valse des Fleurs (Tchaikovsky)
Một số nhạc Giáng sinh...
Video
Valse
http://www.youtube.com/watch?v=IuLB1nQD0CU
(còn nữa)
click để xem các chủ đề.... http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét