Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

ABC-Quyển Truyện Rách Trang


Click xem các tên bài viết   http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat  
-------------------------------------------------------------
Năm tháng qua, cát bụi và bão tố
xua tan đi mộng ước thuở nào.
Tôi đã quên giọng em trìu mến,
cả hình em, những đường nét thân thương.
(thơ Puskin)
- Chiều vợ thiếu gì lúc mà để đến nỗi ra kho xuất hàng cũng phải mặc cái áo da mới vợ sắm cho - tôi nói đùa để tránh vẻ áy náy của cậu em rể đã đến giao hàng muộn mất nửa tiếng. Hưng cũng cười, nụ cười thật hiền: ”Vợ em khôn lắm, biết ra kho với anh mới bắt diện bằng được chứ hôm kia đi sinh nhật đứa bạn một mình, mặc cái áo khoác cũ chẳng thấy cô ấy có ý kiến gì cả”. Từ khi quyết định thu vén về nước, tôi hay gọi điện cho em gái, nói chuyện, dặn dò mọi việc. Tôi lo lắng nhất là sự hoà thuận gia đình của hai đứa. Dung lại là con út, cũng mắc chút đỏng đảnh của cái bệnh con út. Hôm qua, gọi điện hẹn lên lấy hàng lần cuối, tôi cũng phải dặn Dung thêm rằng ở lại làm ăn nơi đất khách quê người cần nhất là phải giữ thân, giữ sức khoẻ, giữ chồng ... sau mới đến tiền. ”Cô phải học con gái Ba Lan ấy - tôi nhắc - đã chắc gì họ yêu chồng, lo và thương chồng bằng đàn bà Việt Nam mình, nhưng lại biết rất rõ các ý thích của chồng mình, biết chiều các ý thích đó. Đàn ông tuy nói là lo những cái lớn nhưng lại dễ chết vì những cái nhỏ bình thường hàng ngày đấy”. Dung cười qua điện thoại: ” Có anh nửa đời người sống ở châu Âu mới có tính ấy chứ nhà em còn mít lắm, à mà em vừa mua cho anh ấy một cái áo da, có mỗi cái thôi trong cửa hàng Mariot. Mặc lên vừa khít, da bò Tây Ban Nha, trông cũng ra dáng lắm”.
Thế là tai hại làm sao, xếp hàng lên xe xong, lúc viết hóa đơn và giấy vận tải hàng Hưng bỗng dưng như sực nhớ, thò vội tay vào lục các túi của cái áo da Tây Ban Nha. Cậu ta thay áo quên mất hộp dấu công ty trong cái túi áo bông để lại. Có tìm nữa cũng thế thôi. Cái áo da đen nhánh, đen như lần đi lấy hàng này vậy - phải chờ thêm nửa tiếng nữa để Hưng phóng xe về nhà lấy dấu và như vậy khó có thể vượt qua vùng núi Skawa nằm giữa đoạn đường Varsava về Krakov trước bốn giờ chiều, khi mà sương mù sẽ đổ xuống dày đặc.

Và đúng như nỗi lo lắng vậy, một buổi chiều khó quên, chiếc com-bi đầy hàng lúc cài số hai lúc xuống số một, lò dò từng bước trong sương mù. Đèn pha cũng chỉ chiếu được bốn mét, vạch đường lờ mờ. Tôi tắt đài đi, mọi âm thanh không còn nữa, một sự im lặng thận trọng. Chỉ còn lại tiếng rì rì của ô tô, chắc máy nóng lắm đây. Cứ một lúc tôi lại ấn còi dài để báo cho xung quanh biết sự tồn tại của mình, để tránh đụng với xe khác, với những chú hươu rừng ngớ ngẩn hay lang thang qua đường hoặc đứng ngây ngô nhìn đèn xe. Chỉ cần đi chậm, thật chậm, dán mắt xuống đường, bám sát vạch đường để khỏi lao xuống vực. Không có phải lo vượt, lo tránh. Cũng không lo lạc vì chỉ có mỗi con đường ô tô về Krakov trong vùng núi này và tôi cũng đã lái xe qua nó không biết bao nhiêu lần. Đâu đây, bên phải có một vách cao đầy dây leo giống như ở quê tôi. Phía trước thoải xuống là nơi năm xưa xe bỗng dưng xịt lốp, cũng may đi chậm, không bị mất lái. Thôi, lần cuối cho vui vẻ anh bạn ạ, chúng mình sẽ chia tay một cách bình an nhé - tôi dỗ con đường.

Sương mù mỗi lúc một dày thêm. Tôi căng mắt không dám chớp, chốc chốc lại bật cần gạt nước lau kính để nhìn. Chắc vẻ mặt của mình trịnh trọng, buồn cười lắm nhỉ. Thủy nhìn thấy nàng lại trêu mà xem: ”Anh không làm thơ đấy chứ? ”. Thơ à! Người ta cũng có nhắc tới sương mù trong thơ. Nó để gợi nỗi nhớ hay một cái gì quen thuộc đã được lặp đi lặp lại. Nói chung mọi thứ cần cho thơ đều lặp lại, có sẵn như các quân trong bộ xếp hình. Vợ tôi cũng phải kêu : “Thôi anh! thơ có từ lâu, người ta làm hết còn đâu anh làm”. Sương mù ơi, cũng chỉ là cái tên thôi, ở xa xa cho các nhà thơ gọi, cùng lắm là mượn lại của nhau, chứ chả có anh nào ngốc nghếch chui vào mò mẫm trong cái mờ mịt trăng trắng cuộn từng bối đến ngây ngô như thế này đâu, cực nhọc và mạo hiểm.
Cứ như vậy, vừa nựng sương mù vừa dỗ cái xe, máy chắc nóng ran lên rồi, kim chỉ nhiệt độ đã nằm ở vạch đỏ, chậm như sên, hơn một giờ đồng hồ rồi cuối cùng tôi cũng bò qua được bên kia núi. Xuống dốc rồi, vùng núi sương đã ở đằng sau, xa xa đã thấy những ngọn đèn của làng nhỏ ven đường. Tôi mở nhạc, tăng ga cho xe chạy nhanh. Kim chỉ nhiệt độ từ từ trở dần về vạch xanh. Tiếng hát của Demi Ruso bài “Vĩnh biệt tình yêu” vừa dứt, tôi bỗng thèm nghe nhạc không lời Chopin, lại thèm nghe cái Da diết của bản Polonais trên con đường mà tôi phải đi hết, đi nốt lần cuối và có lẽ không bao giờ trở lại nữa.

Tôi giữ lái với tay trái để trên đùi, tay phải với mở ngăn hộp xe lấy băng. Bỗng cả mấy cái băng bật xổ ra từ cái ngăn chật ních mọi thứ lộn xộn. Tôi vội giơ tay đỡ và đúng lúc đó có một cái gì bị hẫng dưới bánh xe. Tay phải không kịp thu về, tay trái lại ở vị trí bất lợi nhất. Chỉ một nháy mắt, xe mất lái, lao xuống ruộng, có lúc bánh trước rồi bánh sau đã nảy trên không. Tôi ghì tay lái , chao phải, chao trái nhưng không được phanh hết, phanh hết sẽ lật. Mọi việc diễn ra nhanh quá. Một tiếng rầm, cả người tôi chồm lên, chiếc dây an toàn níu vai lại. Thế là xong, cả một cái cổng gỗ bật ra đè lên xe tôi chết đứng. Tôi ngồi rũ ra, vai, tay mỏi dừ. Phải đến hai chục người tíu tít chạy lại. Đang có cuộc vui gì đó - tiếng nhạc trong nhà, trong sân vẫn vọng ra. Đám thanh niên hò reo nâng, dỡ cái cổng ra khỏi xe. Tôi cởi dây an toàn nhưng không mở được cửa xe đã bị xô méo, đành lồm ngồm chui ra ở cửa bên phải,chân dẵm trượt trên mấy cái băng và đồ lề rơi ngổn ngang trong xe.
Chiếc xe đầu trái bẹp méo, đèn thụt vào như cái mắt hiếng, vẫn sáng bướng bỉnh như không có gì xảy ra. Tiếng hát trong xe vẫn âm vang tha thiết - “Anh mãi mãi đợi em nơi đây ”. Mấy con chim sếu bay qua kêu quang quác, xa xa phía tây một chút tia nắng đỏ ối còn sót lại vướng trên dải rừng xanh thẫm. Tôi bỗng cảm thấy nhẹ bỗng và trống rỗng như một đứa trẻ mới sinh. Tiếng cười, hình như là của tôi, bắt đầu là của tôi - ngớ ngẩn đến mất trí. Mấy đứa trẻ con cười theo, rồi cả lũ thanh niên cũng cười. Bỗng tất cả im bặt, đột ngột khiến tôi như tỉnh lại. Một ông già cà nhắc đi từ trong sân ra, chắc là chủ nhà. Ông ta lên tiếng trước: ”Anh không đau gì chứ, có quá chén không đấy”. Tôi lắc đầu xin lỗi và rút túi ra năm tờ một trăm ngàn Złoty ( tiền Ba Lan - khoảng mười lăm đô ) nói trả đền cái cổng. Phải giải quyết nhanh tránh sự can thiệp của cảnh sát giao thông, vừa mất tiền, mất thời giờ, lại còn hàng nữa. Ông lão cầm tiền, quay lại nhìn cái cổng bị bung ra, gẫy mất mấy thanh gỗ, ngẫm nghĩ, đánh giá thiệt hại, giữ lại hai tờ còn trả lại tôi, rồi còn bảo bọn thanh niên xúm lại đẩy xe lên con đường đất dẫn vào sân. Xe vẫn nổ được máy, nhưng bánh trái bị xát. Ông lão bảo một cậu vào lấy búa tạ ra, kích xe nghiêng một chút và cứ thế anh chàng cúi xuống đập cật lực vào trục trước. Thấy bánh xe đã quay không xát nữa tôi cám ơn, bảo thôi.
Khi vòng xe bò lên được đường cái tôi ấn thử còi. Một âm thanh vang lên rồi tắt ngấm trong không trung mờ tối. Còn hơn trăm cây số nữa. Tay lái bị vẹo hơi nhiểu, kích chật vào người. Dù sao vẫn dễ hơn đi trong sương mù. Tôi giữ tốc độ đều đều năm, sáu mươi cây số giờ. Kim chỉ nhiệt độ lại lên vạch đỏ, hơi nước bốc lên mù mịt trong xe. Cứ đi được một đoạn khoảng dăm ba cây số tôi lại phải dừng xe cho nguội máy và lau kính. Ướt quá, ống dẫn nước chắc bị vỡ. Mãi đến nửa đêm tôi mới đưa xe đến bãi đất có ngôi nhà gỗ bỏ hoang ven rừng và quyết định vòng xe ra đỗ khuất sau ngôi nhà hoang đó. Một cảm giác kỳ lạ đã xua ngay nỗi lo âu vừa nhen lên - bóng đêm, ngôi nhà gỗ hoang và cả khu rừng đã đón tôi cùng chiếc xe hàng vào lòng. Cũng không thấy đói gì cả, chỉ buồn ngủ. Thôi ngủ nhé, không chừng sẽ chẳng bao giờ dậy nữa, và báo chí ngày mai sẽ đăng ảnh… Tôi bỗng bật cười tự mắng mình - vớ vẩn, chết thì đã chết lâu rồi. Tám năm trước còn giảng dạy ở trường đại học Sahara Algerie tôi sống một mình trơ trọi trong căn hộ ba phòng trên tầng bốn của một chung cư xây dở giữa sa mạc. Buồn quá, buổi tối tôi vẫn phải đi bộ vào câu lạc bộ trong trường xem vô tuyến. Nửa đêm, hết chương trình, trên vô tuyến vang lên tiếng đọc kinh Coran - là lúc tôi rảo bước, trèo qua cổng sau của trường, lầm lũi kéo áo, mũ che gió bụi, tay cầm gậy, tay cầm hòn đá, chân đạp lên sỏi cát đi vào hoang vu trở về nhà. Những con sói, những con chó hoang lởn vởn lúc xa, lúc gần, theo tôi cho đến tận bậc cầu thang. Tôi chưa bị chúng tấn công bao giờ. Có hôm lúc trở về chẳng có con chó nào xuất hiện, đe doạ, tôi lại thấy trống trải, thấy thiếu hụt, sa mạc như vắng rỗng hơn. Bầu trời đầy sao, người đi theo hướng sao hay lạc trong sao! Cứ thế, tôi nửa ngồi nửa nằm, co ro chật cứng, thả trôi một đêm bồng bềnh trong cái xe bẹp đầu, lẫn lộn thời gian - lẫn lộn không gian - lẫn lộn thực hư.
---
Tiếng chó sủa, cả tiếng chim hót khiến tôi ngỡ ngàng dụi mắt. Con dao giấu trong tay áo đã rơi xuống khe đùi. Tôi sớm nhớ lại ngay những chuyện xẩy ra. Qua cửa kính xe một cô bé tuổi chừng mười hai, mười ba đang đứng nhìn tôi chăm chú, hai tay nắm chặt sợi dây xích cổ một con chó to. Tôi cũng nhìn lại dò hỏi. Có một lần nào đó trong đời tôi đã nhìn kiểu thôi miên như thế và cũng một ánh mắt đau đáu nhìn lại, Không nhớ được! Tôi lắc đầu mạnh mấy cái để trở lại thực tại: ”Ây , cô bé, gần đây có chỗ nào sửa xe không? Xe chú bị lao xuống ruộng ở Kielse tối qua, chắc bánh trượt phải con nhím to bò qua đường”.
- Có - cô bé như bừng lên, hồ hởi - Bố cháu chữa xe trong làng..Bố mẹ cháu về Việt Nam rồi nhưng còn Iasec sẽ chữa xe cho chú.. Mà con nhím không sao chứ chú ?
Thế là OK rồi. Tôi bảo cô bé chui vào xe và tống ngay con chó ngồi lên mấy thanh ba gác trên nóc xe. Nó nghe lời cô chủ không chút chút do dự. Chó tây khôn thế. Hoá ra mẹ em là người Việt Nam, làm dâu Ba Lan. Bố mẹ tuần trước về Việt Nam thăm bà ngoại ốm nặng. Em ở lại với ông bà nội. Claudia có mái tóc mầu hạt dẻ, đôi mắt đen nâu. Khó có thể nhận ra được một chút gì của quê hương tôi trên khuôn mặt em ngoại trừ ánh mắt nhìn. Cái nhìn cứ là lạ, cứ xa xa, vời vợi, cứ như tìm kiếm, mong mỏi đến nỗi khi đi rồi cảm giác nó vẫn theo mình. Thấy ở đâu nhỉ . Ừ, phải rồi, những đôi mắt lộ ra giữa cái khăn quàng đầu phủ mềm mại và cái mạng che gần hết mặt. Những đôi mắt Ả Rập to đen, mênh mang, biết nói. Nhanh thật, thế mà cũng đă gần mười năm rồi.
Nhà Claudia ở ngay đầu làng. Em nhảy xuống xe, mở cổng và gọi chú Iasec. Một chàng trai cao to, tóc hung dài buộc túm ở gáy, vẻ mặt hiền lành giúp tôi đánh xe qua sân có hai bên vườn đầy hoa hồng, hoa trắng và cả hoa các màu khác nữa, rực rỡ, rồi vào cái xưởng đằng sau nhà. Tôi nhủ thầm, cái xưởng to, đàng hoàng còn hơn cả xưởng của lão Toni tôi quen chữa xe ở Crakov. Mở nắp xe ra, thấy ngay cái ống đẫn nước làm mát máy hình chữ U bị bật gãy. Thảo nào nước chẳng chảy hết vào khoang, máy chẳng nóng. Chàng trai bảo tôi cứ yên tâm, máy còn ngon lắm, đến trưa sẽ xong. Có tiếng chào đằng sau, tôi quay lại. Claudia và cả hai ông bà em đã đứng ngay sau xem chúng tôi lúi húi với xe từ bao giờ.
-Pan ( tiếng Ba Lan là ông, ngài ) cứ để mặc nó chữa, lên trên nhà nghỉ đi - ông già bắt tay tôi - tiếc là Iana đưa vợ về Việt Nam chứ không thì nó có thể mời anh ăn những món ăn của các anh do tự tay nó làm. Nó say mê với các món ăn châu Á lắm.
Tôi dặn Iasec xem kỹ thêm gầm xe rồi theo họ lên nhà. Chúng tôi ăn sáng xong, hai ông bà đi làm vườn, Claudia phải giải một lô bài tập hình và viết một bài luận. Em học lớp sáu. Trường cũng ở ngay trong làng.
- Nhà có nhiều băng hát Việt Nam nhưng mở nhạc thì cháu không học được. Hay chú đọc sách nhé - thế là cô bé chạy ra khỏi phòng và trở về với một lô sách, báo, tạp chí tiếng Việt. Tôi bảo cô bé thôi, từng ấy là đủ rồi và giục bé học đi. Tôi bê tất cả ra ban công, gác chân lên thành, ngửa người lên chiếc ghế đu, nhắm mắt thở nhè nhẹ nhưng cũng chỉ thiu thiu được một chút. Lạ chỗ quá không ngủ được. Nhổm dậy, kếo cái bàn nhỏ đựng sách báo lại bên. Có mấy quyển truyện được bọc rất ngay ngắn. Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh này. Đúng là đàn bà thich thơ đàn bà. Thi nhân Việt Nam, hay đấy - tôi để riêng sang bên. Lá diêu bông của Hoàng Cầm, Cây phong non chùm khăn đỏ của Aimatov, Sợi tóc của Thạch Lam - sách hiếm quá và bỗng dưng tôi như bị sững lại khi mở một quyển sách bìa bọc mầu tím đã cũ. Tập truyện ngắn của Chekhov. Tôi đã đọc nó rồi. Có một thời xa tưởng đã quên. Và tôi thần người ra, tay tôi đã dở đến truyện Một câu đùa. Một trang bị xé rách mất nửa nhưng đường rách rất khéo, cố tình. Tôi bồi hồi quay nghiêng để đọc câu thơ mực tím viết rất nhỏ dọc giữa hai trang
Cớ sao lại xé! Người đâu...
một trang - hai nửa , tìm nhau thế nào?
Tôi lặng đi rất lâu, ngón tay xoa trên trang rách. Nó như còn đau, giữ lấy những ngón tay của tôi. Và tôi cũng ở tâm trạng như tác giả của chuyện “ Một câu đùa ”, tự hỏi mình, không hiểu sao hồi đó tôi lại vô tình như thế, lại xe rách trang truyện được người ta nâng niu, giữ gìn như thế. Tôi đăm đăm nhìn nửa trang truyện dở dang. Một nửa ở đâu, mất khi nào? Chịu, không thể nhớ nổi nữa. Lần cuối cùng thấy nó kẹp lẫn với những câu thơ nháp vội, những hình vẽ nguyệch ngoạc trong quyển vở ca rô giá bốn tám cô pếch mua ở sân ga cửa khẩu Zabaical lúc rời Liên Xô. Một tiếng thở dài. Cho Ai ? không! Cho nhiều lắm, cho cả những mộng hoài thuở ấy.
---
Thuở ấy đã hơn hai mươi năm rồi. Tôi mới tốt nghiệp ngành vật lý kỹ thuật ở Liên Xô, về giảng dạy ở trường Đại Học Tại Chức Hà Nội. Nói là trường Đại Học chứ chỉ có mấy lớp học tường đất mái tranh len lỏi giữa các ruộng rau, ao cá, nhà dân trong khu Đồng Tâm gần Ngã Tư Vọng. Tôi sống trong một chái nhà lá trường vừa mua lại của dân. Chính dạy môn cơ học kết cấu, sống cùng tôi, cũng vừa tốt nghiệp trường xây dựng Moscva, có mẹ và chị nhà ở bên kia cầu Đuống. Thỉng thoảng mưa gió cậu ta mới nghỉ lại còn là đi xe đạp về nhà luôn sau giờ lên lớp. Tôi cũng cùng hoàn cảnh như Chính nhưng mẹ và chị ở xa. Ở Hà Nội tôi không có họ hàng, người thân. Thường ngoài giờ lên lớp tôi hay đến thư viện quốc gia đọc sách, chọn chỗ ngồi ở tầng hai, bàn cạnh cửa sổ nhìn ra đường phố có hàng cây phượng to. Nói chung tôi cũng chỉ như một người ngồi dở sách, nhìn dòng người đi lại ngược xuôi, nhìn cuộc sống trôi đi bên ngoài, qua cái cửa sổ. Mãi rồi, một buổi tối thứ bảy cuối thu, thư viện đóng cửa sớm. Tôi dắt cái xe cuốc ra khỏi cổng, một cơn gió lạnh bơ vơ. Đi đâu bây giờ ? Tôi tần ngần rồi lên xe . Đi chứ, đi đâu ! Và tôi vòng qua Tràng Thi ra Quang Trung, đường phố của hàng cây me, cây hoa sữa. Đến hồ Ha Le tôi quay xe lại. Đi nữa thì về nhà, tôi chưa muốn. Ven hồ, những bóng đôi dưới những bóng cây. Tôi thả lỏng mình trên yên xe, hình như gió kéo tôi đi, kéo chạy trốn hay đi tìm. Gió thu như đã hiểu được tâm trạng của người con trai vừa tròn hai bốn tuổi.
Vòng xe lên Bờ Hồ lung linh ánh điện, hàng quán dập dìu tiếng nhạc, tôi bỗng thèm một cốc cà phê nóng, một chỗ ngồi nghỉ. Nhưng tôi sực nhớ là trong túi ngoài thẻ thư viện, giấy đăng ký xe đạp chỉ còn mấy chiếc vé ăn tập thể. Ngày kia mới lĩnh lương, có mấy nghìn đã vá xe sáng nay rồi. Và bộ dạng này cũng không thể vào đâu được. Đôi giày da, cái quần bò nhung trông không đến nỗi nào nhưng bên trên tôi lại khoác cái áo bông màu xanh đen cũ rõ những miếng vá ở vai, cổ tay. Cái áo bông đó của anh tôi gửi lại cho tôi khi nhập ngũ. Hai năm sau anh đã hy sinh. Tuần trước kẻ trộm bẻ khoá vào nhà khi tôi đi vắng, lấy sạch quần áo của tôi. Nó chỉ chừa lại sách vở và chiếc áo bông cũ thân thiết này .
Tôi tiếp tục đạp xe vòng vèo qua các phố cũ rồi quay về, bỗng thấy trên vỉa hè phố Ngô Quyền có mấy người đang đứng đợi ai, có cả mấy chiếc xe cuốc nữa. “Uấn, làm gì ở đây đấy, cả Khang, Thắng nữa, chờ ai vậy, có vụ gì đấy?” - tôi dừng xe, nhận ra mấy ông bạn học năm trên nhưng cùng ngành. Họ tốt nghiệp trước tôi và được về dạy ở một trường Đại học chính quy lớn ở Hà Nội. Tất cả đang chuẩn bị cho một trận đánh, đúng hơn là đang dàn dựng một vở kịch về tình yêu. Nhân vật chính là anh Tùng hai tám tuổi dạy ở khoa khác. Có một cô sinh viên tên là Kim Chi yêu thầy... và thầy đổ. Tôi dám đánh cuộc rằng cô nàng ngồi ngay ở bàn đầu. Những nữ sinh ngồi bàn đầu vô ý thức sẽ có thể làm hỏng hết bài giảng. Đúng ra phải đưa vào nội quy ngồi bàn đầu một số điều như cấm kỵ như cắn môi, liếm môi, cấm cười gió, nheo mắt và những điều khác nữa. Nhưng Kim Chi là cành vàng lá ngọc. Ông bố, theo gợi ý của cấp trên và theo ý muốn cấp trên của cấp trên, đã đặt nàng xong rồi, thuận theo chữ “môn đăng hộ đối”. Hiểu rằng giải thích cho cặp uyên ương thầy trò này sẽ rất mất thời giờ, ông ấy đã gọi ngay dây nói cho một vị lãnh đạo của trường và sau đó khoa của anh Tùng có ngay một cuộc họp bất thường phổ biến về đạo đức, tư cách của người cán bộ giảng dậy và phương hướng cử đi đào tạo nghiên cứu sinh ở nước ngoài sắp tới.
Kim Chi được chuyển sang lớp khác, còn anh Tùng không thấy chơi bóng chuyền buổi chiều nữa, nói bị sai khớp vai. Mọi nông nổi đã qua, mấy anh em trẻ quyết định giúp Tùng lấy lại tự tin, vả lại nhà vốn con một, cũng đến tuổi rồi. Nhân vật nữ được chọn tên là Hương, sinh viên trường Đại học sư phạm, trẻ hơn Kim Chi một tuổi và xinh hơn vài điểm. Đấy là theo lời của ông mối Uấn. Bố Hương là giáo viên trường Chu Văn An, mẹ làm việc ở thư viện trường Văn hoá. Khang rủ tôi nhập bọn cho đủ năm người, lấy số may nhưng Uấn nhìn tôi vẻ rất ghi ngờ: ”Thằng này nó mới về , trông còn Tây, lại văn chương hoa mỹ lắm, phải duyệt nhân sự cẩn thận đã ”. Tôi hoảng quá phải chìa ngay cái áo bông cũ vá cho hắn xem và hứa sống chết là đi cho đủ số đẹp, đi học kinh nghiệm của các bậc đàn anh thôi. Khang vốn tính cẩn thận ra luôn điều kiện là không được nói ngang, nói linh tinh. Tôi mừng quá chỉ vào cổ họng nói :

- Cơ la nut ( xin thề - tiếng Nga ), sẽ không nói một câu nào, coi như viêm họng nặng và đặt đâu xin ngồi đó. Uấn vẫn còn đòi thêm tôi được một lời hứa danh dự là sẽ không gây ra rắc rối gì ở cái địa chỉ đến đó thì Tùng xuất hiện, com lê, cà vạt nghiêm chỉnh. Chúng tôi đi ra phố Đặng Thái Thân gần đó, rẽ vào một cái sân rộng xung quanh có mấy ngôi nhà một tầng cạnh một ngôi nhà tập thể bốn tầng mới xây, đèn rọi sáng chiếc cầu thang được quét dọn sạch sẽ. Uấn như đã đến nhiều lần, quen thuộc với địa hình, khoá xe dựng ở chân cầu thang. Tôi dựng xe cuối cùng, bên ngoài, loay hoay với cái khoá xích bỗng dưng sao bị hóc. Khoá mãi mới được, cũng hay, kẻ trộm sờ vào chắc cũng chịu, lúc ngẩng lên đã chẳng thấy ai cả. Tôi vội chạy lên theo, các tầng mọi nhà đều đóng kín cửa cả. Đến tầng bốn ngó ngó hành lang trái thấy có một nhà cửa mở hé, ngổn ngang giày dép cởi ngoài. Tôi nhận ra đội hình đã bỏ rơi mình. Mặc kệ, tôi cũng cởi giầy bước vào, gật đầu thay câu chào ( vẫn nhớ lời thề, không mở miệng ). Một cái bàn giấy, đủ bánh kẹo, thuốc nước, kê ngang giữa nhà. Bố mẹ Hương ngồi tiếp khách một bên, sau lưng là cái tủ đứng chia nhà thành hai phòng. Ngồi dối diện, quay lưng ra ngoài là Khang, Thắng, còn chàng Romeo thì ngồi giữa. Ông mối Uấn ngồi chủ toạ đối diện tờ lịch Trung Quốc có hình sông núi mây gió treo trên tường. Anh ta đang vào đề, đang bay bổng, say sưa. Chỉ có bà mẹ, vẻ mặt phúc hậu định đứng dậy nhường ghế cho tôi. Tôi vội để hai tay lên ngực, xoè lòng bàn tay ra hiệu không dám, ngồi ngay xuống cái giường cá nhân kê cạnh cái bàn con sát cửa ra vào.
Bà mẹ gọi Hương mang nước ra rồi câu chuyện vẫn cứ tiếp tục , hình như đang sang đoạn lắp ghép tầu vũ trụ hay về sự sống ngoài trái đất gì đó. Còn tôi, như bị lãng quên, ngồi một mình trên cái giường con giống như cái giường ở tập thể của tôi nhưng chiếu giải trên sao mà đơn sơ, mà thẳng, đẹp quá. Tôi quả thật chưa bao giờ có ý nghĩ là trải chiếu cũng có thể khác nhau đến thế. Cạnh cái gối trắng hồng ở đầu giường có tập truyện ngắn của Chekhov. Tôi đã đọc ông này bằng tiếng Nga rồi, cũng thích. Không biết tiếng Việt họ dịch những chuyện gì. Liếc kín đáo lên chiếc gương nhỏ treo trên cái bàn học con đầu giường, tôi thấy cả hội vẫn đang say sưa, anh Tùng và ông bố đã bắt đầu tham gia câu chuyện. Chỉ có đôi mắt bà mẹ có lúc vẫn đưa nhẹ về phía tôi. Không sao, cái nhìn bao che quá. Tôi cầm quyển truyện để lên bàn, tay chống cằm nghiêng, mở ra xem. Tình cờ dở đúng chuyện “Một câu đùa ”. Tôi bắt đầu đọc, rồi mải mê đọc, rồi quên hết xung quanh. Tôi không tồn tại hay đúng hơn là lạc vào một thế giới riêng của mình, của sườn đồi mênh mang tuyết trắng có chiếc xe trượt lao vun vút, của tiếng gió thổi hay tiếng gọi từ đâu: ”Anh yêu em, Nadenka ”. Có hơi thở nhẹ bên cạnh, có mùi hương nhẹ lan sang, quấn lấy tôi. Tất cả là thật - em đã ngồi xuống bên cạnh tôi, bàn tay vẫn cầm đĩa chén nước chè mang ra cho tôi, tựa trên đùi. Em cũng im lặng như sợ phá vỡ cái thế giới mỏng manh của tôi và của cả em nữa. Tôi vẫn dở tiếp trang để đọc, lạc theo những tiếng gọi tình yêu. Em cũng hơi nghiêng về phía tôi, đọc cùng tôi. Tôi đã đọc xong truyện rồi nhưng tay vẫn không dở tiếp, tay giữ góc trang chờ em, lại đúng ở mấy chữ ”Anh yêu em, Nadenka ”. Có tiếng thở dài nhè nhẹ. Tôi ngẩng lên nhìn gương, rất gần tôi trong gương, một đôi mắt đen to nhìn chăm chú. Cái nhìn đau đáu là lạ, pha chút dò hỏi, đợi chờ và cả lo âu. Tôi như bị thôi miên, mắt cũng mở to, môi dưới hơi mấp máy. Môi em hơi mím lại, chấp nhận, giục giã, nén nỗi sợ hãi đang trào lên. Và chúng tôi lại cùng đi lên đỉnh đồi để trượt xuống. Xung quanh lại gió tuyết mênh mông. Em như nín thở, em muốn nghe, và không như Nadenka, em muốn được. Tôi khẽ gật đầu và thấy trong gương mặt em bỗng tái nhợt đi. Chiếc cốc nước tuột khỏi tay, rơi xuống nền nhà, đổ ướt cả quần và bàn chân em. Hương vội ngồi xuống thu dọn mảnh vỡ, rất nhanh rồi đi vào trong, không thấy trở ra nữa.
Khi chúng tôi đứng dậy ra về bố Hương tiễn khách ra tận cửa, bắt tay từng người rất thân mật. Tôi bao giờ cũng chậm chạp nhất, lúc vào nhà chỉ tụt giày ra chứ không cởi giây, lúc ra lúng túng mãi mới xỏ vào được. Đứng lên đã thấy mẹ Hương đang nhìn tôi chăm chú, tay cầm tập truyện ngắn của Chekhov, giọng hiền dịu:”Cháu có muốn đọc nữa không thì cầm về, biết nhà rồi đọc xong đến trả cho em.”
Lúc về cùng đường chỉ còn Uấn với tôi. Uấn nói:”Ông đọc tối nay đi, mai tôi qua lấy, tôi trả hộ cho. Ông hiểu thế nào là lời hứa của Mu si na ( tiếng Nga - đàn ông ) chứ ?”.
Sáng hôm sau tôi đưa cho Uấn quyển truyện. Tối qua, tôi nằm đọc, mơ màng ngủ thiếp đi thế nào làm rách mất một trang. Buổi sáng tỉnh dậy tôi tần ngần rồi xé hẳn, đứt ra. Có lần lên thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương phố Lý Thường Kiệt đọc sách. Ngồi bên cửa sổ tầng hai, tôi chợt thấy ai như em đang đi xe đạp dưới đường. Tôi vội chạy xuống, ngơ ngác. Tiếng gió xào xạc trong lá như đang diễu tôi.Trở lên, tôi lấy trang giấy xé chéo, gấp cẩn thận trong ví ra, lặng đi, thấy như mình có lỗi.
---
Có tiếng nhạc, tiếng hát da diết ”Tung cánh chim tìm về tổ ấm...” Tôi giật mình mở mắt. Claudia đang đứng nhìn tôi chăm chú, vẫn cái nhìn ấy.
- Chú Iasec gọi, xe chữa xong rồi. Cháu cũng làm xong bài luận rồi.
Tôi cầm tay Claudia bước xuống sân. Ngoài đường có một tốp người cười nói đi qua, đủ cả già trẻ gái trai. Họ đến nhà thờ. Hôm nay ở làng có đám cưới.

Viết thêm
Sau khi truyện ngắn đăng ở “ Văn Nghệ Trẻ“ có mấy người bạn muốn tìm đọc” Một câu đùa “ của Chekhov, muốn thấy Nadenka ( tiếng gọi thân mật của Nadia ) và Hương cùng một lúc. Theo ý họ tôi dịch truyện về Nadenka ( có bản tiếng Anh để họ có thể tham khảo, tiếng Nga bây giờ ít phổ biến hơn ). 
A Joke 

Anton Chekhov
(1860-1904)
It was a bright winter midday.... There was a sharp snapping frost and the curls on Nadenka's temples and the down on her upper lip were covered with silvery frost. She was holding my arm and we were standing on a high hill. From where we stood to the ground below there stretched a smooth sloping descent in which the sun was reflected as in a looking-glass. Beside us was a little sledge lined with bright red cloth.
-Let us go down, Nadyezhda Petrovna!- I besought her. "Only once! I assure you we shall be all right and not hurt."
But Nadenka was afraid. The slope from her little goloshes to the bottom of the ice hill seemed to her a terrible, immensely deep abyss. Her spirit failed her, and she held her breath as she looked down, when I merely suggested her getting into the sledge, but what would it be if she were to risk flying into the abyss! She would die, she would go out of her mind.
-I entreat you! -I said: "You mustn't be afraid! You know it's poor-spirited, it's cowardly!"
Nadenka gave way at last, and from her face I saw that she gave way in mortal dread. I sat her in the sledge, pale and trembling, put my arm round her and with her cast myself down the precipice.
The sledge flew like a bullet. The air cleft by our flight beat in our faces, roared, whistled in our ears, tore at us, nipped us cruelly in its anger, tried to tear our heads off our shoulders. We had hardly strength to breathe from the pressure of the wind. It seemed as though the devil himself had caught us in his claws and was dragging us with a roar to hell. Surrounding objects melted into one long furiously racing streak... another moment and it seemed we should perish.
-I love you, Nadya!- I said in a low voice.
The sledge began moving more and more slowly, the roar of the wind and the whirr of the runners was no longer so terrible, it was easier to breathe, and at last we were at the bottom. Nadenka was more dead than alive. She was pale and scarcely breathing.... I help ed her to get up.
-Nothing would induce me to go again,- she said, looking at me with wide eyes full of horror- Nothing in the world! I almost died!
A little later she recovered herself and looked enquiringly into my eyes, wondering had I really uttered those four words or had she fancied them in the roar of the hurricane. And I stood beside her smoking and looking attentively at my glove.
She took my arm and we spent a long while walking near the ice-hill. The riddle evidently would not let her rest.... Had those words been uttered or not?... Yes or no? Yes or no? It was the question of pride, or honour, of life -- a very important question, the most important question in the world. Nadenka kept impatiently, sorrowfully looking into my face with a penetrating glance; she answered at random, waiting to see whether I would not speak. Oh, the play of feeling on that sweet face! I saw that she was struggling with herself, that she wanted to say something, to ask some question, but she could not find the words; she felt awkward and frightened and troubled by her joy....
-Do you know what,- she said without looking at me.
-Well?- I asked.
-Let us... slide down again.
We clambered up the ice-hill by the steps again. I sat Nadenka, pale and trembling, in the sledge; again we flew into the terrible abyss, again the wind roared and the runners whirred, and again when the flight of our sledge was at its swiftest and noisiest, I said in a low voice: "I love you, Nadenka!"
When the sledge stopped, Nadenka flung a glance at the hill down which we had both slid, then bent a long look upon my face, listened to my voice which was unconcerned and passionless, and the whole of her little figure, every bit of it, even her muff and her hood expressed the utmost bewilderment, and on her face was written: "What does it mean? Who uttered those words? Did he, or did I only fancy it?"
The uncertainty worried her and drove her out of all patience. The poor girl did not answer my questions, frowned, and was on the point of tears.
-Hadn't we better go home? -I asked.
-Well, I... I like this tobogganning,- she said, flushing: "Shall we go down once more?"
She "liked" the tobogganning, and yet as she got into the sledge she was, as both times before, pale, trembling, hardly able to breathe for terror.
We went down for the third time, and I saw she was looking at my face and watching my lips. But I put my handkerchief to my lips, coughed, and when we reached the middle of the hill I succeeded in bringing out:"I love you, Nadya!"
And the mystery remained a mystery! Nadenka was silent, pondering on something.... I saw her home, she tried to walk slowly, slackened her pace and kept waiting to see whether I would not say those words to her, and I saw how her soul was suffering, what effort she was making not to say to herself:
-It cannot be that the wind said them! And I don't want it to be the wind that said them!"
Next morning I got a little note: "If you are tobogganning to-day, come for me. --N."
And from that time I began going every day tobogganning with Nadenka, and as we flew down in the sledge, every time I pronounced in a low voice the same words: "I love you, Nadya!"
Soon Nadenka grew used to that phrase as to alcohol or morphia. She could not live without it. It is true that flying down the ice-hill terrified her as before, but now the terror and danger gave a peculiar fascination to words of love -- words which as before were a mystery and tantalized the soul. The same two -- the wind and I were still suspected.... Which of the two was making love to her she did not know, but apparently by now she did not care; from which goblet one drinks matters little if only the beverage is intoxicating.
It happened I went to the skating-ground alone at midday; mingling with the crowd I saw Nadenka go up to the ice-hill and look about for me. . . then she timidly mounted the steps.... She was frightened of going alone -- oh, how frightened! She was white as the snow, she was trembling, she went as though to the scaffold, but she went, she went without looking back, resolutely. She had evidently determined to put it to the test at last: would those sweet amazing words be heard when I was not there? I saw her, pale, her lips parted with horror, get into the sledge, shut her eyes and saying good-bye for ever to the earth, set off.... "Whrrr!" whirred the runners. Whether Nadenka heard those words I do not know. I only saw her getting up from the sledge looking faint and exhausted. And one could tell from her face that she could not tell herself whether she had heard anything or not. Her terror while she had been flying down had deprived of her all power of hearing, of discriminating sounds, of understanding.
But then the month of March arrived... the spring sunshine was more kindly.... Our ice-hill turned dark, lost its brilliance and finally melted. We gave up tobogganning. There was nowhere now where poor Nadenka could hear those words, and indeed no one to utter them, since there was no wind and I was going to Petersburg -- for long, perhaps for ever.
It happened two days before my departure I was sitting in the dusk in the little garden which was separated from the yard of Nadenka's house by a high fence with nails in it.... It was still pretty cold, there was still snow by the manure heap, the trees looked dead but there was already the scent of spring and the rooks were cawing loudly as they settled for their night's rest. I went up to the fence and stood for a long while peeping through a chink. I saw Nadenka come out into the porch and fix a mournful yearning gaze on the sky.... The spring wind was blowing straight into her pale dejected face.... It reminded her of the wind which roared at us on the ice-hill when she heard those four words, and her face became very, very sorrowful, a tear trickled down her cheek, and the poor child held out both arms as though begging the wind to bring her those words once more. And waiting for the wind I said in a low voice: "I love you, Nadya!"
Mercy! The change that came over Nadenka! She uttered a cry, smiled all over her face and looking joyful, happy and beautiful, held out her arms to meet the wind.
And I went off to pack up....
That was long ago. Now Nadenka is married; she married -- whether of her own choice or not does not matter -- a secretary of the Nobility Wardenship and now she has three children. That we once went tobogganning together, and that the wind brought her the words "I love you, Nadenka," is not forgotten; it is for her now the happiest, most touching, and beautiful memory in her life....
But now that I am older I cannot understand why I uttered those words, what was my motive in that joke....


Một Câu Đùa


Anton Pavlovich Chekhov
(1860-1904)

Đó là buổi trưa mùa đông sáng trong... Những hạt tuyết nhỏ trắng xóa vương lên các sợi tóc xoăn ở hai bên má nàng, lên hàng lông tơ mịn trên môi. Nàng đang cầm tay tôi và chúng tôi đứng trên một ngọn đồi cao. Từ chỗ chúng tôi đứng, mặt đất trượt dài thoai thoải, dốc xuống lấp loáng dưới ánh nắng như một tấm gương. Bên cạnh chúng tôi là một chiếc xe trượt tuyết nhỏ bọc lót một lớp dạ màu đỏ tươi.
-Chúng mình cùng trượt xuống dưới đi, Nadyezhda Petrovna!.- Tôi khẩn khoản: ” Chỉ một lần thôi! Tôi đảm bảo là chúng mình sẽ làm được, không sao đâu”.
Nhưng Nadia sợ. Độ dốc từ đôi giày cao su nhỏ nhắn của nàng đến chân quả đồi phủ băng này đối với nàng dường như khủng khiếp và vô cùng sâu thẳm. Nàng chỉ mới đưa mắt nhìn xuống dưới, hay tôi chỉ mới gợi ý ngồi vào xe trượt tuyết là nàng đã sợ, không thở được, huống hồ nếu nàng liều mạng lao xuống cái vực sâu thẳm! Nàng sẽ chết mất, sẽ phát điên.
-Chúng mình trượt đi! - Tôi cố nài:” Sao lại sợ! Nadia phải biết sợ thế là nhát, xoàng lắm đấy.
Cuối cùng, Nadia cũng nghe theo, nhưng qua nét mặt nàng, tôi biết rằng nàng liều mạng mà nghe lời tôi. Tôi đỡ nàng vào xe trượt; nàng run rẩy, gương mặt nàng tái nhợt. Tôi vòng tay qua giữ lấy Nadia, cùng nhau lao xuống.
Chiếc xe bay như một viên đạn. Gió lạnh quật vào mặt, gào rít bên tai dữ tợn, đâm vào da buốt nhói, gió như muốn giật đứt đầu ra khỏi vai. Gió mạnh đến nghẹt thở. Cảm giác như có một con quỷ nào đang túm lấy chúng tôi với một tiếng gầm rú kéo chúng tôi xuống địa ngục. Mọi vật xung quanh chảy thành một vệt dài vun vút lao về phía sau... Chỉ giây lát nữa thôi có lẽ chúng tôi sẽ chết!
-Anh yêu em, Nadia! - tôi thì thầm.
Chiếc xe trượt dần chạy chậm lại, tiếng gió và tiếng vo vo của càng trượt xe rít lúc này đã không còn đáng ghê sợ, ngực đã thấy dễ thở, và cuối cùng chúng tôi đã xuống đến chân đồi. Nadia sợ tưởng chết đi được, gương mặt tái nhợt và thở không ra hơi... Tôi đỡ nàng đứng dậy.
-Không có gì khiến em trượt lần nữa đâu! - Nàng nói và đưa cặp mắt mở to kinh dị, nhìn tôi: ” Chịu thôi! Chỉ thiếu chút nữa là em chết!”
Một lát sau, nàng dần hồi phục và đã bắt đầu nhìn vào mắt tôi với vẻ dò xét. Tôi thực sự thốt ra những tiếng đó hay chỉ là nàng đã tưởng tượng ra trong tiếng gầm rú của bão tuyết. Và tôi đứng bên cạnh, hút thuốc và nhìn chăm chú vào chiếc găng tay của mình
Nàng nắm lấy tay tôi và chúng tôi cùng nhau dạo chơi hồi lâu gần đồi băng tuyết. Hình như có điều bí ẩn làm nàng day dứt băn khoăn. Có thật anh thốt ra những lời đó không? ... Có hay không? Có hay không? Đó là một câu hỏi của lòng tự trọng, của danh dự, của cuộc sống - một câu hỏi rất quan trọng, quan trọng nhất trên đời này. Nadia chăm chăm nhìn tôi bằng cặp mắt buồn bã, nôn nóng bồn chồn.
Nàng kiên nhẫn với câu trả lời những câu hỏi của tôi như chờ mong tôi sẽ tự nói ra cái điều bí ẩn ấy. Khuôn mặt nàng thật đáng yêu biết bao! Tôi thấy rõ nàng sự day dứt ấy, nàng cần nói một điều gì, cần hỏi một điều gì, nhưng không tìm được lời. nàng thấy rụt rè sợ hãi, một cảm giác vui sướng nào đang ngăn trở nàng nói...
- Anh... - Nàng nói, mắt quay đi.
- Gì vậy? - tôi hỏi.
- Chúng mình cùng nhau... lao dốc lần nữa đi.
Chúng tôi lần theo những bậc thang trèo lên đồi. Tôi lại đỡ Nadia lên xe, mặt nàng tái nhợt, và toàn thân run ẩy. Chúng tôi lại lao xe xuống dốc, lại khủng khiếp và, gió lại gào, tiếng xe lại rít lên. Và cũng đúng vào lúc chiếc xe lao nhanh nhất, tiếng gió gào rít ghê gớm nhất, tôi lại nói:
- Nadia, anh yêu em!
Khi chiếc xe dừng lại, Nadia vội đưa mắt nhìn quanh quả đồi mà chúng tôi vừa trượt xuống, rồi nhìn tôi đau đáu, lắng nghe giọng nói thờ ơ lãnh đạm của tôi và toàn thân nàng, cả từ cái mũ, cái găng tay và dáng người , đều toát lên một cái gì hòai nghi khó hiểu. Trên gương mặt nàng như hiện lên các câu hỏi: " Điều gì đã xảy ra? Ai nói những lời ấy? Thật hay là chỉ do mình tưởng nghe được?"
Điều bí ẩn ấy làm nàng không yên lòng chút nào, nàng không chịu được nữa. Không trả lời nổi những câu hỏi trong lòng, nàng như muốn khóc.
- Chúng mình về nhà thôi? - tôi hỏi vờ.
- Không, không... Em thích... trượt xe thế này, - nàng nói, mặt ửng đỏ - Hay là cùng nhau trượt lần nữa đi?
Nadia nói rằng nàng "thích" cái trò này, thế mà khi ngồi lên xe nàng cứ run lên, gương mặt vẫn tái nhợt, hơi thở gấp, ngắt quãng vì sợ hãi như lần trước.
Lần thứ ba chúng tôi trượt xuống. Tôi thấy nàng đăm đăm nhìn lên mặt tôi. chú ý theo dõi đôi môi tôi. Nhưng tôi lấy chiếc khăn tay che miệng đi rồi khẽ đằng hắng lên mấy tiếng, và khi xe lao xuống lưng chừng đồi, tôi còn kịp nói:
- Nadia, anh yêu em!
Điều bí ẩn vẫn còn lại! Nadia lặng im, nàng đang nghĩ ngợi điều gì... Tôi tiễn nàng về nhà. Nàng cố đi thật chậm lại, chờ xem tôi rồi có nói với nàng những lời ấy không. Tôi cảm thấy trong lòng nàng đang day dứt, khổ sở, nàng đang cố dằn lòng để khỏi phải thốt lên:
- Không, không phải gió! Mình cũng không muốn tin rằng gió đã nói những lời ấy!
Sáng hôm sau, tôi nhận được một mảnh giấy của nàng: "Nếu hôm nay anh có đi trượt tuyết, đến rủ em! N... ". Từ hôm đó, ngày nào tôi và Nađia cũng lên đồi và mỗi lần lao xe từ trên đồi xuống, tôi lại thì thầm những lời đó:
- Nađia, anh yêu em!
Chẳng bao lâu sau, Nadia quen nghe những lời ấy như quen uống rượu, hay dùng moócphin. Nàng không thể sống thiếu những lời đó nữa. Thực ra, lao xe từ trên đồi xuống vẫn đáng sợ như xưa, nhưng giờ đây chính cái nguy hiểm, cái kinh sợ đó lại đem đến một cái gì đặc biệt đắm say cho những lời yêu đương ấy, những lời vẫn là điều bí ẩn và dằn vặt lòng người như trước... Kẻ bị nghi ngờ vẫn là gió và tôi... Ai, gió hay là tôi, đã nói với nàng những lời yêu đương ấy, nàng không biết được, nhưng hình như nàng không bận tâm đến điều đó nữa bởi vì như người ta nói uống rượu từ bình nào, có gì quan trong đâu, chỉ cốt say mà thôi.
Có một lần vào buổi trưa, tôi đến sân trượt một mình. Đi lẫn trong đám đông. tôi bỗng nhìn thấy Nadia đang đi về phía đồi và đưa mắt tìm tôi... Rồi nàng chậm từng bước theo các bậc thang trèo lên đỉnh đồi... Trượt một mình thật la đáng sợ biết bao, ôi, thật đáng sợ! Mặt nàng tái nhợt, trắng như tuyết, toàn thân run rẩy, nàng bước đi hệt như đến nơi chịu án tử hình, nhưng nàng vẫn cứ đi, đầu không ngoái lại. Chắc là cuối cùng nàng quyết định thử xem: liệu nàng có còn nghe thấy những lời ngọt ngào say đắm ấy nữa không, khi không có tôi ở bên ? Tôi nhìn thấy nàng tái nhợt, miệng há ra vì sợ hãi, ngồi lên xe, nhắm mắt lại và, như khi vĩnh biệt tất cả, bắt đầu lao xuống chân đồi... Tiếng càng trượt xe rít lên... Nadia có nghe thấy những lời đó nữa không, tôi không biết nữa... Tôi chỉ thấy nàng bước ra khỏi xe một cách khó khăn, gần như kiệt sức. Qua nét mặt nàng có thể thấy rằng chính nàng cũng không biết nàng có nghe được những lời đó hay không. Nỗi sợ hãi khi xe lao xuống dốc đã khiến nàng hết khả năng nghe được, phân biệt được các âm thanh, không còn khả năng để hiểu nữa...
Thế rồi những ngày xuân tháng Ba đã tới... Mặt trời như hiền dịu hơn. Quả đồi tuyết của chúng tôi bắt đầu sẫm lại, dần mất đi cái vẻ óng ánh , và cuối cùng thì tan đi. Chúng tôi không đi trượt xe nữa. Nađia đáng thương cũng không còn nơi nào để nghe những lời ấy nữa, bởi vì gió thì không còn thổi nữa, mà tôi thì sửa soạn đi Peterburg - đi rất lâu, có thể sẽ là mãi mãi.
Một lần khoảng hai ngày trước khi đi Peterburg vào một buổi chiều muộn, tôi ngồi trong khu vườn nhỏ. Một hàng rào cao có đinh nhọn ngăn cách khu vườn ấy với sân nhà Nađia... Trời hãy còn lạnh, tuyết hãy còn đọng lại dưới đám cỏ, cây cối vẫn trơ trụi, nhưng hương vị mùa xuân đã đến, từng đàn quạ bay về tổ, trú đêm kêu lên quàng quạc. Tôi khẽ đến cạnh hàng rào và ghé nhìn qua khe hở. Tôi thấy Nađia bước ra thềm và đưa mắt nhìn lên trời buồn bã... Làn gió mùa xuân sớm lướt nhẹ qua khuôn mặt nhợt nhạt rầu rĩ của nàng... Làn gió xuân gợi lại cho nàng cái tiếng gió rít trên đồi tuyết, khi nàng nghe thấy những tiếng ấy, và gương mặt nàng trở nên buồn bã lạ thường, nước mắt lặng lẽ chảy trên má... Nàng đáng thương đưa hai tay mình về phía trước như muốn cầu xin làn gió đem đến cho nàng những lời yêu đương đó một lần nữa. Và tôi, chờ khi có làn gió đến, thì thào nói:
- Nadia, anh yêu em!
Trời, điều gì đã xảy ra với nàng lúc ấy! Nadia khẽ kêu lên và khuôn mặt nàng bỗng chan hoà một nụ cười rạng rỡ. Nadia đưa hai tay lên đón lấy gió, trông nàng lúc ấy thật là mừng rỡ, xinh tươi và hạnh phúc.
Còn tôi, tôi trở vào nhà và thu xếp đồ đạc...
Chuyện ấy đã qua lâu rồi. Nadia đã có chồng, do gia đình gả hay nàng tự nguyện? - điều ấy cũng chẳng có gì đáng bận tâm. Chồng nàng là thư ký hội đồng giám hộ trẻ con quý tộc. Nadia đã có ba con. Nhưng kỷ niệm cùng nhau trượt băng và gió lúc ấy đem đến cho nàng những tiếng thổ lộ: "Nadia, anh yêu em!" thì nàng không quên được. Với nàng, điều ấy đã trở thành kỷ niệm hạnh phúc nhất, xúc động nhất, đẹp nhất trong đời...
Còn tôi, bây giờ đã cũng đứng tuổi, tôi không hiểu nổi vì lẽ gì tôi lại thốt lên những lời đó, làm sao tôi đã nói đùa như thế...

click để xem các chủ đề.... http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét