Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

ABC-Hương TN



Click xem các tên bài viết   http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat 
------------------------------------------------------------------------------------------------------
Có phải vì em mau nước mắt
mà thơ tôi bật khóc suốt chiều qua.
Tôi dỗ nó nín đi, nào hãy nín.
Hóa thành khăn lau nước mắt cho nàng.
(thơ Trần Đức Trung)

Sân bay Seremenchevo ở Moscva, một buổi trưa hè 1990. Chiếc IL-86 còn đang lướt trên đường băng, nhiều người đã nhốn nháo đứng dậy, gọi nhau, lấy đồ, nghiêng ngả lộn xộn. Phần đông hành khách là người Việt Nam, những công nhân xuất khẩu đã bỏ việc, buôn bán chạy ngoài, những người thăm thân, du lịch với những gói hàng lủng củng. Ianna gấp nhỏ tờ “ Tin buổi chiều Moscva ” cho vào túi áo. Có bài đăng về cuộc mít tinh ở Gdansk tuần qua và những câu trả lời của Lech Valencia về khả năng Công Đoàn Đoàn Kết lên nắm quyền. Lạy chúa! Anh đưa tay lên làm nhanh dấu thánh, con đường mà dân tộc Ba Lan đã đi qua là sự thử thách của Người. Trước mắt lại một con đường mơ hồ, vừa đi vừa tìm lối. Nó không dễ, có thể bị lạc, có thể phải lùi lại để tìm dấu, để suy ngẫm, thế nào cũng được nhưng chỉ xin đừng gặp lại những cảnh như buồng tắm hơi ngạt, lò thiêu xác của Phát xit Đức ở trại Auschwitz gần quê anh hay những đầu lâu xếp đống ở Phnom Penh với những hố mắt sâu rỗng mà như vẫn biết nhìn, biết hỏi, vẫn không nguôi tuôn ra những lời trách móc tự cõi nào.

Và con đường của ta, một trung uý Ba Lan vừa hết hạn phục vụ trong đội dò mìn của UN-Troop là trở về Kielse, trở về ngôi nhà có cái cổng sắt làm bằng hai cái cánh cửa và các miếng vỏ tháo ra từ chiếc xe Polonais thùng cũ bỏ đi - anh mơ màng - phải thay nó thôi, phải làm một cái cổng sắt to với những thanh dáo như ở nhà thờ, cũng phải sơn mầu nâu hạt dẻ . Mẹ sẽ thế nào nhỉ ? Chắc lại cuống lên, lại nấu ngay món xúp Flaki mà mình thích. Liệu mẹ có hợp với chiếc khăn rằn dài mà mình mua ở chợ Phnom Penh không, chắc trông lạ lắm. Cho bố thì đã có chai rượu gạo ngâm củ thuốc mua vội ở sân bay Hà Nội, thấy ghi có nhiều công dụng. Quà cho cậu em Iasec là một cái thắt lưng da cá sấu. Và cuối cùng còn lại quà cho riêng mình - mẩu vỏ mìn đã gỡ được từ thân cây dừa. Lúc đó mìn nổ bất ngờ , lạc lõng ở bờ sông gần cung điện hoàng gia Khmer. Nếu không có cây dừa đó …
Cứ miên man với những ý nghĩ vẩn vơ trong đầu, người đàn ông Ba-lan trong bộ quần áo bò thô sờn, cái túi xách tay cũng bằng vải bò, là người cuối cùng rời máy bay. Qua nhanh cái khoang ống nối là đến những hành lang vắng ngắt. Các hành khách của chuyến bay đã đi ra cả phòng đợi hành lý rồi. Chỉ mình Iana rẽ sang hành lang trái theo mũi tên xanh chỉ dưới dòng chữ “Transit ”. Một loạt phòng đợi lên máy bay. Varsava đây rồi, anh bước vào. Còn hai tiếng nữa mới đến giờ bay. Cũng đã có hơn chục người Ba Lan, có cả gia đình , trẻ con nữa. Iana lại gần cửa kính, ánh mắt bỗng chạm phải một ánh mắt đưa lên ngỡ ngàng. Tất cả dừng lại trong trong khoảnh khắc rồi người phụ nữ đó quay nghiêng đi nhìn ra cửa kính sân bay. Một chiếc máy bay của hãng Luthansa vừa nhấc mình lên khỏi đường băng một cách nặng nề. Mặt đất như vẫn níu cái vật khổng lồ màu ghi bạc đó lại, không muốn thả ngay. Khi chiếc máy bay đã treo xa ở trên dải rừng cây phía tây Ianna bỗng nheo mắt lại. Có một cái gì trắng lấp lánh từ trên máy bay rơi xuống. Chắc mình bị hoa mắt thôi, một hiện tượng quang học, một ảo ảnh. Nó thường đến với những người đi trong sa mạc - anh nghĩ thầm. Nhưng nếu không chỉ có mình nhìn thấy. Anh quay sang, bên trái ở ghế ngoài hàng trên, người phụ nữ vẫn ngồi yên lặng, hai tay úp lên đầu gối đăm đăm nhìn ra phía xa. Nàng cũng nhìn thấy, anh khẳng định. Mà thế thì đã sao, thật vớ vẩn, có cái gì quan trọng đâu. Ianna lấy tờ báo trong túi áo ra đọc nhưng vẫn không sao dứt khỏi ý nghĩ là nàng cũng đã nhìn thấy cái lấp lánh đó, cũng như anh. Và nếu quả thực như vậy thì … Từ đâu trong đầu anh bỗng loé lên ý nghĩ kỳ lạ mách bảo rằng nếu nàng cũng nhìn thấy ảo ảnh sáng lấp lánh phía trời xa thì thật kỳ diệu, một diều kỳ diệu nào đó sẽ đến, sẽ thay đổi cả cuộc đời anh.
Mái tóc đen dày của nàng cuộn búi cao , mấy sợi tóc tuột vương trên làn da trắng mịn làm đôi vại tròn duyên dáng lại càng thêm quyến rũ. Còn đôi mắt quay đi kia, anh nhớ ra rồi. Đôi mắt của vũ nữ múa điệu Apsara. Anh đã đứng lặng rất lâu ngắm bức tượng vũ nữ đó trong một ngôi đền Khmer…Một sự cân bằng hoàn hảo. Một cái Tĩnh tuyệt mỹ từ bức tượng, bắt đầu từ đó, như lan toả ra xung quanh, che chở và khoan dung. Và một đôi mắt mở to với một cái nhìn huyền diệu khó tả. Iana đã nhìn, tìm rất lâu trong đôi mắt đó và cứ như bị thôi miên, lẫn lộn hết. Chỉ thấy thời gian đầy trong đôi mắt, Quá Khứ và Tương Lai. Buổi chiều về Phnom Penh anh đã đi tìm xem những bức tượng vũ nữ trong các cửa hiệu bán đồ lưu niệm. To nhỏ khác nhau,có tượng gỗ,có tượng thạch cao nhưng đôi mắt đó anh không gặp lại. Hôm sau anh đã rời Cambodia, thăm ngừơi bạn cũ hiện là nhân viên sứ quán Ba Lan ở Hà Nội trước khi bay về nước.
---
Đất nước của Iana, Ba Lan năm 1990 rồi tiếp năm 1991 chứng kiến những thay đổi chóng mặt mà chỉ ba, bốn năm trước đó không ai ngờ tới. Nhưng rồi tất cả cũng quen đi và quên đi, rất nhanh nữa là khác. Những cuộc tranh cãi, đấu đá giữa các chính khách, các đảng phái chính trị cũng lắng dần. Mà ai nghe, cứ để cho Valensa và Công Đoàn Đoàn Kết của ông ta có thời gian bộc lộ khả năng, còn lâu mới lại đến bầu cử. Những người dân bình thường còn phải lo với cơm ăn, áo mặc, nhà ở, các vấn đề của hàng ngày, phải mua, phải bán, phải trao đổi. Ba Lan trở thành một chợ giời lớn của châu Âu. Hàng hoá Trung Quốc, Thổ, Việt Nam đổ vào rồi dân các nước xung quanh nhất là dân Nga ồ ạt kéo sang mua buôn về nước họ. Cái cổng sắt to với những thanh dáo sơn màu nâu hạt dẻ đã thay cho cái cổng vá víu cũ. Iana còn muốn sửa lại cái nhà kho ở sân sau thành xưởng cơ khí sửa chữa xe nhưng cậu em trai ngăn lại. Để tiền đó mua một chiếc Lada. Nhà máy giầy ở Kamiska cách làng chưa đến trăm cây có anh bạn cùng phục vụ trong quân đội với Iana, giải ngũ về làm ở đó. Hai anh em đến mua giầy, trả trước một phần tiền, chở đi các vùng biên giới bán. Rong ruổi ở chợ nào Iana cũng gặp người Việt Nam. Họ bán hàng Việt Nam,có khi cả hàng Trung Quốc, hàng Thổ, chủ yếu là các loại quần áo rẻ tiền. Anh để ý nhưng không thấy ai giống nàng, không ai có cuộn tóc và đôi mắt đen nhung của nàng. Trong chuyến bay năm ấy nàng ngồi xa anh, tận cuối máy bay.Đến Varsava anh chờ hành lý gửi theo bị lâu quá. Chiếc va li vải bò của anh cuối cùng cũng thấy xuất hiện trên băng chuyền. Ra ngoài, anh cứ tần ngần. Nàng đã đi mất rồi, chắc có người nhà đón. Chắc nàng không nhìn thấy cái ảo ảnh hôm đó, cái ảo ảnh lấp lánh của anh.
---
Miền nam vùng “Ba Lan nhỏ “ mùa đông năm 1991, phiên chợ biên giới ngày chủ nhật cuối năm. Ba giờ sáng từ lưng đèo Mislimise nhìn thấy những chấm sáng nối đuôi nhau, vòng vèo ẩn hiện lao về phía nam. Hai anh em đã đẩy được chiếc Lada sang vệ đường, cài số, kéo hết phanh tay, lấy gỗ chèn bánh - còn hơn trăm cây đường núi nữa thì chết máy. Iasec chiều qua lấy xe đi sang làng bên chơi về muộn, thấy vạch kim chỉ dầu báo cạn nhưng vẫn nghĩ đủ đi đến chợ rồi lo sau. Thế là lên đến đỉnh đèo, cạn sạch dầu , nóng máy, may mà xe đã vượt qua được đoạn dốc nguy hiểm nhất rồi mới chết ì ra. Cậu em biết lỗi cứ cầm đèn pin đứng sau xe gần hai mươi mét, huơ lên khi có xe khác leo đến gần. Xe nào qua cũng nháy pha xin lỗi, lái tránh sang bên rồi vút đi. Phải đến gần một tiếng sau mới có một xe đi chậm lại, quẳng sang cho một hộp dầu Mobil. Thế là bị chậm mất đứt một tiếng rồi.
Đến sáu giờ sáng hai anh em mới đến được Nowytarg, thành phố du lịch trên núi sát biên giới Tiệp. Trời đẹp, lặng gió, các lều, cờ đủ màu sắc, người đi lại chen chúc ở cổng chợ. Tiếng nhạc từ các loa to treo cao vừa im bặt là oang oang bằng tiếng Ba Lan, tiếng Nga, tiếng Tiệp các thông báo về nội quy, về giá vé các ô bán hàng trong và ngoài chợ, quảng cáo các loại hàng, các hãng buôn. Ô tô đã đỗ san sát. Các côp xe, lều, giường xếp mở ra, đủ các loại hàng hoá, từ cái chổi lông đến thảm trải nhà, áo bông, áo len các loại, có cả cưa, đục, kìm, búa, phụ tùng ô tô của người Nga. Hết chỗ rồi, bên trái là bãi bán gia súc và các loại rau quả. Iana quyết định đánh xe ra hẳn bãi trống ở bờ sông, thấy cũng có tốp người bày hàng bán ở đó. Không còn lựa chọn nữa,chợ họp sớm và tan cũng rất sớm. Mở hàng là mấy cậu người Nga. Họ đã bán gần hết đống ống nhòm và dây buộc, dây leo núi, còn một ít hàng ế hỏng mang đến gạ đổi lấy giầy. Không đổi được, nghĩ thế nào họ chọn mua theo giá bán buôn luôn chục đôi, mang thử về nước bán, không bán được thì làm quà cũng xong.

Đến mười giờ.
Hai anh em cũng bán lẻ thêm được ngót nghét hai chục đôi giày nữa, rồi bỗng dưng gió thổi mạnh từ dãy núi bên Tiệp sang, tuyết ướt rơi dày mù mịt, lẫn cả mưa. Khí hậu vùng núi bất thường quá. Mọi người vội thu hàng, chạy toán loạn. Một lát bãi sông đã vắng ngắt. Iasec vào xe bật quạt sưởi cho khô sạch kính xe. Không gì bằng được ngồi trong xe, cắn miếng báng mì kẹp dăm bông và nhấm nháp ngụm cà phê trong cái phích mẹ pha cho. Iana thì rút cái chai nhỏ làm ngụm Cognac. Đường về để cho cậu em lái, giờ nghỉ ngơi chút đã, vội gì, hôm nay bán thế được rồi. Bây giờ anh mới thấy cách chỗ xe đỗ khoảng năm mươi mét hãy còn một người phụ nữ ngồi với đống hàng áo gió trên tấm ni lông phủ đầy tuyết. Chiếc áo bông nâu tím cũng đã ướt sẫm . Hình như người đó không biết làm gì đối chọi với cơn mưa tuyết bất ngờ này, đành cứ cầm một chiếc áo gió che lên đầu vậy.
- Để em chạy ra xem sao - Iasec nói.
Iana tắt quạt sưởi, nổ máy, nhìn ra thấy cậu em đang dìu người phụ nữ đó đứng dậy. Anh cài số, khéo léo đưa xe ra khỏi đống tuyết ngập bánh, đến đón họ, làm rất nhanh, giũ tuyết đóng hàng vào túi cho lên ghế sau và không quên nhét thêm cả chiếc xe kéo gập. Iasec đỡ người phụ nữ đó vào xe và nói: ”bị cảm lạnh, cứ về Kielse đã rồi tính chuyện lên Varsava sau ”. Iana rót tách cà phê nóng mời. Ánh mắt gặp nhau, anh bỗng ngẩn người - đôi mắt còn vương tuyết trên mi, mệt mỏi và ngỡ ngàng nhưng vẫn thăm thẳm mầu nhung đen, đôi mắt anh đã mang theo trong tâm trí, đã tìm suốt năm qua.
---
Tuyết rơi mỗi lúc một dày thêm, trắng xoá. Có tiếng nói ú ớ, không phải tiếng Ba Lan. Nàng đang mê sảng rồi. Anh quay xuống với tay sờ trán, nóng rực. Tức quá, trong hộp cứu thương mang theo chỉ có bông băng, kháng sinh sát trùng. Lần này về phải cho thêm các thuốc khác vào nhất là thuốc cảm, giảm sốt. Đôi môi nàng mím lại, cái khăn quàng tuột lỏng để hé ra phần cổ thon tròn trắng mịn, những sợi tóc đen vương xuống ánh ướt trên khuôn mặt xinh đẹp, vẻ đẹp Á Đông. Có phải đây là món quà cả Chúa và Phật cùng hẹn ban cho ta không. Anh bỗng nhớ câu thơ của ai đó viết.

Không có gì xảy ra hai lần
Không có gì vì một lẽ đơn sơ,
Chúng ta sinh ra chỉ có một lần
Và nhắm mắt xuôi tay cũng chỉ một lần thôi.
Dù dại khờ và vô duyên nhất trên đời,
Anh không thể hai lần mất em cùng một lúc
Và từ đâu có một tiếng nói mách với anh là chỉ có lần này nữa thôi, sẽ không lặp lại nữa, Anh không thể để mất nàng, sẽ được chăm sóc, che chở cho nàng, sẽ phải sửa lại nhà, sẽ phải bắt tay vào xây cái xưởng cơ khí sửa chữa xe đằng sau, vườn đằng trước sẽ phải trồng thêm các loại hoa.
---
Tuyết vẫn rơi, rơi mãi không nguôi, cứ như đất muốn kéo trời xuống để ôm chặt lấy, để hòa làm một thành cái hỗn độn sơ khai thuở nào. Sẽ thật đơn giản, sẽ chẳng có ai làm khổ ai nữa, sẽ chẳng còn đau buồn và tủi nhục. Những dòng lệ ấm nóng chảy trên má nàng. “Sao tuyết trắng quá và nóng thế. Sao chẳng có ai thế này. Anh ấy rủ mình lên đồi cùng trượt tuyết, đôi mắt của anh ấy nói thế nào rồi lại bỏ đi để mặc mình ở đây giữa bầu trời tuyết mênh mang này, trên cái xe trượt. Cũng chẳng cho mình biết tên “. Hương muốn kêu lên, muốn gọi nhưng có gì nghẹn ở cổ. “Nhà tôi là gia đình cách mạng , con tôi nó chỉ biết học hành, phấn đấu. Chính cô đã làm nó đến nông nỗi này.”- giọng bà mẹ chồng vẫn từ tốn, đĩnh đạc như khi xuất hiện trên vô tuyến vậy. Nàng khóc nhưng không nói được câu nào. Lâm có bao giờ nói cho nàng điều gì đâu ngoài một lần bộc lộ với nàng cái triết lý tu dưỡng học được của người bố: ” Ngu nhất là không biết những cái mình có thể được làm, ngu nhì là không biết những cái mình không được làm , nhưng ngu hơn cả là biết những cái mà mình không nên biết. Em là vợ anh thì đừng có ngu “. Bạn bè người ghen tị, người mừng cho nàng có phúc vào được một gia đình danh giá .

Chỉ có lúc về thăm bố mẹ, trở về căn hộ một phòng bé nhỏ tầng bốn trong khu tập thể gần bờ sông Hương mới lại cười, lại soi gương gặp lại mình. Mẹ nhớ nhưng rất ít đến thăm con gái. “Người ta cũng tốt thôi , họ quên mất họ cũng vì những người xung quanh hay xu nịnh quá. Bà nên thông cảm thương họ thì hơn là tự ái, khổ con Hương .” - Bố nhiều lần xoa dịu mẹ nhưng không xong - “ Cứ để thằng Lâm đi nghiên cứu sinh về, xong rồi hại vợ chồng chúng nó sẽ bảo nhau. Dù sao con rể mình cũng là một nhà khoa học, trí thức, nó sẽ biết nghĩ”.
Nhưng không kịp nữa rồi, sau lần ông bố Lâm đi họp rẽ qua Ba Lan thăm con, có lượng vốn lớn Lâm định đánh quả thuốc Tây và bị bắt giam, ra toà. Làm sao Hương có thể chịu đựng được những hậu quả mà cả nhà chồng cứ dồn, gán cho nàng. Chỉ có mẹ nàng, lạ thật, chính mẹ đã đưa cho nàng số tiền dành dụm và cả tư trang của bà: ” Con hãy bán đi , tìm cách sang với chồng. Nó đang cần con ”. Hương làm theo lời mẹ. Nếu Lâm được về, dù chịu hình phạt nào trong nước, nàng cũng sẽ đợi, rồi hai vợ chồng sẽ bỏ đi Sài gòn làm lại tất cả, hưởng cái hạnh phúc được làm người bình dị. Nếu Lâm không về, nàng sẽ ở lại cùng anh. Và nàng lại thấy khuôn mặt của anh, đôi mắt bình thản, giọng nói cũng bình thản như của mẹ anh vậy: ”Em kệ con Ba Lan ấy. Rồi anh cho nó thêm ít tiền nuôi con, cứ để nó lo xong thủ tục bảo lãnh cho anh xong rồi chúng mình sẽ trốn sang Đức, ở trong trại tị nạn ấy cũng đầy đủ lắm. Cần nhất là em đóng vai em gái anh cho khéo để nó không nghi.”Lâm còn tiếp tục nói nhưng Hương đã không nghe thấy gì nữa rồi - Lâm đã ra khỏi cuộc đời nàng.
Cũng như một số người mới sang bơ vơ ở Ba Lan, quán ăn Việt Nam là nơi nàng trú chân đầu tiên. Nhưng cũng không được lâu, cái xã hội được thu nhỏ lại trong quán ăn cũng đầy những ghen ghét, kèn cựa, thói xấu của con người. Lại cảnh bằng mặt chứ không bằng lòng, hết gữa hai đầu bếp chính là lại đến giữa những cô phụ bếp, bưng bê. Và tệ nhất là đôi mắt ông chủ Việt Nam có vợ Ba Lan cứ nhìn theo nàng như một kẻ chết đói. Có một lần, một ông già bếp trưởng ở một quán ăn khác đến chơi, gặp nàng. Nghe đâu ông ấy trước kia đã từng là nghệ sĩ ưu tú hay nhân dân gì đấy, đã đi nhiều nước lắm. Ông ấy khuyên nàng: ”Sao em lại vào làm quán làm gì. Anh sẽ giới thiệu em với lũ cháu anh, chúng nó đánh hàng trong nước sang, đến lấy mà đi bán. Vất vả nhưng em có tự do, quý lắm. Em còn trẻ, còn sức, đất này dân theo đạo, nhân hậu. Em cứ đi thử đi, đừng sợ “.
Thế rồi một xe kéo, một túi hàng, Hương lang thang khắp các chợ. Lúc đầu ở Varsava rồi sau đó nàng bạo lên, đi tầu đến các chợ tỉnh xa. Mùa đông đầu tiên xa nhà, những bông tuyết đầu tiên nàng gặp cũng ở ngoài chợ. Hôm đó gần đến Noel, nàng bán hết sạch cả hàng. Rồi tết âm lịch. Ba mươi tết, buổi tối có một người phụ nữ Việt Nam đứng giữa sân ga tỉnh lẻ vắng ngắt, chờ tàu về Varsava, ngửng mặt lên trời đón tuyết rơi. Những bông tuyết mơn man , êm ái tới tấp phủ kín mắt môi nàng, xoa đi những lo âu , buồn tủi . Và những tiếng còi tầu, những túi hàng, những vì sao cô đơn ngoài cửa sổ, những dòng sông, đồi núi, những dải rừng xanh đẫm nắng chiều, những phiên chợ, những miếng bánh mì kẹp bơ và dưa chuột ăn vội vàng đã gắn liền với nàng, là một phần trong cuộc sống nàng.
Hương cũng gặp người Việt Nam ở khắp các miền Ba Lan, biết nhiều người cũng ở vào hoàn cảnh rất éo le, vất vả. Cũng có nhiều người tốt. Có lần nàng gặp cả một nhà văn ở Hà Nội sang công tác, đứng nói chuyện, coi hàng cho nàng cả buổi ngoài chợ. Hương gửi anh ấy hai trăm đô la về cho mẹ, không có thư . Lúc về nàng thấy có tờ giấy gấp nhét trong túi hàng. Một bài thơ viết vội không có tên và địa chỉ.
Ta đi tìm những vần thơ.
Chào anh, tiếng gọi ấm đưa lạ thường.
Xinh xinh hàng xén trên giường,
Nàng bày bán ở góc đường chợ con.
Ba Lan ấy - một mùa đông,
Tuyết rơi lạnh ướt má hồng hàng mi.
Ngón tay găng rách cóng ghê,
Cho ta sưởi ủ vỗ về nhé em.
Gặp nhau một thoáng tha hương,
Gửi nhau một chút tình thương quê nghèo.
Hương thấy cuộc sống vất vả này đơn giản hơn và thật hơn . Rồi có một lần ở chợ nàng đã khóc òa lên khiến dân Ba Lan phải xúm lại, tưởng nàng bị ốm hay bị mất cắp. Không phải, nàng vừa nhận được thư của mẹ: “Mẹ ơi, con sẽ về với mẹ, nhưng không phải bây giờ ”. Nàng cứ giữ mãi lá thư có nét chữ nhoè đó, gấp kỹ trong giấy ni lông để trong lần áo con sát ngực, thèm muốn cái hơi ấm của mẹ, như ngày nào bé bỏng được rúc vào lòng mẹ ...
---
“Mẹ , mẹ ơi ! “. Hương ú ớ kêu lên níu lấy tay mẹ. Một bàn tay mềm, ấm giữ lấy tay nàng, tay kia để lên trán đỡ cái khăn ướt. Hương mở mắt. Một người phụ nữ Ba Lan, với mái tóc mầu nâu hạt dẻ quàng chiếc khăn rằn dài, với cái nhìn mừng rỡ và nhân hậu, đang ngồi bên nàng: ” Pani tỉnh rồi, uống tạm cốc sữa nóng nhé, để bác đi pha. Thấy thuốc đã đến xem và tiêm hồi sức cho cháu. Ông ấy nói cháu không sao đâu, cảm lạnh và suy nhược quá. Pani cần nghỉ ngơi, Iana nó sẽ về ngay. Nó phóng xe lên Radom cách làng đây năm mươi cây số mua xúp Việt Nam cho cháu, tiện thể mua cả các đồ ăn châu Á khác, nói về trước chín giờ. Ở đấy có hai quán ăn Việt Nam và cả mấy quán ăn Trung Quốc nữa ”.
Hương khẽ ho rồi nhìn bà mẹ Ba Lan quàng chiếc khăn rằn với ánh mắt xin lỗi lẫn biết ơn. Ánh mắt của bà cùng với nụ cười nhân hậu đáp lại nàng một cách trìu mến làm sao. Còn một đôi mắt nữa cũng đau đáu nhìn nàng dò hỏi . Đôi mắt mằu gio của một người đàn ông trong bộ quần áo bò thô sờn từ bức ảnh treo trên tường cạnh giừơng. Chắc đó là Iana mà bà mẹ vừa nhắc tới . Đôi mắt này nàng phải gặp ở đâu rồi, nhất định thế . Ở một phiên chợ quê nào, ở một chuyến tàu đêm muộn nào. Hương cau mày. Nàng không nhớ nổi. Đôi mắt màu gio vẫn không rời khỏi nàng. Hương lại thấy mệt.
Nàng nhắm mắt lại để tránh đôi mắt của người đàn ông, để lại thả mình vào trong cái bóng tối bồng bềnh chơi vơi. Nàng cũng không hiểu tại sao cái cái bóng tối đó cứ chuyển động, lúc xa, lúc gần, rồi lại xuất hiện những màu sắc, cả xanh, hồng lẫn lộn. Hương thở dài, nàng bỗng thấy có một cái gi đó sáng lóng lánh bay ra. Rồi cái ảo ảnh đó nó cứ rung rinh mãi, lấp lánh mãi chứ không rơi xuống như ngày nào nàng nhìn thấy từ chiếc máy bay ở sân bay Hà Nội lúc rời Việt Nam.
Bỗng có tiếng xe đi vào sân. Bà mẹ kêu lên mừng rỡ:” Iana về rồi”. Bà buông nhẹ tay Hương, đi ra đón con trai. Trong căn phòng nhỏ ấm cúng chỉ còn mình Hương. Chiếc đồng hồ báo thức để đầu giường khẽ tí tắc từng tiếng. Nàng bỗng nghe thấy tim mình sao lại đập rộn lên, nhanh vậy. Hương mở mắt, nhìn qua kính cửa sổ, ngoài sân trời đã tối mịt. Tuyết vẫn rơi.
Thay lời kết:
Đêm ấy, tuyết rơi rất nhiều, nhưng điều đó không làm cho tôi, người kể chuyện này, thấy lo âu về Hương, về số phận của nàng nữa. Tôi đã có được cảm giác yên tâm. Thế là hai nhân vật của tôi đã gặp nhau. Còn sự việc cụ thể tiếp theo thế nào chúng ta cũng chỉ biết qua lời cầu chúc của bà mẹ Ba Lan nói với họ:” Chúa sẽ phù hộ cho các con ”.
Cũng có bạn đọc, mà cụ thể hơn là một nhà thơ nữ, biên tập viên của tờ báo mà tôi gửi đăng truyện này hỏi: ” Thế cái vệt sáng mà hai nhân vật chính đó nhìn thấy là thật hay ảo ảnh? ”
Tôi biết trả lời thế nào, mà thật lòng cũng không biết. Tôi chỉ có thể nói thêm là Iana rất thích món Flaki Hương nấu, món xúp mà bà mẹ Ba lan đã tận tình dạy nàng. Hương còn chế biến theo kiểu Việt Nam cho vị xúp mặn, đậm đà đó có thêm cả cay, cả chua lẫn ngọt nữa, hương vị quen thộc của món ăn quê hương nàng.

Lại có người còn băn khoăn: ”Liệu Iana có hỏi Hương về cái ảo ảnh không?”. Tôi nghĩ rằng có thể có, có thể không, nhưng điều đó chẳng có gì quan trọng cả. Vì điều quan trọng hơn cả, như tôi đã kể ở trên, là họ đã gặp nhau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét