Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

ABC-Người Đàn Bà Capcaz


Click xem các tên bài viết   http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat  
-------------------------------------------------------------
Một chiều cuối năm 1999, tôi ghé vào quán nước nhỏ vỉa hè ở phố Lê Văn Hưu hỏi thăm tin tức của Phượng, anh trai của chủ quán, xưa cùng làm việc với tôi, sau bỏ sang Liên Xô làm ăn. Có mấy nhà văn, nhà báo ngồi tán gẫu với chai rượu và đĩa lạc. Câu chuyện xoay quanh các tác phẩm văn học, khen chê. Tôi buột miệng quay sang: “Cái chính của một trăm năm qua sao các bác không ai viết gì cả”. Họ hỏi tôi về cái đó. Tôi đáp:” Sự ra đời rồi sụp đổ của Liên Xô và số phận những con người Xô Viết, những ngã ba trong cuộc đời của họ và cả của những người đã cùng với họ”. Mọi người lặng nhìn tôi. Một người nói với tôi: “ Ông viết đi, còn những mười ngày nữa mới hết thiên niên kỷ”.
Tôi về viết truyện ngắn đầu tiên “ Người đàn bà Capcaz ”. Tôi viết trong năm ngày…
--------------------------------
Thời gian trôi, lỗ kim như nhỏ lại.
Sợi chỉ cứ tìm hoài vương vấn mãi thôi.
( thơ Trần Đức Trung )


Tôi đưa vợ sang Ba Lan làm ăn từ năm chín mốt. Đến năm chín ba chúng tôi về hẳn Crakov, một thành phố cổ kính yên tĩnh bên dòng sông Visla.
Chúng tôi sống như bị lãng quên, tách biệt với cuộc sống sôi nổi, gấp gáp của bạn bè cùng sang trên Varsava và hầu như không rời khỏi Crakov. Cứ đầu tuần một vài hãng may mặc ở Lodz, cách hơn hai trăm cây, mang hàng đặt đến giao cho và các khách hàng từ các nước lân cận Ucraina, Tiệp, Hung, Ru lại sang lấy. Hàng chúng tôi tự đặt theo mẫu riêng và không nhiều nên không có gì phải lo lắng, không bán lúc này, bán lúc khác. Từ khi nước Tiệp chia làm đôi người Tiệp không sang nữa. Người Ru vẫn vậy, cứ cách tuần lại kéo sang từng tốp, ồn ào, hồn nhiên, gọi nhau í a í ới. Họ xem hàng, rồi chê bai đắt xấu. Tôi nhất định không giảm giá nhưng cũng không làm họ thất vọng với những quà suvenir biếu thêm nếu mua nhiều và những lời thăm hỏi, những lời khen. Có lẽ đối với những người dân Địa Trung Hải lời khen nó cũng là một nhu cầu không thể thiếu được như rượu vodka đối với người Nga. Nó làm cho người ta dễ gần nhau hơn, bỏ qua nhiều cái hơn. 

Lại nói về người Nga, điều tôi quan tâm là những tin tức về cuộc sống, về những biến động xã hội bên đó và hơn nữa là được chia sẻ một chút bâng khuâng, một chút nhớ bằng tiếng Nga. Tôi đã học và nghiên cứu mười năm ở Kharkov. Năm thì mười họa, lẻ tẻ có những người ở chính Kharkov sang… Họ không mua hàng của tôi. Họ cần hàng Tàu, hàng Việt Nam, xấu chút cũng được nhưng phải rẻ, phù hợp với thị trường bên ấy. Tuy vậy những người Kharkov hay qua lại quầy hàng của tôi chào hỏi, dù đó chỉ là một cái giơ tay, một cái nháy mắt khi họ đang vội hoặc tôi đang bận với khách hàng xúm quanh. Lúc rỗi họ đến kể cho tôi nghe mọi thứ chuyện. Cái nhà hát lớn cạnh quảng trường Gerginski xây từ hồi tôi còn là sinh viên năm thứ tư đến giờ vẫn chưa xong nhưng quán cà phê ở tầng tư thì đã hoạt động và được mua đi bán lại, đổi chủ không biết bao nhiêu lần. Trên công viên Vesnhina, cạnh ký túc xá tôi ở năm xưa, đã được xây một cái nhà thờ mới… Cũng có những người rồi không thấy sang nữa nhưng lại nhờ mang sang cho tôi khi thì băng nhạc ghi những bài dân ca Nga, dân ca Ucraina, khi thì những bài hát của Vysotski, cho vợ tôi mấy con lật đật gỗ ngộ nghĩnh.Mới đây có cậu Sasa tốt nghiệp kỹ sư cầu đường Kharkov gửi cho tôi cả một tập thơ của Evtushenco. Tôi có thử dịch ra tiếng Việt một số bài đọc cho vợ nghe. Thấy nàng nghe xong, buồn, tôi thôi, không dịch nữa.

Tưởng như mọi ngày cứ trôi qua, cứ lặp đi lặp như thế thì thứ hai đầu tháng mười năm chín bảy, nửa đêm, tôi nhận được điện thoại của Tuấn, em vợ tôi gọi từ London sang. Tuấn đã kết thúc khoá bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn về bảo hiểm bên Anh, thứ tư sẽ qua Tiệp trên đường về nước. Thực tình mà nói, từ khi sang Ba Lan tôi rất muốn đưa vợ tôi đi chơi một số nước châu Âu cho biết, nhưng nàng tham công tiếc việc và nếu có tranh thủ thu xếp nghỉ được là về nước thăm các con. Âu cũng nhân dịp sang gặp cậu em để Thuỷ biết thêm nước Tiệp.
Vợ tôi chuẩn bị quá nhiều đồ ăn, lỉnh kỉnh quá. Vẫn thói quen của một thời xưa . Bây giờ trên đường đi chỗ nào chẳng có Macdonal, thành phố nào chẳng có quán ăn Việt Nam mà vẫn cứ cạp lồng, gói nọ gói kia, cả thịt dim, cơm nắm thế này. Với lại cũng phải nếm món ăn Tiệp chứ, ngon và rẻ hơn ở đây nhiều. Đấy là tôi nghĩ thế thôi, chứ với kinh nghiệm tích luỹ được từ lúc nào không biết tôi không dại gì góp ý, đi lo việc mình, giấy tờ cần thiết, các loại bản đồ giao thông,du lịch, đem xe đến xưởng quen thay dầu, xem lốp, rà soát lại các chỗ trong ngoài của chiếc Opel và cuối cùng là đi đòi mấy cái băng nhạc để mang theo nghe cho đỡ buồn.
Sáng thứ ba chúng tôi đi sớm. Phải mất một lúc mới lôi được xe ra khỏi bãi đỗ xe đầu nhà. Một chiếc Alfa về muộn tối qua đỗ sát ngay bên trái xe tôi, cửa xe mở hẹp quá, không thể chui vào được. Bên phải cũng vậy, do tôi đỗ quá sát một chiếc Fiat của cậu béo tốt bụng tầng dưới. Cũng may thế nào, tối qua lúc ra khỏi xe, tôi lại quên không kéo phanh tay và cài số nên vẫn có thể hạ kính, đứng ngoài thò tay quay vô lăng. Vợ tôi lên trước xe mắm môi, cúi đầu đẩy lùi. Chiếc mũ áo bông màu tím bị hất ra đằng sau, mấy làn tóc đen bung ra phía trước, xoã, che hết mắt. Vài ngọn gió thu lạnh, vội vàng, chỉ làm rối thêm. Hồi còn lên bục giảng bài cho sinh viên môn cơ kỹ thuật với những tải trọng, ma sát, lực đẩy, tôi không thể hình dung cảnh một người đàn bà có thể đẩy một chiếc xe ô tô như thế nào. Mà đây không phải lần đầu. Mấy năm mới sang, còn rong ruổi các chợ phiên tỉnh xa, ô tô hay bị lầy tuyết, patine, lại có hình nàng, mũ hất ra sau, mím môi đứng cúi đẩy xe cho tôi dấn ga. Lại những làn tóc đen xõa xuống mặt, những ngọn gió lạnh, những bông tuyết vội vàng.
Đường đi đến Katovice thật đẹp, rộng và vắng. Con đường đôi to với những hàng vạch sơn trắng phân luồng cứ như một dải lụa viền, dài không tận, mênh mang, vắt mềm mại lên xuống qua những cánh đồng, những khu rừng, những sườn đồi. Thấp thoáng những mái nhà mang những mầu của mây, những vòm nhà thờ lại pha mầu buồn, mầu đất nâu xám. Có chỗ vừa ra khỏi một thị trấn, con đường hơi quanh co lượn khúc, rồi dốc thẳng xuống để sau đó lại vươn lên, dài mãi như muốn với đến tận trời xa. Tôi liếc nhìn gương giữa bị lệch. Thấy nàng không ngủ như mọi khi lên xe, đang say mê ngắm cảnh. Ánh nắng sớm làm mắt nàng hơi nheo lại lộ rõ những nếp nhăn đuôi mắt. Đã có ba nếp nhăn. Hồi mới sang chỉ có một. Tiếng nhạc ngập trong xe lúc rộn ràng, lúc da diết đến nao lòng. Cứ mỗi lần đi xa tôi lại mở bản nhạc này, bản My Way với giọng ca của Frank Sinatra, và dù đã nghe bao lần rồi mà lần nào cũng thấy xao xuyến như lần đầu.
Chưa đến tám giờ chúng tôi đã vào thành phố mỏ than này. Nhưng rồi loanh quanh mãi, hết tra bản đồ lại dừng xe hỏi người qua đường, nửa tiếng sau chúng tôi mới tới được phố Bielskiego ngắn ngủn có lãnh sự Tiệp đóng. Ngoài cửa đã có khoảng chục người tóc đen, Mông Cổ hay Zigan không rõ, đứng chờ. Tôi xem đồng hồ. Còn hai mươi phút nữa mới mở cửa. Chờ xong nhóm này thì phải mất ít nhất một tiếng. Lấy xong thị thực sang Tiệp còn phải đi gần một trăm cây số mới đến được cửa khẩu Bolomin. Không biết ở đó lại xếp hàng ra sao chứ mười hai giờ trưa là biên phòng nghỉ ăn cơm. Trời lại tối sớm. Phải đi đêm trên đất Tiệp, đường lạ đến Praha , thật không hứng thú với tôi chút nào.
Tôi đỗ xe xa bên kia đường. Vợ tôi thì đứng ngắm một chiếc Stroen đỗ dọc trên vỉa hè trông sang toà nhà lãnh sự, một cách tài tình giữa hai cây to, cứ như một vật của trò chơi xếp hình trẻ con được được đặt vào đúng chỗ của nó. Chắc nàng đang tính nhẩm, với tay lái hạng bét của tôi, phải mất bao nhiêu thời gian và bao nhiêu lần nhích lên nhích xuống mới đánh được xe vào như vậy. Cũng có thể nàng đang nhớ tới chiếc xe ô tô chạy pin nhờ người về nước mang cho con tháng trước. Nó cũng là Stroen, cũng màu xanh rêu.
Đúng chín giờ chúng tôi bước sang đường. Những người Mông Cổ đã vòng trong, vòng ngoài trước cổng. Trong toà nhà lãnh sự vẫn im ắng ,cứ như mọi người trong đó còn đang ngủ vậy. Bỗng tôi nghe thấy sau lưng tôi một câu tiếng Nga: ”Cho phép ,cho phép!” Tất cả đều quay lại. Một người đàn bà Mông Cổ. Không! một người Nga. Bà ta mặc một bộ váy áo da màu đen, ủng da đen cao, chiếc khăn len to đen quấn kín đầu và một phần vai. Thảo nào lúc nãy tôi không để ý, không nhìn thấy đôi mắt mầu xanh gio, vạt tóc trắng mềm lộ ra dưới trán, cứ tưởng đó cùng một nhóm Mông Cổ. Mọi người né ra. Bà ta tay đỡ một cái túi đeo nặng, không cài khoá, để hở, nhô ra cái đầu một con chó bé bỏng ngơ ngác, tiến tới cổng và bấm chuông. Phải đến hồi chuông thứ năm trong nhà mới thấy bật điện. Năm, mười phút sau nữa một cô gái Ba Lan bước xuống cầu thang, cất tiếng chào và mở khoá cổng. Chúng tôi bước vào cuối cùng. May quá, không có xếp hàng gì cả. Các bộ giấy tờ khai báo bằng tiếng Anh, tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp xếp đầy sẵn trên các bàn và trên tường treo một lọat hướng dẫn, yêu cầu bằng tiếng Ba Lan. Hoá ra Việt Nam có trong danh sách mười bốn nước làm thị thực sang Tiệp miễn phí, còn nhóm đàn ông đàn bà kia thuộc những nước phải nộp lệ phí thị thực hai trăm đô la một người. Với lại hình như họ còn có vấn đề về đọc và viết các thứ tiếng trên nên cứ loay với các tờ khai, và xí xộ mãi với nhau. Tôi tranh thủ điền rất nhanh hai tờ, đưa vợ ký rồi kẹp cùng với những bộ giấy tờ khác mang theo vào hai quyển hộ chiếu riêng biệt. Tôi đến chỗ cửa sổ nộp cho cô nhân viên sứ quán. Cô ấy đang lúng túng với bà người Nga, với những lời trình bầy bằng tiếng Nga, với những giấy tờ viết bằng tiếng Đức của bà ấy. Hình như cô ấy quá nản với người khách ngôn ngữ bất đồng trên nên quay ngay sang tôi :
- Ông có tất cả rồi chứ ?
- Tôi hy vọng là vậy - tôi mềm mỏng trả lời cô gái cũng bằng tiếng Ba-lan.
Cô gái nhận giấy tờ, xem qua rồi bảo tôi phải chờ nửa tiếng nữa để lấy lại hộ chiếu. Những người Mông Cổ vẫn chưa ai xong đến nộp gì cả. Trong lúc cô gái mang giấy tờ của tôi vào phòng trong nộp tôi bắt chuyện với người phụ nữ, đang đứng ngơ ngác, xem có thể đỡ gì được không. Hoá ra ở Moscva một tổ chức quốc tế (chữ viết tắt nên tôi không rõ) cho bà giấy bảo lãnh, cả vé tàu nữa sang Đức. Tôi xem hộ chiếu của bà, đã có sẵn cả thị thực vào Đức rồi .” Bà nhầm rồi” - tôi thốt lên - “Bà phải sang Đức chứ, đây vẫn là Ba lan. Đây là lãnh sự Tiệp ở Katovice, thành phố của Ba Lan ”. Thì ra bà ấy đi tàu suốt từ Moscva đến Katovice lúc năm giờ sáng. Mọi người xuống hết, ga cuối cùng. Ông nhân viên phục vụ tàu khi mời bà ấy xuống thì tiện chỉ luôn cho bà ấy cái tòa lãnh sự ngay cuối phố cạnh ga. Thật là một giải pháp nhanh gọn. Tôi kể vắn tắt lại đầu đuôi câu chuyện cho vợ nghe. Nàng quyết định ngay: ”Anh đưa bà Nga ra ga ngay đi, nói với một một nhân viên ở ga giúp bà ấy lên tiếp tàu sang Đức. Nhanh lên rồi quay lại ngay nhé không muộn, đưa cặp cho em”. Tôi quay lại bảo bà ấy đưa túi tôi xách đỡ. Chiếc túi nặng trĩu ,quai gần như bị đứt .Con chó nhỏ vẫn nhô đầu ra ngơ ngác. Tôi nói: ”Nó đói ”. Bà ấy bảo: ”Không, nó bồn chồn đấy”. Tôi nói một câu tiếng Nga quen miệng : ”Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp”. Bà ấy gật đầu, cùng tôi chia bớt đồ trong túi sang một cái túi nhựa vợ tôi đưa cho. Hoá ra trong túi dưới con chó là toàn sách, sách dậy tiếng Nga, có cả Parakhin - quyển sách tiếng Nga đầu tiên của tôi khi sang học Liên Xô ba mươi năm trước. Còn lại là truyện. Bà ấy đưa cho tôi một quyển truyện mỏng:
- Tôi rất thích quyển này của các anh.
- Nguyễn Minh Châu, người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành - tôi dịch ra tiếng Việt cho vợ tôi nghe rồi đưa lại cho bà ấy. Bà ấy nắm tay vợ tôi nói tạm biệt và còn nói thêm : ”Cô thật là tốt và đẹp”. Những từ đơn giản này thì vợ tôi hiểu. Rồi mỗi người một túi đi ra khỏi toà lãnh sự. Tôi quyết định đi bộ vì nhà ga không xa lắm. Ngay ngoài phố đã thấy trạm điện thọai tự động. Tôi bảo bà ấy tranh thủ gọi điện về Moscva đến những người có trách nhiệm. May quá nối được ngay. Họ bảo bà ấy ra tàu đi tiếp sang Đức, đến ga Listenburg sẽ có người đón. Trên đường đi bà ấy giải thích cho tôi vì sao mang theo túi sách này.
-Vì chúng nó giúp cho tôi sống. Những khó khăn mà nhân dân các anh trải qua thật ghê gớm. Thế mà các anh đã qua được.
Bà ta tên là Irina đến từ Dagestan. Không thể nghĩ rằng bà ấy đã bảy nhăm tuổi mà dáng đi vẫn thẳng, nhanh nhẹn như thanh niên, giọng nói cũng vậy. Những người vùng Capcaz vẫn có tiếng là khỏe và sống lâu. Chỉ có mái tóc trắng, những nếp nhăn ở trán, ở khoé mắt và cả đôi mắt xanh gio nữa nói lên những năm tháng, Nhưng thực ra bà đến từ nơi khác, từ Vinhitsa gần Kiev. Tôi nói với bà là tôi biết vùng đó. Những người con gái Vinhitsa nổi tiếng từ xưa là đảm đang và chiều chồng. Không biết Olia bây giờ ra sao. Trước khi tốt nghiệp về nước tôi thức suốt đêm đi tàu về thăm em. Đến nơi, sáng sớm tôi lại muốn theo cùng em lùa bò ra đồng chăn, cùng ra thăm mộ mẹ em. Em bắt tôi ngồi lên ghế, còn em quỳ dưới, xé chiếc khăn len cũ của người mẹ ra làm đôi quấn ấm chân tôi cho vào ủng, vừa làm vừa than thở: ” Thanh niên ở làng bỏ đi hết. Các ông già toàn say khướt như bố em. Chủ tịch nông trường lại vừa được thưởng huân chương. Sẽ ra sao nếu chỉ có những người nói dối và những người nghe nói dối mãi thành quen hở anh...”.
Nghe tiếng thở dài sâu của tôi, bà Irina cũng thở dài theo và nói :
-Ucraina bây giờ là một đất nước riêng. Tôi cũng không còn ai thân thuộc ở đó cũng như ở Vinhisa. Chiến tranh thế giới thứ hai đã cướp đi những người thân của tôi. Tôi và nhiều đứa trẻ khác được sơ tán về vùng Trung Á, Tasken, học ở trường nội trú, rồi học sư phạm nhưng không đi dạy mà mà được về coi thư viện ở nhà văn hoá thị trấn Kizoliar thuộc Dagestan không xa Groznu lắm. Chồng tôi chết trong một tai nạn giao thông. Đứa con trai lớn là sỹ quan xe tăng, lên đến thiếu tá rồi hy sinh ở Afganistan. Đứa cháu gái làm y tá trong quân đội Liên Xô đóng ở Berlin, lấy chồng Đức rồi ở ở lại bên đó. Nghe nói hai vợ chồng sống cũng vất vả, thất nghiệp. Ở vùng tôi bây giờ mọi thứ khác hết. Đó là tôi nói về con người. Họ thay đổi hẳn. Họ muốn giàu có, nhiều tiền nhưng không muốn kiếm tiền bằng bàn tay của mình, bằng lao động nữa. Thế đấy - bà lại thở dài - bây giờ họ làm gì, muốn gì, cũng không rõ nữa. Tụ tập, cướp giật, rồi sẽ lại chiến tranh. Con Masha, cháu gái tôi nó nhờ những người bạn cũ ở Moscva lo cho tôi sang với nó. Thú thực ở tuổi này tôi không muốn đi đâu nữa nhưng con bé cứ gọi điện sang nài nỉ quá và còn nói mong tôi sang sớm để chăm, để dậy tiếng Nga cho hai đứa con nó. Nó đẻ sinh đôi hai đứa con gái.
Đã ra đến ga. Tôi nhờ ngay một ông già Ba Lan bán báo rong ở ga giúp bà Irina khi tàu đến. Ông ấy cũng nói được tiếng Nga, đã bắt chuyện ngay với con chó bé bỏng bằng những câu tiếng Nga khá sõi và bằng lát bánh mì có sẵn trong túi. Tôi vội chia tay dể trở về lãnh sự. Bà Irina nhìn tôi chăm chú. Cái nhìn của những người biết sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Bà ấy nói: ”Cầu trời phù hộ cho anh. Mà anh nói tiếng Nga thạo quá, cứ như người Nga vậy, chắc chắn là anh đã học ở Liên Bang rồi”.
Tôi rảo những bước dài mà lòng vẫn cứ nghẹn lại. Hai chữ Liên Bang. Sáu năm trước Tania, đôi mắt đỏ hoe, cũng nói với tôi hai chữ đó: ”Chúng tôi phải trở về Liên Bang. Nó hãy còn”. Sasha thì lúi húi xếp đồ vào cốp xe, chiếc Opel cũ rích mua lại hai trăm đô ở chợ giời gần biên giới Maroco. Lau bàn tay rắn chắc vào quần xong Sasha ôm lấy tôi, vỗ vỗ mạnh vào vai:“Nào! Anh bạn”. Chiếc Opel rung lên rồi chuyển bánh, cuốn theo một đám bụi cát mù mịt. Vợ chồng họ sẽ phải qua suốt sa mạc Sahara, sang Maroco, qua eo biển Gibranta, qua Tây Ban Nha và qua suốt châu Âu để về nhà ở Kiev, về kịp Liên Bang. Ba năm chuyên gia ở trường đại học Bechar, giữa sa mạc Sahara chỉ có mình tôi là Việt Nam. Nhưng hai mươi mốt đồng nghiệp, đến từ Nga, Ucraina, Belorusi, Grudia và các nước cộng hoà khác của Liên Xô thời ấy, đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Cũng như họ, tôi lo lắng trước những biến động ở Đông Âu và Liên Xô. Hình như tất cả chúng tôi đều nghĩ có thể cứu được, chỉ có phải thêm một chút, phải chỉnh lại một cái gì đó thôi. Tôi nghĩ đến những điều kiện, những hàm mục tiêu trong hệ điêu khiển tối ưu, Fedia thì dùng những lập luận của thuyết mờ, Ivan thì nói về nhà nước bằng những ngôn ngữ của cơ cấu máy... Mỗi người một kiểu, sôi nổi, day dứt, mong muốn. Chỉ có Iana, anh bạn người Ba Lan thì nhún vai, làm dấu thánh khi sự tranh luận của chúng tôi đi quá xa. Kiểu gì anh ta cũng có sẵn một lòng tin, lòng tin ở chúa. Nó làm người ta sống dễ dàng hơn và chết cũng nhẹ nhàng hơn - Kolia, một phó giáo sư trường xây dựng Moscva nói về anh bạn người Ba Lan như vậy. Iana đã rời Algerie trước chúng tôi, nghe đâu anh ấy ký được hợp đồng dậy học ở Bradin. Khatratarian xin về ngay sau khi Armeni bị động đất . Trận động đất đã tàn phá hai phần ba đất nước. Cô ấy còn có một người con tàn tật gửi ở nhà người thân ngoại ô Erevan. Mọi người lần lượt rời cái thành phố ốc đảo xanh giữa sa mạc như trong truyện thần thoại này. Tôi cũng không phải là người cuối cùng. Cậu giáo viên dạy hoá người Ấn Độ còn gia hạn hợp đồng ở lại. Nghe đâu sau đó bạo loạn xảy ra ở Algerie, thành phố Bechar cũng bắn nhau ghê lắm.
Vợ tôi đã đón tôi ngay ngoài cổng lãnh sự. Mọi việc ổn cả. Gặp Tuấn ở Tiệp. Tuấn nói luôn:
- Anh chị thu vén về đi. Ông bà thì già rồi mà bọn trẻ con ngày một lớn. Tệ nạn xã hội, nghiện hút nhiều lắm đấy.
Sau lần đi Tiệp về, chúng tôi giải quyết nốt các công việc để về hẳn với các con. Kịp về trước tết. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét