Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

ABC - Dòng Sông Uốn Khúc ... Thư Của Y.


Click xem các tên bài viết   http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat 

=================================================
Nhà Mai Lĩnh ở quê hương Xuân Mai Kim Anh Phúc Yên

-Y. ơi. Sửa lỗi bài viết cho anh nhé. Hà Nội lạnh nhưng khô se. All the best, thank Y.
-Em đã sửa xong, anh xem lại nhé. Chúc anh ngày nghỉ cuối tuần thật vui.

Bài viết của Đỗ Ngọc


Năm 1959 dãy núi Thằn Lằn được dùng làm con đập khổng lồ, xây dựng hồ Đại Lải chứa nước tưới cho cánh đồng huyện Kim Anh. Ngày nay, hồ Đại Lải còn là nơi du lịch, nghỉ mát của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Nội. Xa hơn nữa là dãy núi Tam Đảo cũng là môt nơi nghỉ mát, an dưỡng có tiếng. Phía Đông là con sông Cà Lồ, uốn quanh gấp khúc. Đoạn sông này chưa đầy một cây số mà phải ba lần uốn khúc, bên lở bên bồi... Phía Nam có núi Nghĩa Lĩnh, còn gọi là núi Thanh Tước. Phía Tây là thị xã Phúc Yên, cách làng Xuân Mai chừng 2 cây số. Những năm đầu thế' kỷ 20, khách đi từ Hà Nội theo quốc lộ 2, qua cầu Xây, đến cột cây số 41, nhìn về bên trái bên bờ đê, cách đường chừng trăm mét thấy một cái cổng xây rất to, có hai chữ Mai Lĩnh màu đỏ, đấy là cổng tiền của nhà Mai Lĩnh, còn cổng hậu đi về phía trong làng.
Nhà Mai Lĩnh ở làng Xuân Mai đang hình thành như một thứ trang trí. Chủ nhân là cụ Đỗ Văn Phong thuộc dòng họ Đỗ Phúc Lương ở làng Xuân Mai, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên. Cụ Đỗ Văn Phong và cụ bà Lê Thị Nhu sinh được bảy người con trai thì sáu người đi gây dựng cơ sở kinh doanh ở khắp nơi trong nước từ Hà Nôi đến Sài Gòn, còn người con thứ tư là Đỗ Như Phượng được gia đình giao cho trọng trách ở lại quê hương đại diên cho Nhà Mai Lĩnh trước xóm làng, trông nom mẹ già, quản lý nhà cửa ở quê, nơi hội tụ các con cháu của Đại gia đình Mai Lĩnh trong những ngày Giỗ, Tết hằng năm. Ông Đỗ Như Phượng, bà Ngô Thị Tôn và bà Ngô Thị Oanh sinh được môt con trai là Đỗ Như Lân. Ông Phượng xứng đáng là người đại diên cho nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai. ông không làm chức vụ gì trong làng, hiền từ, ít nói, nhân hậu và độ lượng, ông lại là con thứ tư cho nên làng xóm thường gọi ông môt cách trìu mến là ông Tư Lân. Tôi cũng gọi ông theo làng xóm là ông Tư Lân. Ông bảo ban anh em con cháu trong họ như anh em con cháu mình sinh ra. Công việc đầu tiên của ông là tổ chức sản xuất nông nghiệp. Số đất ruộng vườn trong trang trai chừng 4 mẫu Bắc Bộ. Đầu những năm 50, số nhân khẩu từ 6 đến 8 nhân khẩu, có 5 lao động chính; thực sự làm viêc có 4 người còn bà Tư Lân thường ở bên làng Trung Na vì ở đó cũng còn môt dinh cơ nữa. Trang trại được trồng tre xung quanh và có hào sâu để phân cách lũy tre với ruộng vườn. Từ nhà ra cổng chính có đắp môt con đường ô tô ra vào thuận tiện. Hai bên đường trồng nhãn. Trên vườn có trồng cây ăn quả như nhãn, xoài, khế, sấu... từ cổng chính ra đường quốc lộ có trồng những cây bông gòn cao vút, bóng toả ngày hè lấy chỗ nghỉ ngơi, tránh nắng. Cây bông đã trở thành địa danh, nhân dân trong vùng gọi là "gốc bông nhà Mai Lĩnh", nơi hẹn hò của các cô gái, chàng trai, nơi hóng mát của cụ già, em nhỏ. Mùa màng thu hoach hằng năm, cùng với tiền bac của 6 anh em ở các nơi gửi về, nhà cửa trong trang trại đã dần dần được nâng cấp: nhà thờ tổ tiên, nhà kho, sân phơi, nhà gác cùng các công trình phụ ngày càng hoàn chỉnh. Trong khu trại có một phần đất của Cụ Chánh (anh ruột cụ Phong), cụ không có con trai, nhà Mai Lĩnh được sự phân công của Họ, có trách nhiêm cúng giỗ. Khu đất này đầu tiên được xây dựng một trường học do nhà Mai Lĩnh đứng ra mời thầy giáo đến dạy cho con em trong làng. Nhờ ngôi trường ấy nhiều con em trong làng được học hết bậc sơ học, ít nhất là thoát nạn mù chữ. Về sau trên mảnh đất này được dựng nên "Nhà thờ Cụ Chánh". Trong hậu cung là nơi thờ cúng hai Cụ, phía ngoài là 5 gian nhà lớn, nơi sum họp con cháu những ngày Giỗ, Tết.Tiếp đến là vườn cây ăn quả, bên trái là dãy nhà 10 gian gồm các công trình phụ, nhà chế biến thóc gạo, buồng ngủ của các bà, các chị... Một toà nhà 5 gian dựng trên đất nhà Mai Lĩnh. 3 gian chính giữa là nhà thờ của nhà Mai Lĩnh; hai bên buồng thì một bên là buồng ngủ, một bên là phòng khách cũng dùng làm phòng ăn. Cách một cái sân con là nhà bếp và nơi chế biến thức ăn. Mặt trước toà nhà 5 gian là một cái sân to, bên trái là nhà gác 2 tầng, hướng Đông-Nam, tầng trệt làm phòng khách, trên gác là chỗ ngủ và học hành cho con cháu; bên phải là dãy nhà 1 tầng, hướng Tây-Bắc, dùng làm kho thóc và nơi chứa nông sản mới thu hoạch, tiếp đến là cổng ra đường làng. Trước sân là ao sâu thả cá ngăn cách với ruộng đồng trong trại, bên bờ có trồng khế, muỗm, dừa... Khoảng những năm 39- 45, đất nước ta còn là thuộc địa của Pháp, làng ta còn nghèo, người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhiều người trong họ, trong làng đến nhờ ông Tư giúp đỡ, cũng có người đến xin làm con nuôi ông cho khỏi bị chết đói như anh Hùy, anh Thủy, anh Khơi, cháu Nha, cháu Sáp, cháu Son, chị Lẹm... đều được ông Tư nuôi, tìm công ăn việc làm; khi các cháu lớn lên được ông dựng vợ gả chồng cho, xây dựng gia đình riêng hạnh phúc, công ơn ấy đến nay vẫn còn nhiều người cao tuổi cảm phục nhớ mãi. Anh Giảng, anh Đường, anh Yêm...đều đã trưởng thành, gia đình hạnh phúc. Một trung tâm nhà Mai Lĩnh đang làm ăn phát đạt ở quê hương Xuân Mai, thế rồi năm tháng trôi qua, cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta đã giành lại được độc lập nhưng thiên tai lại ập đến, nạn đói ở châu thổ sông Hồng, đê sông Hồng bị vỡ, ngập nước 3 tỉnh, lúa màu làng Xuân Mai bị mất trắng, dân làng đói khổ; ông Tư mở kho thóc nhà mình ra phát chẩn cứu đói cho dân. Ông còn mua một số thuốc chữa bệnh thông thường, dưới sự hướng dẫn của người cháu của ông, để cấp cho bà con xóm làng; nhiều người được ông cho thuốc khỏi bệnh vẫn nhớ mãi đến bây giờ. Cuối năm 1946, cuộc chiến tranh Việt Pháp nổ ra, toàn dân đánh giặc, trang trại Mai Lĩnh trở thành cơ sở ép dầu, cất tinh dầu giun, thu mua rượu cồn, vận chuyển thuốc men lên chiến khu Việt Bắc: Thái Nguyên, theo đường thủy ngược sông Hồng, sông Lô lên Tuyên Quang. Cơ sở chế biến nguyên liệu dược phẩm hoat động từ năm 1947 đến năm 1949 thì quân Pháp từ Hà Nội đánh chiếm Phúc Yên, Vĩnh Yên lập nên tỉnh Vĩnh Phúc. Nhà Mai Lĩnh bị đốt phá tan hoang. Làng Xuân Mai trở thành làng tề... Cuôc kháng chiến 9 năm kết thúc thắng lợi, nước Viêt Nam bị tạm thời chia cắt làm 2 miền có chế đô chính trị khác nhau, anh em nhà Mai Lĩnh cũng chia 2 ngã: kẻ Bắc người Nam ! Các thành phố, làng mạc ở miền Bắc dần dần được giải phóng, từ tháng 7-1954 đến tháng 11-1954 dân làng Xuân Mai đón mừng chính sách Giảm tô Cải cách ruộng đất (GTCCRĐ). Khi được học tâp chính sách GTCCRĐ, nhân dân hiểu ra rằng mục tiêu của cách mạng là đánh đổ chế độ phong kiến vua chúa, địa chủ cường hào. Ở nông thôn có các thành phần sau: Các thành phần được ưu tiên chiếu cố gọi tắt là nông dân gồm: Cố nông là những người nghèo không có ruộng đất, Bần nông là người nghèo có ít ruộng đất Trung nông là những người có đủ ruộng đất làm ăn Các thành phần có tội với nông dân là: Địa chủ cường hào là những người có thế lực trong chế độ cũ, hà hiếp, bóc lột sức lao động của nông dân, Địa chủ giầu có là những người có ruộng đất phát canh thu tô, Địa chủ kháng chiến là những người giầu, có ruộng đất nhưng lại đi theo và phuc vụ cho cách mạng giải phóng dân tôc, Phú nông là những người có nhiều ruộng đất, tự mình không làm hết phải thuê mướn người làm. Bốn thành phần này, theo lý thuyết, tùy theo tội nặng nhẹ mà bị xử án từ tử hình, chung thân, tù giam có thời hạn đến án treo, cải tạo tại chỗ. Tài sản, nhà cửa, ruộng đất cũng tùy theo tội nặng nhẹ mà tịch thu, trưng thu, trưng mua để chia cho nông dân. Nói tóm lại là "tịch thu của nhà giầu chia cho người nghèo". Chính sách GTCCRĐ hợp với lòng dân được toàn dân nô nức hưởng ứng. Nhưng khi thực hiện, những người thừa hành đã làm sai lệch; có nơi, có chỗ sai lầm nghiêm trọng. Đến nỗi ở Xuân Mai quê tôi, bần cố nông là thành phần ưu tiên mà đến 80 phần trăm cũng phải run sợ. Trong dân gian truyền tụng câu ca "nhất đội, nhì giời" (đội công tác phát động quần chúng). Ban ngày đi làm đông, tối tối nem nép đi học tập, vắt óc tìm tội của địa chủ. Thế là nhà Mai Lĩnh, đai diện là ông Tư Lân chỉ được hưởng hoà bình có 3 tháng trời, anh em kẻ Bắc người Nam, nay lại phải tội "địa chủ cường hào gian ác". Ôi cái oan trái, cay đắng của ông Tư Lân bây giờ đem ra mà cân đong đo đếm làm sao cho hết được! Ông Tư là môt người dân lương thiện, không một lần tham gia chính quyền cũ, ăn ở rất tốt với dân làng nay bị quy tội là địa chủ bóc lột, có tội ác với dân thật là khủng khiếp. Ông bị người ta bắt trói tay, cùm chân, đóng "hàm thiếc" rồi nhốt vào xó tối ! Từ thuở bé đến giờ tôi cũng không biết cái cùm nó như thế nào, đóng hàm thiếc ra làm sao. Tính tò mò khiến tôi phải hỏi và được giải thích là: cùm làm bằng 2 khúc tre dài khoảng 50 phân, mỗi bên đục một bán nguyệt, khớp với cổ chân; một đầu khúc tre làm như cái bản lề, cho chân người tù vào, xập khúc tre xuống, đầu kia có chốt sắt để khoá li. Thế là người ta bắt ông Tư Lân ngồi duỗi thẳng, đưa hai cổ chân vào 2 lỗ tròn của cùm xong dập cùm xuống rồi đóng khoá. Như vây là không đi, không đứng được. Hai tay bị trói bằng dây thừng, quạt vê sau lưng. Còn đóng hàm thiếc là thế nào ? Người ta lấy môt khúc tre, bắt tù nhân há mồm ra, răng cắn vào khúc tre rồi buộc dây vào 2 đầu khúc tre, kéo ra sau gáy buộc chặt lại khiến cho không thể cắn lưỡi tự vẫn ! Tôi vừa nghe vừa hình dung ông Tư Lân bị cùm chân, trói tay, mồm đóng hàm thiếc mà người tôi nó rờn rợn từ gáy xuống tận bàn chân. Cô Sửu, cháu ông Tư mang cơm cho ông hàng ngày, bữa nào mang đến cổng người ta bắt cô phải ăn mỗi thứ một miếng rồi mới mang vào cho ông ăn, sợ cơm và thức ăn có thuốc độc chết mất thì không nhục hình ông được. Chưa hết, mỗi lần ông đi đại tiểu tiện thì người ta mở cùm chân cho đi, còn tay thì vẫn trói dòng cái dây thừng dài để kéo hoặc giữ như trâu bò. Thời gian nhục hình ông Tư như thế chừng 3 tháng. Chúng ta thử hình dung sự chịu đựng của con người ghê gớm chừng nào? Gía mà người có tội đã đành, đây lại là một người bị oan, tôi không biết chọn ngôn từ nào để nói được. Cổ xưa có câu "nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại", nhưng đây lại là người chưa phải tù mà đã chịu cực hình gấp nghìn lần người đã thành án ! Sau 3 tháng hỏi cung luận tội ông Tư, cũng là phần kết của cuộc vận động "long trời lở đất", đầu mùa Xuân năm 1955 người ta mở phiên toà lưu động công khai ở sân chùa làng Xuân Phương. Dự phiên toà có đông đảo nhân dân toàn xã và thị xã Phúc Yên. Các nhân chứng, với lý luận sắc bén, chuẩn bị công phu, vạch trần những tội ác của anh, em, con cháu, người quen, bạn bè của ông Tư Lân đã gây ra, đứng lên buộc tội ông. Tiếng hô đả đảo sự ngoan cố khi ông không nhận những tội của người khác đã làm mà ông không biết hoặc cho là bịa đặt, vang lên nhiều lần. Sau phần nghị án, toà kết án ông 15 năm tù giam, tịch thu toàn bộ tài sản và đuổi gia đình ông ra nhà môt cố nông ở rìa làng, bên cạnh một khoảng đất trống sau này hợp tác xã xây dựng thành nhà chứa phân bón ! Đánh dấu chấm hết cho chế' độ phong kiến, nửa thuộc địa suy tàn ở làng quê Xuân Mai. Thời kỳ đầu ông Tư Lân được giam giữ ở Nôi Phật, sau chuyển lên Thái Nguyên. Môt ông già bị kìm kẹp, nhục hình liên tục 3 tháng, khô kiệt sức sống lê bước chân lên trại giam với bao mối lo toan: gia đình ở lại sẽ sống ra sao? Anh em con cháu sẽ làm gì để vượt qua nỗi gian nan trước mắt ? Ông có nghĩ rằng 30 năm trước đấy, cha đẻ của ông, tù chung thân, đã lê bước chân đi đầy biệt xứ ở Guyane vì tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, anh ruột của ông (ông Ba: Đỗ Văn Kỳ), mười năm "khổ sai” ở nhà tù Sơn La vì tội "chống lại chính phủ thuộc địa Pháp ", các cháu của ông có người đã hy sinh, có người vẫn 9 năm trời kiên trì theo cụ Hồ đi kháng chiến ? Tinh thần bị ức chế, thể xác bị suy kiệt, ông lâm bệnh và tháng 9 năm 1955 ông từ trần trong nhà tù tỉnh Thái Nguyên. Đến bấy giờ nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai còn lại bà Ba già, bà Ba trẻ, bà Tư Lân và cô Sửu, con út của bà Ba. Môt thiếu nữ với 3 bà già, tất cả là 4 nhân khẩu của hộ Mai Lĩnh được cho ra ở rìa làng và 2 sào ruộng để canh tác ở Xứ Đồng Thù. Một cánh đồng "chiêm khê mùa thối", "đỉa ho cò gáy" ở ven đầm nước. Bà Ba trẻ đi nhận ruộng, mới xắn quần bước chân xuống bị một đàn đỉa bám lấy chân, bà vội chạy lên trượt chân, ngã trẹo đầu gối, cắn răng tập tễnh về nhà. Bà ngửa mặt lên trời kêu: "Trời đất ơi! Tôi biết đi đâu, về đâu để mà sống bây giờ! Bây giờ tôi mới hiểu thế nào là "Đồng Thù". Ba bà già phải bàn cách làm ăn sinh sống để tồn tại : một là đi ăn xin, hai là đi mót những bắp ngô kẹ, củ khoai con người ta bỏ cho chó, cho lợn, cho gà ăn, còn sót lại ngoài đồng đem về nấu ăn cho qua ngày. Đi ăn xin thì không thể làm, hơn nữa xin ai và ai dám cho, chỉ còn cách thứ hai là đi mót. Nhiều người làng vẫn nhớ ơn xưa, thương tình muốn cho nhưng không dám vì sợ "liên quan với địa chủ" đành giả vờ để sót cả vầng khoai, cả bắp ngô to rồi ngầm ra hiệu đến lấy. Nhưng khi về qua cổng làng lại bị dân quân bắt, khép vào tội ăn cắp, ăn trộm tịch thu hết ! Trói lai, giam cho đến tối. Cô Sửu không thấy mẹ về đi tìm mới biết sự tình, đành gạt nước mắt đón các mẹ. Đi mót không được, cô Sửu bàn với mẹ hôm sau theo người làng đi hái củi. Viêc kiếm củi đâu có dễ. Từ nhà đến rừng gần 15 cây số, phải ra đi từ sớm tinh mơ. Củi cô lấy được cái to, cái bé, cành ngắn, cành dài, cành tươi, cành khô. Có củi rồi, viêc bó lại để đem về nhà lại là cái khó nhất. Mỗi bên phải bó bằng 2 sợi dây: sợi trên phải bó bằng chiều cao của người gánh mới đi được. Vì mới là lần đầu nên cô bó bên cao bên thấp, khi xiên đòn gánh vào, bên thấp nó quay ngang, bên cao nó quết đất, vừa đi vừa kéo, gánh củi lặc lè trên vai ! Đến chiều, bà Trẻ đi đón, gặp cô bà oà lên khóc vì thương con vất vả, hai mẹ con thay nhau gánh, tối mịt mới về đến nhà... Những thành viên nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai kéo dài những ngày sống cơ cực bằng đi củi, đi mót, làm hàng xáo khoảng 3 năm đằng đẵng. Nhà Mai Lĩnh coi như bị xoá sổ ở làng Xuân Mai. Đến năm 1957, nhà nước có chính sách sửa chữa những sai lầm trong Cải cách ruộng đất. Đối chiếu với chính sách, nhà Mai Lĩnh mà đại diện là ông Tư Lân ở Xuân Mai, môt gia đình có truyền thống yêu nước, nhiều người tham gia kháng chiến, ít nhất là Địa chủ kháng chiến nếu không là một Gia đình cách mang vì có nhiều người cống hiến cả cuộc đời mình cho giải phóng dân tộc trong khi bao người còn ngoi ngóp trong vũng bùn nô lệ. Ơ địa phương lúc ấy nhà Mai Lĩnh chỉ có 4 người phụ nữ bị vùi dập, họ như "con chim phải tên", ai dám đứng ra xin minh oan ?! Như thế là cái "ách địa chủ" vẫn quàng lên nhà Mai Lĩnh, ba bà già và cô con gái vẫn phải lội ngược dòng đời thác lũ, bươn chải làm ăn để tồn tại. Có chính sách sửa sai, con cháu nhà Mai Lĩnh mới được thăm hỏi nhau, anh Đỗ Như Lân đang học ở Hà Nội mới dám về thăm nhà; những năm gia đình anh bị quy là địa chủ, anh vẫn phải trốn tránh ở Hà Nội vừa đi làm kiếm sống, vừa đi học... Sau khi tốt nghiệp Đai Học Bách Khoa Hà Nội, giữ lai làm cán bộ giảng dạy, năm 1961, anh Lân đã làm đơn xin sửa lại thành phần cho gia đình và đã được chấp nhận là thành phần trung nông theo quyết định của ủy ban tỉnh. Việc làm này thực ra chỉ có tính chất thủ tục vì không sửa lại thành phần thì gia đình anh đã là nông dân từ lâu rồi, ruộng vườn chẳng còn gì ngoài số ruộng được chia, nhà thì vẫn ở nơi "được” đuổi ra và đã được làm lại do chính sức lao động của các bà, ông Tư Lân sau khi cải táng đã được đem về nghĩa trang Xuân Mai, yên nghỉ ngàn thu bên mẹ và các anh, chị em con cháu họ hàng gần xa. Năm 1996, một sự ngẫu nhiên hay hồn thiêng khí phách của các cụ tổ tiên đã xui khiến các con cháu nhà Mai Lĩnh mua lại được căn nhà của một nông dân được chia trong Cải Cách Ruộng Đất, trên nền nhà gác cũ của nhà Mai Lĩnh năm xưa để xây dựng nên Nhà Từ Đường Mai Lĩnh ở quê hương Xuân Mai. Ngôi Từ Đường được sửa chữa khang trang để thờ cúng tổ tiên, cho các con cháu ở trong nước cũng như nước ngoài về chiêm ngưỡng hằng năm. Nó khẳng định sự tồn tại của nhà Mai Lĩnh, nó còn là một công trình văn hoá để lại cho muôn đời con cháu mai sau, cho họ hàng, làng xóm xa gần. Hồi tưởng lại chỉ còn ít tháng nữa là hết thế kỷ 20, tôi vội vàng ngồi viết một mạch hồi ức này, không tô hồng cũng không bẻ cong ngòi bút, chỉ nói lên được một phần trong trăm nghìn việc muốn nói, về nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai, để nhớ lại quá khứ và nhìn về tương lai, xem thời thế con tạo xoay vần ra sao. Chiều hôm ấy, một ngày cuối đông, tôi còn đi ngắm lại trang trại Mai Lĩnh cũ rồi Ngôi Từ Đường Mai Lĩnh mới mà cũ, từ phía Tây lên phía Bắc sang phía Đông, lai bắt gặp con sông Cà Lô, bốn mùa dòng nước mải miết chảy về xuôi, tôi vô tình nhìn theo dòng sông "một đoạn sông chưa đầy cây số mà ba lần uốn khúc", mặt sông khói sóng, gợi buồn cho ai.

====================================================

Thư của Y.
(bài viết của Trân Đức Trung)
Em không rành tiếng Pháp, gửi nguyên văn anh xem, (Một người bạn đã gửi cho em)
Già hay nhiều tuổi
Làm thế nào mà khi về hưu, một số người chỉ đơn thuần là trở thành "nhiều tuổi" thôi, trong khi người khác thì thành "già"? Là bởi vì nhiều tuổi khác với già. Trong khi người nhiều tuổi chơi thể thao, trải nghiệm, người già lại nghỉ. Trong khi người nhiều tuổi có tình yêu để trao, người già lại giữ ganh tỵ và oán hờn. Trong khi người nhiều tuổi có những dự tính tương lai, người già luyến tiếc quá khứ. Trong khi nhật ký của người nhiều tuổi gồm những"ngày mai" thì nhật ký của người già chỉ những "ngày hôm qua" Trong khi người nhiều tuổi có giấc mơ khi ngủ, người già lại gặp những cơn ác mộng Không có cái chuyện cho tôi, cho chúng ta để mà già. Có thể chúng ta nhiều tuổi, nhưng chúng ta không muốn già, bởi chúng ta có tình yêu để cho đi, có việc để làm Đó là tất cả những gì tôi muốn chúc mọi người khi lại một năm mới đến
Vieux ou âgé
Comment se fait-il qu'avec la retraite, certains devienment simplement "âgés", alors que d'autres deviennent "vieux"? C'est parce qu'être âgé, c'est différent qu'être vieux. Alors que l'âgé pratique le sport, la découverte, les voyages, le vieux se repose. Alors que l'âgé a de l'amour à donner, le vieux accumule les jalousies et les rancoeurs. Alors que l'âgé fait des plans pour son futur, Le vieux n'a que la nostalgie du passé. Alors que l'agenda de l'âgé comprend surtout des "lendemains",le calendrier du vieux ne contient que des "hier" Alors que l'âgé fait des rêves en dormant, Le vieux fait des cauchemars. Il n'est pas question pour moi, pour nous, d'être vieux.Nous pouvons être âgés, peut-être, mais nous ne voulons pas être vieux,car, nous avons tant d'amour à donner , tant de choses à faire, En tous les cas, c'est ce que je vous souhaite, à toutes et à tous, pour ces prochaines années!
Trả lời của Tr.
- Cám ơn Y. Bản tiếng Pháp và tiếng Việt cùng một ý.
- Có nhiều bài thơ, nhiều câu văn viết cùng ý đó. Nhưng anh thích hai câu sau:
“ Tất cả mọi người lớn lúc đầu đều là những đứa trẻ nhưng ít người trong số họ còn nhớ điều ấy” - Saint-Exupéry.
Thế nào là đứa trẻ nhỉ, Y. chắc sẽ hỏi anh. Có thể nói rất nhiều nhưng nếu chỉ được chọn một anh sẽ nói: ” Đứa trẻ thích chuyện cổ tích, mải chơi và dễ tin". Hãy đừng để mất đứa trẻ đó trong tâm hồn chúng ta.
“Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng ngạc nhiên hay kinh ngạc, kẻ đó coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình” - A.Einstein
- Anh có một bài thơ, gửi Y . xem nhé, vào YouTube tìm: tranductrung tho Eternity
Eternity
Hãy thử nghĩ thử nhìn theo cách khác
Hãy thử đừng mắc kẹt bởi chính mình
Những định kiến đã từ lâu thành bẫy
Ta yên lòng bị nhốt, thật sao
Ta nhiều tuổi nghĩa là dày năm tháng
Ta trẻ vì còn nhiều cái chờ mong
Hai điều đó có gì xung đâu nhỉ
Cùng bên nhau chúng sẽ tạo diệu kỳ
Năm tháng càng nhiều, như rượu để càng lâu
Đủ cả ngọt chua dịu nồng đắng chát
Cả bốn mùa nắng mưa trời đất
Để ai cười ai khóc ai say
Ta vẫn chờ nơi góc phố chiều nay
Vẫn ngóng trông, vẫn dại khờ hy vọng
Em mặc áo nào, màu hồng hay xanh biếc
Vẫn bồi hồi khi thấy một mình em
Anh kể cho em về anh đến thăm một PGS già nhé, một đoạn viết trong nhật ký.
Sáng hôm nay dậy muộn. Trời ấm. Nhà cửa dọn dẹp tạm rồi, Hôm nay phải đến thăm anh Lân và đưa quà tết của nhà trường cho anh. Tôi đến nhà anh, có một cô phục vụ mời lên gác. Căn nhà 5 tầng to, rộng giờ chỉ còn một ông già 80 bị tai biến mạch máu não, ngồi trước máy tính, một tay co quắp run  gõ bàn phím gắn minh với thế giới này. Anh nói anh nhìn kém lắm nhưng nghe vẫn tốt. Tôi đưa anh vào trang của tôi, mục Video nghe nhac thơ tôi mới làm cho tết 2013. Có hai phần. ABC là những bài thơ nhạc của tôi, không là chính tôi. XYZ là những bài hát, bản nhạc đã truyền cho tôi cảm hứng và tình yêu. Ở đây tôi chọn mãi các giọng ca cho bài “Cây Liễu”. Thay đi thay lại rồi cuối tôi chọn được tốp ca nữ Ural. Họ không cho tôi cảm giác sân khấu, cho tôi cảm giác trở về bên dòng sông cùng họ. Bài hát Ý tôi yêu thich "Mặt trời của tôi" tôi chọn giọng ca Magomaev. Châu Á là 4 bài của Đặng Lệ Quân. Anh nghe bài " Mốc thời gian" của tôi và khóc, tôi vội tắt đi chuyển sang nhạc Nga. Anh Lân sẽ đưa cho tôi bản thảo truyện tên là "Dòng sông uốn khúc" để có thể chọn đưa vào blog abc. Anh có Long, con trai học ở Ba Lan sau lấy vợ người Ba Lan, sống ở đó. Vợ anh ấy sang thăm con, về ốm chết. Sau khi về hưu, lúc 65 tuổi anh Lân mới sang Ba Lan, đi thăm lại những chỗ vợ đã đi thì bị đột quỵ vào dịp Tết, do cảm lạnh, do uống rượu hay do nhũng nguyên nhân khác. Chữa ở Ba Lan rồi về VN, một tay còn khỏe chống nạng đi tập tễnh thang gác.  Nhà to nhưng lại ở xa sâu trong ngõ, không có không gian Hồ, Công viên, Thiên nhiên. Đành phải đi dạo trên mạng vậy. Thế mà đã hơn chục năm đấy. Tôi ngồi lặng im nhìn anh. Anh tay co quắp một ngón gõ bàn phím tìm cuốn truyện anh viết trước khi đi nghỉ hưu, hơn mười năm trước. Anh sẽ xem lại, sửa lại, có thể còn phải viết thêm. Anh còn nhũng việc để làm. Thực ra còn một việc này thôi. Hồi xưa đi dạy ở Algerie về anh có giới thiệu về phép biến đổi Torseur với ý định xây dựng cơ học trên cơ sở Torseur và Tenseur. Và cuốn sách Cơ Học Ứng Dụng của anh với tôi viết chung lại cho xuất bản phần hai trước. Cái cô ở Nhà Xuất Bản Giáo Dục cứ giục tôi cho ra phần một. Tôi khất lần. Không có anh viết cùng tôi không còn cảm hứng nữa. Chắc cô ấy bây giờ cũng quên rồi. ...............
Contact PGS Đỗ Như Lân 0913022613.
.
click để xem các chủ đề.... http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét