Click xem các tên bài viết
http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat 
-------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------
H. ơi, thế ra em cũng học BK hồi ấy. Em đọc thử đi, có thấy chút mình trong đó không.
Không anh đường bỗng dài ra / Khởi đầu là chỗ chúng ta quay nhìn
Càng đi càng lại khó tin / Rằng nơi cuối đến chỉ mình em thôi
(thơ Phương Thúy)
Không anh đường bỗng dài ra / Khởi đầu là chỗ chúng ta quay nhìn
Càng đi càng lại khó tin / Rằng nơi cuối đến chỉ mình em thôi
(thơ Phương Thúy)
Nghe bài hát Nga http://www.youtube.com/watch?v=nqsL2EiGi74
Như một truyền thuyết " Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Liên Xô quyết định giúp Việt Nam xây dựng một trường Đại Học Bách Khoa Kỹ Thuật ở phía Nam Hà Nội. Một kiến trúc sư Nga được cử sang để tìm hiểu và chọn ý tưởng thiết kế. Đến Hồ Gươm, được nghe chuyện về Lê Lợi hoàn kiếm cho rùa thần, hình ảnh về một trường Đại Học mang cái hồn từ ngàn xưa đó đã xuất hiện, ám ảnh người kiến trúc sư Nga. Đó là sóng nước Hồ Gươm bắn lên từ lưỡi gươm thần chém xuống nước của Lê Lợi đã trào về phía Nam (theo hướng phố Tràng Thi bây giờ), cuộn dừng lại thành hồ Thuyền Quang (còn gọi là hồ Ha Le), rồi trào ập sang thành hồ Bảy Mẫu. Những đợt sóng nối tiếp nhau hình thành trường ĐHBK. Có thể thấy những ngọn sóng trên nóc tòa nhà chính C1. Các hành lang, tòa nhà C1, C2, C3, C4, C5 cũng lượn lên xuống theo nhịp sóng. Và chỉ có con sóng nào vượt lên, tách khỏi đám đông, bay lên trên những cái tầm thường của đời thường, chấp nhận sự thách thức cô đơn thì mới dám hiến dâng thật sự vào khoa học, con đường đầy chông gai. Đó là hình ảnh cổng Parabol, cái ngọn sóng Soliton đơn độc ...Cũng có ai còn nhớ người kiến trúc sư Nga đó không. Chỉ biết rằng sau đó người ta xây thêm C9, làm khuất thêm cái cổng Vòm. Ở phố Trần Nhân Tông cái cổng công viên cũng được xây cao lên. Từ trên cao nhìn xuống thấy thấy tiếc... "
Chi gặp anh lần đầu tiên ở sân bóng chuyền, đội khoa chế tạo máy đang bị dẫn điểm. Hằng bấm Chi: ”Khoa kinh tế họ chơi đều hơn nhưng bây giờ sẽ đến lượt ông Tùng giao bóng đây”. Vừa lúc bên kia đập ra ngoài, bóng rơi cạnh hai cô sinh viên khoa vô tuyến đứng xem. Tùng bước đến lấy bóng thì Hằng không đưa cho anh, lại đặt bóng vào tay Chi: ” Trả mày”. Có phải bóng đã được tay Chi trao cho không mà mấy quả phát bóng của anh nhanh mạnh đến kỳ lạ, đảo ngược và kết thúc luôn trận đấu. Mọi người vỗ tay hò reo rồi giải tán, đến giờ ăn cơm ở nhà ăn tập thể rồi. Tùng gọi cô em họ đợi anh:
- Tối thứ bảy này sinh nhật thày Hải ở phòng anh. Hằng giúp bọn anh mua ít kẹo bánh hoa quả được không. Nói với cậu và mợ là anh vừa về Nam Định tuần trước. Mẹ anh thích miếng vải lắm, nhưng kêu thôi mợ đừng mua cho quê gì nữa, tốn tiền.
Chiều thứ bảy trong phòng đầu cạnh cầu thang tầng ba nhà tập thể A2 của các cán bộ độc thân, chiếc đài Rigonda cũ kê góc tường được mở nghiêng nắp ra như chiếc dương cầm nhỏ, chiếc đĩa hát cứ quay bồng bềnh, say sưa. Căn phòng rộn ràng tiếng hát các bài dân ca Nga: ”Liễu xanh ơi, xanh như ngày nào. Lá đung đưa ngiêng soi bên dòng ...“. Chi vừa nghe hát vừa bày kẹo bánh lên những chiếc đĩa giấy, vừa thấy trong lòng một niềm vui là lạ pha chút kiêu hãnh - kẹo bánh cô dùng bìa nhà vào mua tận trong Tôn Đản, cửa hàng dành cho gia đình các vị lãnh đạo cao cấp. Cô còn định mua thêm bánh ga tô để thắp nến như đúng kiểu sinh nhật ở nhà cô nhưng Hằng ngăn lại: ”Thôi, tốn tiền với lại sang quá ông Tùng không thích đâu, lại mắng tao. Ông ấy trông hiền thế nhưng dễ tự ái lắm”. Mà cũng đúng thật, Chi thấy các thầy đi học ở Liên xô về trông ai cũng quê quá vậy, chẳng bù cho anh trai Chi và hội bạn anh ấy ở Đức, Ba Lan, Bun về, có khi chỉ cao đẳng hay trung cấp thôi mà gì cũng sành, cũng thạo.
Hằng loay hoay cắm hoa vào cái lọ bé cũ cứ chực đổ. Một thầy đeo kính cận lôi trên giá xuống mấy quyển sách bìa cứng xếp chặn giúp Hằng: ”Thôi thế này là chắc không đổ được đâu, chùm hoa và Puskin”. Ngoài bìa quyển sách trên cùng in hình tự ký hoạ của nhà thơ Nga. Chú ruột của Chi cũng là nhà thơ. Mỗi lần sinh nhật bố chú lại đọc tặng một bài thơ, nếu đi vắng thì gửi thơ đến, các bài thơ đều na ná giống nhau. Các bác, các chú khác cũng đọc thơ chúc mừng, ca ngợt bố. Chú Mùi thư ký của bố chép lưu cẩn thận tất cả thơ thành một tập dày. Anh Dương nhìn thấy chỉ kêu: ”Khiếp thật ”. Cũng có cả đôi bài viết khen Chi nhưng cô đọc thấy xấu hổ, cái gì cũng nói quá lên. Chú Mùi giải thích cho Chi : “ Đã là thơ thì ý phải khái quát hoá, ngôn ngữ phải được chọn lọc, phải cường điệu, phải có tứ thơ, nghĩa là phải đúng luật “. Chi không cãi những vẫn thấy thế nào ấy. Hồi học năm thứ hai có một anh học kiến trúc bố là đại sứ ở nước ngoài cứ theo Chi, có lần tặng cô một bưu ảnh nổi của Tây in hình đôi trai gái như thiên thần trên con ngựa có cánh, dưới viết đè nắn nót dòng thơ: ” Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gíó, cho trời sao êm rụng một đêm hoa”. Chi thấy ngường ngượng rồi cho anh ấy lặng luôn. Dương bảo Chi : ”Em khó tính quá ,thôi không thích thì cho anh, sinh nhật cái Hiền anh chưa có gì tặng “. Chi cho luôn, khái quát mà, cho ai cũng được, tặng ai cũng được,nhưng trong đáy lòng sâu thẳm Chi vẫn mong có một cái gi riêng cho cô, chỉ riêng cho cô không lẫn với ai.
Thày Hải, lý do chính của buổi chiều này, có cặp kính dày cộp,đầu đã hói, dáng dấp vụng về . Trong người thầy giáo dạy môn vật lý chất rắn đó thấp thoáng một đứa trẻ thơ. Hằng nói với Chi :”Ông Tùng nói thầy Hải giỏi lắm đấy, đã có mấy bài báo đăng ở viện hàn lâm khoa học Liên Xô rồi, chỉ có cái tật thấy chị em nhìn là nói lắp”. Chi nghe, tự nhiên thấy thương thương. Hằng biết hầu hết các thầy và cũng rất tự nhiên thoải mái với mọi người. Thỉnh thoảng Chi cũng bắt gặp những cái nhìn kín đáo, lại nghe loáng thoáng họ nói về cô, về gia đình cô. Ghét nhất là mấy cô cùng quê của các thầy nào đó, ngồi gần cửa sổ xa cứ thầm thì rồi lại liếc trộm Chi. Hình như họ không phải cán bộ hay sinh viên trong trường. Chi không nhìn ai cả , đôi mắt đăm đăm làm như đếm các cánh bông hoa trước mặt, cố giữ vẻ bơ, một chút kiêu xa. Tùng bắt đầu buổi vui với một quà tặng nhỏ - cây bút Hồng Hà màu đỏ và một quyển vở ngoại bìa cứng xanh. Anh mở quyển vở đọc câu thơ viết nắn nót ở trang đầu:
Thày Hải, lý do chính của buổi chiều này, có cặp kính dày cộp,đầu đã hói, dáng dấp vụng về . Trong người thầy giáo dạy môn vật lý chất rắn đó thấp thoáng một đứa trẻ thơ. Hằng nói với Chi :”Ông Tùng nói thầy Hải giỏi lắm đấy, đã có mấy bài báo đăng ở viện hàn lâm khoa học Liên Xô rồi, chỉ có cái tật thấy chị em nhìn là nói lắp”. Chi nghe, tự nhiên thấy thương thương. Hằng biết hầu hết các thầy và cũng rất tự nhiên thoải mái với mọi người. Thỉnh thoảng Chi cũng bắt gặp những cái nhìn kín đáo, lại nghe loáng thoáng họ nói về cô, về gia đình cô. Ghét nhất là mấy cô cùng quê của các thầy nào đó, ngồi gần cửa sổ xa cứ thầm thì rồi lại liếc trộm Chi. Hình như họ không phải cán bộ hay sinh viên trong trường. Chi không nhìn ai cả , đôi mắt đăm đăm làm như đếm các cánh bông hoa trước mặt, cố giữ vẻ bơ, một chút kiêu xa. Tùng bắt đầu buổi vui với một quà tặng nhỏ - cây bút Hồng Hà màu đỏ và một quyển vở ngoại bìa cứng xanh. Anh mở quyển vở đọc câu thơ viết nắn nót ở trang đầu:
Tuổi ba mươi
vui như trẻ lên mười
yêu như tuổi mười bảy
buồn như sắp năm mươi.
Có phải câu thơ động đến tình yêu không mà mọi thứ như được cởi tung ra, mọi người hết trêu Hải rồi lại kể chuyện,lại hát các bài về tình yêu, nhắc lại những ngày tháng sinh viên ở nước ngoài của họ, về những người thầy, người bạn Liên Xô. Các thầy cũng nhanh chóng hết giữ kẽ, nói cười thoải mái lại pha, xen trộn lẫn tiếng Nga vào. Bố Chi là ghét lắm đấy. Ông bảo đó là vô văn hoá, là xúc phạm những người khác. Chi vẫn tin là bố nói đúng, nhưng ở đây sao cảm giác bị xúc phạm cô không thấy.
vui như trẻ lên mười
yêu như tuổi mười bảy
buồn như sắp năm mươi.
Có phải câu thơ động đến tình yêu không mà mọi thứ như được cởi tung ra, mọi người hết trêu Hải rồi lại kể chuyện,lại hát các bài về tình yêu, nhắc lại những ngày tháng sinh viên ở nước ngoài của họ, về những người thầy, người bạn Liên Xô. Các thầy cũng nhanh chóng hết giữ kẽ, nói cười thoải mái lại pha, xen trộn lẫn tiếng Nga vào. Bố Chi là ghét lắm đấy. Ông bảo đó là vô văn hoá, là xúc phạm những người khác. Chi vẫn tin là bố nói đúng, nhưng ở đây sao cảm giác bị xúc phạm cô không thấy.
Hằng vô tư chạy sang đòi đổi chỗ cho anh Tùng, nói để anh sang dịch cho Chi nghe các bài tiếng Nga mọi người hát. Con ranh, Chi có nhờ nó đâu, cô nghe lõm bõm, nhìn dáng điệu của mọi người cũng đoán được cả, cũng có lúc phải bật cười thôi. Tùng sang nói ngay với Chi : “đã đặt được vào ngữ cảnh rồi thì ngôn ngữ không quan trọng quá như mình nghĩ đâu, cái chính là người ta có muốn hiểu nhau không, có biết chờ đợi để hiểu không. Hồi bọn anh mới sang học, không biết tiếng Nga, cô giáo không biết tiếng Việt, thế rồi cũng dạy được, học được. Hình như mọi người của các dân tộc khác nhau trên trái đất này ngoài tiếng mẹ đẻ của mình còn có một thứ tiếng nữa, tiếng nói của... ờ ...” - Tùng đang say sưa bỗng dừng lại, một chút bối rối. Hay anh chàng lại nhớ đến cô gái tóc vàng nào rồi, Chi bỗng thích thú và nén, che giấu suy nghĩ của mình, thản nhiên bóc cam chờ anh nói tiếp. Tùng cũng hiểu, bật cười, hình như là cười với mình, diễu chính mình rồi tiện tay cầm quyển thơ cạnh lọ hoa trước mặt: “Puskin đấy Chi ạ. Anh học tiếng Nga qua những bài thơ này, mà kẹo bánh Chi mua hộ sang, cầu kỳ quá. Lần sau mua kẹo giấy thường cũng được, bọn anh toàn nông dân Ivan thôi “. -Tùng chuyển chủ đề rất nhanh, chắc Hằng đã mách lẻo với ông anh rồi .
Bên dãy bàn kia họ vừa tốp ca xong một bài hát vui nhộn về chàng say rượu và có người xin bên Tùng ngồi cho tiết mục. Có tiếng reo :” Thôi nhà thơ bắt đầu đi, thơ tình nhé không Bút Tre đâu”. Tùng cầm quyển thơ Puskin lên đọc, giọng anh ấm, nói và đọc thơ Nga nghe hay quá, rồi anh lại dịch ra tiếng Việt nữa. Chi chưa bao giờ được nghe thơ như thế này
Tôi nhớ một phút giây huyền diệu ,
Em, từ đâu xuất hiện trước tôi ,
Như hình bóng thoáng qua ngắn ngủi ,
Như thiên thần sắc đẹp vẹn toàn ...
Lúc câu chuyện ,các bài hát được chuyển qua nhóm khác, Chi quay sang anh Tùng: ”Thơ Puskin hay mà đơn giản quá, cứ như mình nói vậy ”. Tùng lại cười: ”Anh dịch cố đúng nghĩa từng từ chứ có trau chuốt gì đâu. Tự trong thơ Puskin có có vần, có nhạc rồi. Phổ nhạc thành bài ca cũng dễ mà dịch sang cũng dễ ”.
Em, từ đâu xuất hiện trước tôi ,
Như hình bóng thoáng qua ngắn ngủi ,
Như thiên thần sắc đẹp vẹn toàn ...
Lúc câu chuyện ,các bài hát được chuyển qua nhóm khác, Chi quay sang anh Tùng: ”Thơ Puskin hay mà đơn giản quá, cứ như mình nói vậy ”. Tùng lại cười: ”Anh dịch cố đúng nghĩa từng từ chứ có trau chuốt gì đâu. Tự trong thơ Puskin có có vần, có nhạc rồi. Phổ nhạc thành bài ca cũng dễ mà dịch sang cũng dễ ”.
Tối hôm đó về Chi khó ngủ, chắc là tại uống chè đặc quá. Nhắm mắt mãi mà cô vẫn như thấy Tùng bên cạnh, nghe tiếng anh trầm ấm: ”Puskin gặp Ana Kern lúc cô mới mười sáu tuổi. Ana yêu ông nhưng nhà thơ không để ý, còn quá nhiều việc bận bịu , tưởng là cần hơn. Sau này gặp lại bà ấy đã có chồng, Puskin viết trường ca Oghinein tặng Ana và kẹp vào đó bài thơ tình anh vừa đọc. Anh thích vì bài thơ đó gửi cho một người, nó là lời từ trong lòng, những lời nói rất bình thường, chân thành dành cho một người, nó thật quá, đơn sơ quá và có lẽ vì thế ai đọc được, hợp thì sẽ rất thích.Mỗi bài thơ đều có một tiểu sử, một cuộc sống, một nơi trú ngụ. Không phải ai cũng viết được như thế, người ta hay quen những câu thơ to tát ồn ào, cho muôn đời, đọc cho muôn người, quen ngộ nhận, nói thay người khác. Cần phải có một tầm sống thế nào, phải thành thật với chính mình đã, phải nói từ lòng mình. Đó chính là Puskin. Lúc anh đọc thơ của ông, anh như cứ thấy nhà thơ ở rất gần, cũng đang lắng nghe “.
Sáng hôm sau Dương bảo cô em gái: ” Đi đâu mà về muộn thế, làm mẹ cứ phải dối quanh, ra phòng khách mà xem cái hộp trang sức có nhạc người ta tặng chưa, mua tận Dubai đấy “. Hoá ra tối qua ông bà đại sứ và con trai đến chơi ngồi lâu, ý muốn chờ xem mặt. Chi nghe anh nói mà mắt để đi đâu, cũng chẳng buồn lên nhà ăn sáng nữa. Cô bỗng thấy thèm nghe lại giai điệu “Liễu xanh “ và những bài hát hôm qua quá. Chi dắt xe đi, nói đến nhà Hằng mượn bài. Mẹ lắc đầu: ” Có đi thì về sớm, trưa nhà có khách đấy”. Bà cưng con gái, không ngăn cản điều gì nhưng không thích Hằng lắm. Bố Hằng làm ở ban âm nhạc đài phát thanh, viết phối âm và chơi được đủ các loại đàn. Có lần Chi hỏi xem ông có sáng tác bài hát hay bản nhạc nào không thì ông cười: ” Ngày xưa chú có viết dăm ba bài nhưng tặng mất rồi, không biết họ còn giữ không hay cả người cũng không còn nữa ”. Chi thấy lạ, bài hát, bản nhạc mà cứ như là đã tặng xong là mình hết sạch, như tặng cái bánh vậy, chỉ thấy đôi mắt ông buồn nhìn xa xa, cô không dám hỏi thêm nữa. Mẹ Hằng làm việc ở quầy tiết kiệm gần nhà. Nói chung họ thuộc tầng lớp thường dân. Chi vừa xuống xe, đi vòng qua cái giếng của khu tập thể thì đã thấy Hà, em gái Hằng kêu mừng rỡ: ”Chị lai em đến bệnh viện mới. Chị Hằng và mẹ em đang ở trong đó rồi. Sáng nay bố em bị ngã, phải đi cấp cứu”. Ở bệnh viện bố Hằng được tiêm thuốc đã tỉnh, đôi mắt lờ đờ, bàn tay phải co quắp lại, cái miệng méo mấp máy như muốn nói gì khi nhận ra đưa con gái út. Cơn nguy hiểm đã qua nhưng áp huyết lên đột ngột buổi sáng dẫn đến tai biến mạch máu não. Cũng may ông bị khi vừa bước xuống giường chứ ra đến cầu thang ngã thì xong rồi. Hà oà lên khóc khiến Hằng phải mắng em nhưng rồi cả ba mẹ con đều khóc. Chi cũng khóc theo, nhà còn lại toàn đàn bà cả. Anh Tùng, phải rồi - còn đàn ông, cô hỏi Hằng: ”Anh Tùng đã biết chuyện chưa? ” Hằng lắc đầu, nước mắt vẫn giàn dụa: ” Từ năm giờ sáng đến giờ đều ở bệnh viện cả, có ai báo cho anh ấy đâu”. Chi ra lấy xe phóng ngay xuống trường tìm anh, nhân tiện mua mấy cái bánh cho mọi người ăn giữ sức, chuyện xẩy ra đột ngột quá . Tùng đến ôm lấy vai mợ rồi nói chuyện với bác sỹ. Mọi người cũng bình tĩnh lại. Đàn ông có khác, họ cũng chưa chắc biết làm gì hơn đâu, nhưng có họ người ta thấy yên tâm hơn.
Cũng từ hôm đó có một người con gái hàng ngày bồn chồn mong buổi chiều đến để vào bệnh vịên thăm người ốm. Mẹ khoe với các bà khách :’Cháu nó học lớp ngoại ngữ buổi tối, học thêm một lúc hai ngoại ngữ, tiếng Nga với tiếng Anh, cả tiếng phe mình, cả tiếng tư bản”. Các bà khách tấm tắc khen, chỉ có anh Chi đang đùa với con chó Tây ở sân nghe thấy buột miệng :” Khiếp thật ”. Dương đang chờ đợi hết năm vào học tiếp năm cuối đại học xây dựng. Ông bố nghe tin con mình yêu con gái Đức đã điện ngay cho sứ quán giải quyết gấp, chậm có thể chúng nó lại trốn sang Tây Đức mất, cái nảy sẽ xảy cái ung. Dương được đưa về nước, trừ bữa ăn còn toàn tránh bố, lúc nào đi đâu về mặt tươi hớn hở là chắc lại nhận được thư từ nước ngoài gửi qua nhà bạn. Để chia xẻ cậu ta cũng hay kể cho em gái về Monika: ” Nó biết anh mê bóng đá, mê đội Dinamo, nó không thích bóng đá nhưng ngày nào cũng ngồi xem để viết thư tả lại cho anh “. Tình yêu kỳ lạ thật, nó xui người ta làm bao điều không hiểu nổi - Chi nghĩ đến người con gái Đức ở phương trời xa, nghĩ đến người con gái Nga trong bài hát “Liễu xanh” và bâng khuâng nghĩ đến mình. Chi cũng không hoàn toàn nói dối mẹ, cô có đi học tiếng Nga thật lúc đến bệnh viện thăm người ốm và cả lúc trên đường được Tùng đưa về, lại học đâu nhớ đấy giống như cô tiểu thư nông dân trong truyện của Puskin. Thầy giáo Tùng thì gọi đó là phương pháp học truyền khẩu còn Hằng đặt cho nó cái tên nôm “học mớm” . Cũng không biết họ đã tỏ tình với nhau khi nào, khi Tùng bắt Chi tập chia lại động từ “Yêu” hay khi anh đọc cho cô những câu tiếng Nga, bắt Chi học thuộc rồi về tự tra lấy tự điển để hiểu, để cười một mình và để nhắm mắt nhớ lại anh. Cũng có thể tình yêu đã đến khi vô tình tay họ gặp nhau và nắm chặt bên giừơng bố Hằng lúc ông lại bị ngất đi. Có phải khi đứng trước cái chết của người thân những cặp tình nhân tưởng như mình đang đứng trước bàn thờ Chúa vậy không mà cả sau lúc ông chú đã được tiêm hồi sức, cơn nguy kịch đã qua, Chi vẫn để cho Tùng nắm chặt lấy tay, để ngón tay cái anh vuốt xoa, tìm dần từng ngón thon dài mềm mại của cô, để rồi cứ không buông vuốt mãi cái ngón tay trần gọi là ngón đeo nhẫn ấy.
Thế rồi thời gian trôi qua như trong những bài ca - cái gì đến, sẽ đến. Bố Hằng về điều trị tại nhà, Chi đã hát cho ông nghe được những bài hát Nga có trong các đĩa hát của Tùng, đã nói chuyện với người yêu qua thứ tiếng âm dài ngoẵng, trầm bổng ấy. Mồng bốn Tết đến cô nói dối mẹ về Bắc Ninh thăm bạn rồi đi nhờ xe về Nam Định. Tùng đón cô ở bến ô tô. Chi mang nhiều quà quá thành ra phải để túi đằng sau, ngồi lên dóng xe cuốc để Tùng lai về làng. Bố Tùng bị tai nạn gãy chân, về mất sức, chăm vườn, lợn gà và nhận lạc bóc thêm, mẹ bán hàng vải gánh. Buổi tối trên cái chõng tre lạ khó ngủ Chi bỗng ứa nước mắt ra, trong lòng cô trào lên một niềm yêu thương vô hạn dành cho Tùng và bố mẹ anh. Ngày mai phải về Hà Nội rồi chứ không Chi sẽ bảo cho cô sang ngủ với mẹ. Có lẽ phải ở đây, trong mái nhà gianh vách đất vùng quê Vụ Bản này, nghe tiếng côn trùng kêu, tiếng gió lùa đuổi nhau bên ngoài Chi mới thấy thấm thía các chữ gia đình, bố mẹ, con cái , vợ chồng và hai chữ chân quê. Cô thiếp đi trong giấc mơ thấy mình đi dạo cùng Tùng trên con đê, bắt đền anh để cỏ may găm đầy áo. Họ qua ruộng lúa rồi đến vườn chanh, Tùng chạy lại hái một quả chanh to cười tung cho cô. Chi giơ tay bắt, bỗng dưng quả chanh tuột khỏi tay cô, bay bổng lên qua đầu. Đằng sau lưng Chi, quả chanh đã nằm trong tay một người con gái mặc áo len hồng có đôi mắt lá dăm. Quay lại, không thấy Tùng đâu, quay đi, người con gái cũng bíến mất. Chi khóc, lạc mãi trong vườn chanh đòi quả chanh, đòi người yêu. Sáng hôm sau Chi định hỏi Tùng về người con gái mắt lá dăm nhưng lại thôi - cái người con gái họ gặp lúc về đến đầu làng đó.
Chiều chủ nhật, mồng sáu tết Tùng đến nhà Chi. Đây là lần đầu tiên anh đến và cũng bất ngờ nghe câu đầu tiên bố Chi nói với anh: ”Bố mẹ anh làm gì? “ Chú thư ký ngồi chơi đang dở xem các tờ báo tết cũng dừng tay lại, ngẩng lên chờ đợi. Lúc về Chi đưa Tùng ra đến cổng, đôi mắt mở to, bồn chồn, Tùng cầm tay cô nói khẽ: ” Em vào đi , nhà còn nhiều khách, anh yêu em nhiều hơn bao giờ hết.”.
Nhưng nói Yêu lại là một chuyện, làm được cho Tình yêu lại là chuyện khác. Mối tình đầu, không chút kinh nghiệm, càng đẹp lại càng mỏng manh dễ vỡ, che chở cho nó thế nào đây? Các nhà văn, nhà thơ cứ nói, họ mất gì đâu :’Tình yêu là sức mạnh, tình yêu luôn chiến thắng, cùng lắm thì như chàng Romeo và nàng Juliete chết đi để lại niềm cảm hứng cho muôn đời sau “. Chi không vậy, cô cần có Tùng trong kiếp này, cái muôn đời sau ai muốn cô xin nhường, cũng không muốn bó tay chịu thua như anh Dương. Chi nói thẳng, chống đối bố mẹ, không chịu ngồi theo sự xếp đặt, thậm chí sau khi tốt nghiệp cô còn liên hệ xin việc ở một xí nghiệp nhỏ ngoại ô Nam Định, sẵn sàng quên đi cái địa vị cành vàng lá ngọc của mình để làm bông hoa chanh trong vườn quê. Nhưng bố Chi là một con người sắt đá và quen chiến thắng. Xí nghiệp ở tỉnh lẻ đó bị một phen hú vía. Chi được phân công về bưu điện Hà Nội. Nhưng với Chi, nặng nề nhất là sự cô đơn. Bạn bè xa lánh cô, kể cả Hằng. Họ sợ liên lụy. Và hơn tất cả, Tùng cũng bỏ cuộc. Một cú điện thoại gọi xuống trường và tiếp đó cũng qua điện thọai, khoa của Tùng nhận được một lời khuyên ngắn gọn của của lãnh đạo trường: “Các anh phải làm gì chứ, sao để tình trạng thầy giáo trẻ trong khoa quyến rũ sinh viên thế này“. Ông chủ nhiệm khoa cắn môi đến chảy máu - vợ ông cũng từng là sinh viên của ông, họ rất hạnh phúc.
Sau khi gặp chủ nhiệm khoa Tùng gần như suy sụp. Cùng với Chi bỏ trốn vào Sài Gòn? Không được, còn bố mẹ già. Anh lại trong danh sách được cử đi thi nghiên cứu sinh sắp tới. Hải bảo Tùng: ” Đừng làm rối tinh lên Tùng. Cậu phải đi thi và thi đỗ, đừng phụ lòng tin mọi người “. Câu nói đó làm Tùng lặng đi. Anh chưa kể cho ai dù là người bạn thân nhất, cái day dứt như mắc nợ mà không trả được của anh. Số là năm cuối phổ thông Tùng ngồi cạnh Vân Tùng, một học sinh miền nam chuyển đến, bố là cán bộ lãnh đạo tỉnh. Văn Tùng và Vân Tùng đều học giỏi và rất thân nhau. Chiến tranh đã leo thang, bom đạn đã rơi xuống thành phố dệt, mọi việc đều vội vã cũng như cái giấy báo gọi Văn Tùng đi lưu học Liên Xô đến lúc anh còn đang cuốc dở luống khoai. Từ lúc nhận giấy báo đến lúc lên tàu liên vận rời Hà Nội vẻn vẹn không đầy một tuần. Mãi sau này khi đi học Liên Xô về Tùng mới biết giấy báo đã viết nhầm tên. Khi ban tuyển sinh tỉnh phát hiện ra đến báo cho bố Vân Tùng và định lấy xe của ông chở Vân Tùng lên Hà Nội thay cho Văn Tùng ngày mai đã lên đường đi lưu học thì thật bất ngờ, cậu học sinh này nói: ” Không nhầm đâu, bạn Văn Tùng đi mới là xứng đáng, Văn Tùng học giỏi và toàn diện hơn con. Đất nước cần những người như bạn ấy về xây dựng lại sau này “. Ông bố nghe con nói quay lại bảo anh cán bộ phụ trách tuyển sinh: ” Anh nghe thấy cháu nói rõ rồi chứ, các anh hiểu được suy nghĩ của cháu chứ “. Sau đó ít lâu Vân Tùng nhập ngũ, hình như hy sinh trước bố mấy tháng. Mộ hai bố con đều được đưa về quê, nằm cạnh nhau tại một nghĩa trang liệt sỹ nhỏ tỉnh Bến Tre. Chiến tranh ác liệt quá, lớp Tùng hy sinh hơn nửa.
Lần đi nghiên cứu sinh này cũng vội vàng quá. Tùng cũng không gặp được Chi. Anh đành gửi lại qua Hằng quyển thơ Puskin và cái đĩa hát các bài dân ca Nga.
Chi ốm đến mấy tháng không ra khỏi nhà. Khi Tùng hoàn thành xong phần lý thuyết của luận án và bắt đầu phần thực nghiệm là lúc Chi lấy chồng. Được hai năm họ chia tay nhau. Chi xin chuyển vào nam, mang theo con gái, cháu tên là Kim Nga.
Bố Tùng ốm nặng, may có Nụ, cô y tá xã có đôi mắt lá dăm đến tiêm thuốc đúng lúc chứ không là đi rồi. Sau này thành vợ Tùng, tự tay cô chắt chiu, xoay xở lợp ngói lại cái nhà gianh cũ, cũng chưa một lần lên Hà Nội với chồng và hỏi anh về cô gái Hà Nội anh đưa về làng cái tết năm ấy.
Bố Tùng ốm nặng, may có Nụ, cô y tá xã có đôi mắt lá dăm đến tiêm thuốc đúng lúc chứ không là đi rồi. Sau này thành vợ Tùng, tự tay cô chắt chiu, xoay xở lợp ngói lại cái nhà gianh cũ, cũng chưa một lần lên Hà Nội với chồng và hỏi anh về cô gái Hà Nội anh đưa về làng cái tết năm ấy.
Dương đã tốt nghiệp đại học xây dựng, ở bộ mấy năm rồi sang Đức làm phiên dịch hay đôi trưởng gì đó. Monika đã lấy chồng người Đức. Vợ chồng họ năm nào cũng đến đón tết Việt Nam cùng anh. Dương cũng yêu và lấy một cô gái Đức khác. Hồi đám tang ông bố anh đưa vợ con về. Nhìn hai đứa bé tóc đen kháu khỉnh không ai nghĩ chúng là con lai. Chú Mùi bây giờ đã là nhà thơ, hay lên vô tuyến. Gặp Dương chú mừng quá tặng anh tập thơ vừa in xong, tập thơ thứ sáu. Dương cầm lấy kêu:” Khiếp thật “.
Nếu ai ghé qua một quán cà phê nhỏ yên tĩnh ở quận ba thành phố Hồ Chí Minh vào buổi tối sẽ thấy sao ở đây chỉ có nhạc không lời, có hỏi, cô phục vụ sẽ nhỏ nhẹ: ” Bà chủ không thích ồn ào ”. Tuy vậy cũng có ngoại lệ, mỗi năm một lần, vào một buổi tối thứ bảy nào đó cuối thu, bà chủ, một thiếu phụ nói giọng Bắc ra ngồi cạnh cửa sổ mơ màng để trong quán một giai điệu Nga đã bị lãng quên từ lâu lại cất lên, bồng bềnh, da diết:
Nếu ai ghé qua một quán cà phê nhỏ yên tĩnh ở quận ba thành phố Hồ Chí Minh vào buổi tối sẽ thấy sao ở đây chỉ có nhạc không lời, có hỏi, cô phục vụ sẽ nhỏ nhẹ: ” Bà chủ không thích ồn ào ”. Tuy vậy cũng có ngoại lệ, mỗi năm một lần, vào một buổi tối thứ bảy nào đó cuối thu, bà chủ, một thiếu phụ nói giọng Bắc ra ngồi cạnh cửa sổ mơ màng để trong quán một giai điệu Nga đã bị lãng quên từ lâu lại cất lên, bồng bềnh, da diết:
Nói đi em , liễu ơi đừng ủ rũ ,
Tình yêu ta ở nơi nào....
Tình yêu ta ở nơi nào....
click để xem các chủ đề.... http://tranductrungabc.blogtiengviet.net/disp/cat
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét