Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

VĂN HÓA ĐỌC CỦA NGƯỜI VIỆT

 ĐÂU LÀ VẤN ĐỀ

Năm 2013, ở Hà Nội từng có một hội thảo về Haruki Murakami và văn hóa đọc của người Việt. Khi ấy, câu hỏi được đặt ra – và đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự – là: văn hóa đọc của người Việt có vấn đề, hay chính người Việt trong cách thức tiếp cận văn học mới là vấn đề? Nghe qua tưởng như chỉ là một câu hỏi học thuật, nhưng thực ra nó chạm tới một lớp sâu hơn: chúng ta đọc văn học bằng tinh thần nào, và chúng ta chấp nhận hư cấu đến đâu.

Rất nhiều tranh luận quanh các tác phẩm của Bảo Ninh cho thấy điều này. Có người cố bênh tác giả bằng cách chứng minh rằng nhà văn “được quyền hư cấu”. Nhưng câu hỏi thú vị hơn là: tại sao lại phải “bênh”? Vì sao quyền hư cấu – một điều gần như hiển nhiên trong văn học thế giới – lại trở thành thứ cần biện hộ trong bối cảnh Việt Nam?

Ở đây, có lẽ không phải vấn đề nằm ở tác giả, mà ở thói quen đọc. Nhiều người đọc văn học như đọc biên bản sự kiện, như kiểm tra hồ sơ thực tế. Nhân vật phải “điển hình”, tình tiết phải “có thật”, bối cảnh phải “đúng như đã xảy ra”. Nếu không tìm thấy ngoài đời, lập tức bị nghi ngờ, thậm chí bị kết án là bịa đặt, xuyên tạc, không trung thực. Nhưng văn học đâu phải là bản báo cáo xã hội học.

Hư cấu là gì? Có người hỏi một cách mỉa mai: “Hư cấu là cái khỉ gì?” Thật ra, hư cấu chính là bản chất của văn học. Sự kiện hay bối cảnh trong tác phẩm chỉ là những cái đinh mà nhà văn đóng lên tường để treo tấm vải trắng của mình. Trên tấm vải ấy, ông ta vẽ nên một bức tranh – không phải để sao chép hiện thực, mà để diễn giải nó, đặt câu hỏi về nó, hoặc phản chiếu số phận con người dưới một ánh sáng khác. Điều quan trọng không phải là cái đinh, mà là bức tranh treo lên từ cái đinh ấy nói được điều gì.

Hãy nhìn sang "Trăm năm cô đơn" của Gabriel García Márquez. Ở đó, có nhân vật sinh ra với cái đuôi lợn. Nếu câu chuyện này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam, rất có thể các nhà phê bình sẽ lập tức ném đá: “Không thấy trường hợp nào như vậy ngoài đời”, “không điển hình”, “phi khoa học”. Bản thân chúng ta cũng chưa bao giờ thấy người có đuôi, và cũng không tin là người lại có đuôi. Nhưng trong văn học, chi tiết ấy không nhằm mô tả y học hay nhân chủng học. Nó là biểu tượng của sự thoái hóa, của lời nguyền lịch sử, của vòng lặp cô đơn mà cả dòng họ Buendía không thoát ra được.

Văn học thế giới đầy rẫy những “điều không có thật” như thế. Trong tiểu thuyết hiện đại Abel and Kane, có nhân vật sinh ra không có rốn – một chi tiết phi lý nếu xét theo sinh học, nhưng hoàn toàn hợp lý nếu nhìn bằng con mắt biểu tượng hay tác giả để cho một phụ nữ trở thành Tổng thống Mỹ, khi ngoài đời điều đó còn chưa xảy ra. Không ai vội vàng kết luận rằng tác giả “bịa đặt” hay “xa rời thực tế”. Người ta hỏi: vì sao tác giả lại chọn chi tiết ấy, và nó nói gì về khát vọng, xung đột hay dự phóng tương lai của xã hội?


Sự khác biệt nằm ở cách đọc. Khi đọc bằng tâm thế kiểm chứng, ta biến văn học thành một bài thi đúng–sai. Khi đọc bằng tâm thế đối thoại, ta chấp nhận rằng hư cấu là một ngôn ngữ riêng, nơi sự thật không nằm ở chi tiết, mà ở ý nghĩa. Một đứa trẻ có đuôi không phải để chứng minh rằng con người có thể mọc đuôi, mà để nói rằng con người có thể bị trói buộc bởi lịch sử, huyết thống và những lỗi lầm chưa được hóa giải.

Vì thế, quay lại câu hỏi ban đầu: vấn đề là văn hóa đọc của người Việt, hay là người Việt? Có lẽ không cần tách bạch. Văn hóa đọc chính là sản phẩm của cách chúng ta được dạy để đọc, được khuyến khích để suy nghĩ, và được phép tưởng tượng. Khi người đọc đòi hỏi văn học phải “giống đời thật”, họ vô tình từ chối một trong những chức năng quan trọng nhất của văn chương: mở rộng biên giới của khả thể.

Vấn đề không nằm ở chỗ nhà văn hư cấu quá tay, mà ở chỗ người đọc chưa quen sống chung với hư cấu. Khi nào ta chấp nhận rằng văn học không phải là tấm gương phẳng của hiện thực, mà là một lăng kính bẻ cong ánh sáng để soi sâu vào thân phận con người, khi ấy, rất nhiều tranh cãi sẽ tự nhiên lắng xuống. Và có lẽ, lúc đó, câu hỏi “đâu là vấn đề” sẽ không còn nặng nề như hiện nay.

Thôi không nói người đọc mà nói về giới những người viết vậy. Hư cấu thì họ không chấp nhận nhưng nói thật, nói cái ai cũng thấy họ cũng nổi đóa lên. Năm 2000 tôi trở về Việt Nam và có đến thăm anh Phạm Tiến Duật ở trụ sở HNV phố Nguyễn Đình Chiểu. Trong phòng làm việc hai anh em đang uống rượu thì có mấy ông nhà văn nhà thơ kéo sang. Anh Duật giới thiệu tôi và có ông muốn tôi đọc thơ. Tôi ngại quá vì thơ tôi nó mang tính riêng tư lắm. Thôi thì đọc bài ru con vậy. Nó vô thưởng vô phạt và theo kiểu 6-8 cho hợp VN. Đến câu "Lớn lên còn có bao điều-  Mấy ai ru lại chuyện Kiều nữa đâu" là một ông trong tay cầm cốc rượu nhổm lên sừng sộ.

Anh Duật phải chắn gạt ra nói "Nhà thơ không dùng tay chân mà dùng thơ" và bảo tôi cứ đọc tiếp đi. Nhưng tôi tịt, thơ chết, không ra được nữa.

Cuối cùng mọi việc lại vui vẻ vì có một cô nương đi vào nhập hội. Mọi người lại chạm cốc. Mọi người muốn tôi đọc tiếp nhưng tôi chỉ nói tôi là dân kỹ thuật, rất nghiêm túc. Tôi đã làm thống kê hỏi it nhất 10 người xem con họ có được ru bằng truyện Kiều không. Tất cả đều bảo không. Vợ tôi cũng không ru con bằng truyện Kiều vì thế điều tôi đọc trong thơ vừa rồi là thật 100%. Hóa ra chiều các nhà thơ Việt khó thật, hư cấu không được, thật cũng không xong. Thảo nào vợ các nhà thơ hay bế con về ngoại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét