LỜI TÁC GIẢ
Nhiều nhân vật trong truyện là có thật, là những người bạn, người thân của tác giả, những người tác giả gặp trên đường đi, gặp ở những ngã ba cuộc đời mình. Tác giả vẫn giữ nguyên tên của những người ấy vì trân trọng những tình cảm họ đã dành cho mình. Dù sao tác giả cũng muốn nói với tất cả một lời xin lỗi chân thành về sự tự ý đó.
Trần Đức Trung
NGƯỜI ĐÀN BÀ CAPCAZ
Một chiều cuối năm 1999 , tôi ghé vào quán nước nhỏ vỉa hè ở phố Lê Văn Hưu hỏi thăm tin tức của Phượng, anh trai của chủ quán, xưa cùng làm việc với tôi, sau bỏ sang Liên Xô làm ăn. Có mấy nhà văn, nhà báo ngồi tán gẫu với chai rượu và đĩa lạc. Câu chuyện xoay quanh các tác phẩm văn học, khen chê. Tôi buột miệng quay sang: “Cái chính của một trăm năm qua sao các bác không ai viết gì cả”. Họ hỏi tôi về cái đó. Tôi đáp: “Sự ra đời rồi sụp đổ của Liên Xô và số phận những con người Xô Viết, những ngã ba trong cuộc đời của họ và cả của những người đã cùng với họ”. Mọi người lặng nhìn tôi. Một người nói với tôi: “Ông viết đi, còn những mười ngày nữa mới hết thiên niên kỷ”.
Tôi về viết truyện ngắn đầu tiên “Người đàn bà Capcaz”. Tôi viết trong năm ngày…
---
Thời gian trôi, lỗ kim như nhỏ lại.
Sợi chỉ cứ tìm hoài vương vấn mãi thôi.
Tôi đưa vợ sang Ba Lan làm ăn từ năm chín mốt. Đến năm chín ba chúng tôi về hẳn Crakov, một thành phố cổ kính yên tĩnh bên dòng sông Visla. Chúng tôi sống như bị lãng quên, tách biệt với cuộc sống sôi nổi, gấp gáp của bạn bè cùng sang trên Varsava và hầu như không rời khỏi Crakov. Cứ đầu tuần một vài hãng may mặc ở Lodz, cách hơn hai trăm cây, mang hàng đặt đến giao cho và các khách hàng từ các nước lân cận Ucraina, Tiệp, Hung, Ru lại sang lấy. Hàng chúng tôi tự đặt theo mẫu riêng và không nhiều nên không có gì phải lo lắng, không bán lúc này, bán lúc khác. Từ khi nước Tiệp chia làm đôi người Tiệp không sang nữa. Người Ru vẫn vậy, cứ cách tuần lại kéo sang từng tốp, ồn ào, hồn nhiên, gọi nhau í a í ới. Họ xem hàng, rồi chê bai đắt xấu. Tôi nhất định không giảm giá nhưng cũng không làm họ thất vọng với những quà suvenir biếu thêm nếu mua nhiều và những lời thăm hỏi, những lời khen. Có lẽ đối với những người dân Địa Trung Hải lời khen nó cũng là một nhu cầu không thể thiếu được như rượu vodka đối với người Nga. Nó làm cho người ta dễ gần nhau hơn, bỏ qua nhiều cái hơn.
Lại nói về người Nga, điều tôi quan tâm là những tin tức về cuộc sống, về những biến động xã hội bên đó và hơn nữa là được chia sẻ một chút bâng khuâng, một chút nhớ bằng tiếng Nga. Tôi đã học và nghiên cứu mười năm ở Kharkov. Năm thì mười họa, lẻ tẻ có những người ở chính Kharkov sang… Họ không mua hàng của tôi. Họ cần hàng Tàu, hàng Việt Nam, xấu chút cũng được nhưng phải rẻ, phù hợp với thị trường bên ấy. Tuy vậy những người Kharkov hay qua lại quầy hàng của tôi chào hỏi, dù đó chỉ là một cái giơ tay, một cái nháy mắt khi họ đang vội hoặc tôi đang bận với khách hàng xúm quanh. Lúc rỗi họ đến kể cho tôi nghe mọi thứ chuyện. Cái nhà hát lớn cạnh quảng trường Gerginski xây từ hồi tôi còn là sinh viên năm thứ tư đến giờ vẫn chưa xong nhưng quán cà phê ở tầng tư thì đã hoạt động và được mua đi bán lại, đổi chủ không biết bao nhiêu lần. Trên công viên Vesnhina, cạnh ký túc xá tôi ở năm xưa, đã được xây một cái nhà thờ mới… Cũng có những người rồi không thấy sang nữa nhưng lại nhờ mang sang cho tôi khi thì băng nhạc ghi những bài dân ca Nga, dân ca Ucraina, khi thì những bài hát của Vysotski2, cho vợ tôi mấy con lật đật gỗ ngộ nghĩnh. Mới đây có cậu Sasa tốt nghiệp kỹ sư cầu đường Kharkov gửi cho tôi cả một tập thơ của Evtushenco3. Tôi có thử dịch ra tiếng Việt một số bài đọc cho vợ nghe. Thấy nàng nghe xong, buồn, tôi thôi, không dịch nữa .
Tưởng như mọi ngày cứ trôi qua, cứ lặp đi lặp như thế thì thứ hai đầu tháng mười năm chín bảy, nửa đêm, tôi nhận được điện thoại của Tuấn, em vợ tôi gọi từ London sang. Tuấn đã kết thúc khoá bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn về bảo hiểm bên Anh, thứ tư sẽ qua Tiệp trên đường về nước. Thực tình mà nói, từ khi sang Ba Lan tôi rất muốn đưa vợ tôi đi chơi một số nước châu Âu cho biết, nhưng nàng tham công tiếc việc và nếu có tranh thủ thu xếp nghỉ được là về nước thăm các con. Âu cũng nhân dịp sang gặp cậu em để Thuỷ biết thêm nước Tiệp.
Vợ tôi chuẩn bị quá nhiều đồ ăn, lỉnh kỉnh quá. Vẫn thói quen của một thời xưa. Bây giờ trên đường đi chỗ nào chẳng có Macdonal, thành phố nào chẳng có quán ăn Việt Nam mà vẫn cứ cạp lồng, gói nọ gói kia, cả thịt dim, cơm nắm thế này. Với lại cũng phải nếm món ăn Tiệp chứ, ngon và rẻ hơn ở đây nhiều. Đấy là tôi nghĩ thế thôi, chứ với kinh nghiệm tích luỹ được từ lúc nào không biết tôi không dại gì góp ý, đi lo việc mình, giấy tờ cần thiết, các loại bản đồ giao thông,du lịch, đem xe đến xưởng quen thay dầu, xem lốp, rà soát lại các chỗ trong ngoài của chiếc Opel và cuối cùng là đi đòi mấy cái băng nhạc để mang theo nghe cho đỡ buồn.
Sáng thứ ba chúng tôi đi sớm. Phải mất một lúc mới lôi được xe ra khỏi bãi đỗ xe đầu nhà. Một chiếc Alfa về muộn tối qua đỗ sát ngay bên trái xe tôi, cửa xe mở hẹp quá, không thể chui vào được. Bên phải cũng vậy, do tôi đỗ quá sát một chiếc Fiat của cậu béo tốt bụng tầng dưới. Cũng may thế nào, tối qua lúc ra khỏi xe, tôi lại quên không kéo phanh tay và cài số nên vẫn có thể hạ kính, đứng ngoài thò tay quay vô lăng. Vợ tôi lên trước xe mắm môi, cúi đầu đẩy lùi. Chiếc mũ áo bông màu tím bị hất ra đằng sau, mấy làn tóc đen bung ra phía trước, xoã, che hết mắt. Vài ngọn gió thu lạnh, vội vàng, chỉ làm rối thêm. Hồi còn lên bục giảng bài cho sinh viên môn cơ kỹ thuật với những tải trọng, ma sát, lực đẩy, tôi không thể hình dung cảnh một người đàn bà có thể đẩy một chiếc xe ô tô như thế nào. Mà đây không phải lần đầu. Mấy năm mới sang, còn rong ruổi các chợ phiên tỉnh xa, ô tô hay bị lầy tuyết, patine, lại có hình nàng, mũ hất ra sau, mím môi đứng cúi đẩy xe cho tôi dấn ga. Lại những làn tóc đen xõa xuống mặt, những ngọn gió lạnh, những bông tuyết vội vàng.
Đường đi đến Katovice thật đẹp, rộng và vắng. Con đường đôi to với những hàng vạch sơn trắng phân luồng cứ như một dải lụa viền, dài không tận, mênh mang, vắt mềm mại lên xuống qua những cánh đồng, những khu rừng, những sườn đồi. Thấp thoáng những mái nhà mang những mầu của mây, những vòm nhà thờ lại pha mầu buồn, mầu đất nâu xám. Có chỗ vừa ra khỏi một thị trấn, con đường hơi quanh co lượn khúc, rồi dốc thẳng xuống để sau đó lại vươn lên, dài mãi như muốn với đến tận trời xa. Tôi liếc nhìn gương giữa bị lệch. Thấy nàng không ngủ như mọi khi lên xe, đang say mê ngắm cảnh. Ánh nắng sớm làm mắt nàng hơi nheo lại lộ rõ những nếp nhăn đuôi mắt. Đã có ba nếp nhăn. Hồi mới sang chỉ có một. Tiềng nhạc ngập trong xe lúc rộn ràng, lúc da diết đến nao lòng. Cứ mỗi lần đi xa tôi lại mở bản nhạc này, bản My Way với giọng ca của Frank Sinatra, và dù đã nghe bao lần rồi mà lần nào cũng thấy xao xuyến như lần đầu.
Chưa đến tám giờ chúng tôi đã vào thành phố mỏ than này. Nhưng rồi loanh quanh mãi, hết tra bản đồ lại dừng xe hỏi người qua đường, nửa tiếng sau chúng tôi mới tới được phố Bielskiego ngắn ngủn có lãnh sự Tiệp đóng. Ngoài cửa đã có khoảng chục người tóc đen, Mông Cổ hay Zigan không rõ, đứng chờ. Tôi xem đồng hồ. Còn hai mươi phút nữa mới mở cửa. Chờ xong nhóm này thì phải mất ít nhất một tiếng. Lấy xong thị thực sang Tiệp còn phải đi gần một trăm cây số mới đến được cửa khẩu Bolomin. Không biết ở đó lại xếp hàng ra sao chứ mười hai giờ trưa là biên phòng nghỉ ăn cơm. Trời lại tối sớm. Phải đi đêm trên đất Tiệp, đường lạ đến Praha, thật không hứng thú với tôi chút nào.
Tôi đỗ xe xa bên kia đường. Vợ tôi thì đứng ngắm một chiếc Stroen đỗ dọc trên vỉa hè trông sang toà nhà lãnh sự, một cách tài tình giữa hai cây to, cứ như một vật của trò chơi xếp hình trẻ con được được đặt vào đúng chỗ của nó. Chắc nàng đang tính nhẩm, với tay lái hạng bét của tôi, phải mất bao nhiêu thời gian và bao nhiêu lần nhích lên nhích xuống mới đánh được xe vào như vậy. Cũng có thể nàng đang nhớ tới chiếc xe ô tô chạy pin nhờ người về nước mang cho con tháng trước. Nó cũng là Stroen, cũng màu xanh rêu.
Đúng chín giờ chúng tôi bước sang đường. Những người Mông Cổ đã vòng trong, vòng ngoài trước cổng. Trong toà nhà lãnh sự vẫn im ắng ,cứ như mọi người trong đó còn đang ngủ vậy. Bỗng tôi nghe thấy sau lưng tôi một câu tiếng Nga: “Cho phép ,cho phép!” Tất cả đều quay lại. Một người đàn bà Mông Cổ. Không! một người Nga. Bà ta mặc một bộ váy áo da màu đen, ủng da đen cao, chiếc khăn len to đen quấn kín đầu và một phần vai. Thảo nào lúc nãy tôi không để ý, không nhìn thấy đôi mắt mầu xanh gio, vạt tóc trắng mềm lộ ra dưới trán, cứ tưởng đó cùng một nhóm Mông Cổ. Mọi người né ra. Bà ta tay đỡ một cái túi đeo nặng, không cài khoá, để hở, nhô ra cái đầu một con chó bé bỏng ngơ ngác, tiến tới cổng và bấm chuông. Phải đến hồi chuông thứ năm trong nhà mới thấy bật điện. Năm, mười phút sau nữa một cô gái Ba Lan bước xuống cầu thang, cất tiếng chào và mở khoá cổng. Chúng tôi bước vào cuối cùng. May quá, không có xếp hàng gì cả. Các bộ giấy tờ khai báo bằng tiếng Anh, tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp xếp đầy sẵn trên các bàn và trên tường treo một lọat hướng dẫn, yêu cầu bằng tiếng Ba Lan. Hoá ra Việt Nam có trong danh sách mười bốn nước làm thị thực sang Tiệp miễn phí, còn nhóm đàn ông đàn bà kia thuộc những nước phải nộp lệ phí thị thực hai trăm đô la một người. Với lại hình như họ còn có vấn đề về đọc và viết các thứ tiếng trên nên cứ loay với các tờ khai, và xí xộ mãi với nhau. Tôi tranh thủ điền rất nhanh hai tờ, đưa vợ ký rồi kẹp cùng với những bộ giấy tờ khác mang theo vào hai quyển hộ chiếu riêng biệt. Tôi đến chỗ cửa sổ nộp cho cô nhân viên sứ quán. Cô ấy đang lúng túng với bà người Nga, với những lời trình bầy bằng tiếng Nga, với những giấy tờ viết bằng tiếng Đức của bà ấy. Hình như cô ấy quá nản với người khách ngôn ngữ bất đồng trên nên quay ngay sang tôi :
- Ông có tất cả rồi chứ ?
- Tôi hy vọng là vậy - tôi mềm mỏng trả lời cô gái cũng bằng tiếng Ba-lan.
Cô gái nhận giấy tờ, xem qua rồi bảo tôi phải chờ nửa tiếng nữa để lấy lại hộ chiếu. Những người Mông Cổ vẫn chưa ai xong đến nộp gì cả. Trong lúc cô gái mang giấy tờ của tôi vào phòng trong nộp tôi bắt chuyện với người phụ nữ, đang đứng ngơ ngác, xem có thể đỡ gì được không. Hoá ra ở Moscva một tổ chức quốc tế (chữ viết tắt nên tôi không rõ) cho bà giấy bảo lãnh, cả vé tàu nữa sang Đức. Tôi xem hộ chiếu của bà, đã có sẵn cả thị thực vào Đức rồi . “Bà nhầm rồi” - tôi thốt lên - “Bà phải sang Đức chứ, đây vẫn là Ba lan. Đây là lãnh sự Tiệp ở Katovice, thành phố của Ba Lan”. Thì ra bà ấy đi tàu suốt từ Moscva đến Katovice lúc năm giờ sáng. Mọi người xuống hết, ga cuối cùng. Ông nhân viên phục vụ tàu khi mời bà ấy xuống thì tiện chỉ luôn cho bà ấy cái tòa lãnh sự ngay cuối phố cạnh ga. Thật là một giải pháp nhanh gọn. Tôi kể vắn tắt lại đầu đuôi câu chuyện cho vợ nghe. Nàng quyết định ngay: “Anh đưa bà Nga ra ga ngay đi, nói với một một nhân viên ở ga giúp bà ấy lên tiếp tàu sang Đức. Nhanh lên rồi quay lại ngay nhé không muộn, đưa cặp cho em”. Tôi quay lại bảo bà ấy đưa túi tôi xách đỡ. Chiếc túi nặng trĩu, quai gần như bị đứt .Con chó nhỏ vẫn nhô đầu ra ngơ ngác. Tôi nói: “Nó đói”. Bà ấy bảo: “Không, nó bồn chồn đấy”. Tôi nói một câu tiếng Nga quen miệng: “Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp”. Bà ấy gật đầu, cùng tôi chia bớt đồ trong túi sang một cái túi nhựa vợ tôi đưa cho. Hoá ra trong túi dưới con chó là toàn sách, sách dậy tiếng Nga, có cả Parakhin - quyển sách tiếng Nga đầu tiên của tôi khi sang học Liên Xô ba mươi năm trước. Còn lại là truyện. Bà ấy đưa cho tôi một quyển truyện mỏng:
- Tôi rất thích quyển này của các anh.
- Nguyễn Minh Châu, người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành - tôi dịch ra tiếng Việt cho vợ tôi nghe rồi đưa lại cho bà ấy. Bà ấy nắm tay vợ tôi nói tạm biệt và còn nói thêm: “Cô thật là tốt và đẹp”. Những từ đơn giản này thì vợ tôi hiểu. Rồi mỗi người một túi đi ra khỏi toà lãnh sự. Tôi quyết định đi bộ vì nhà ga không xa lắm. Ngay ngoài phố đã thấy trạm điện thọai tự động. Tôi bảo bà ấy tranh thủ gọi điện về Moscva đến những người có trách nhiệm. May quá nối được ngay. Họ bảo bà ấy ra tàu đi tiếp sang Đức, đến ga Listenburg sẽ có người đón. Trên đường đi bà ấy giải thích cho tôi vì sao mang theo túi sách này.
-Vì chúng nó giúp cho tôi sống. Những khó khăn mà nhân dân các anh trải qua thật ghê gớm. Thế mà các anh đã qua được
Bà ta tên là Irina đến từ Dagestan. Không thể nghĩ rằng bà ấy đã bảy nhăm tuổi mà dáng đi vẫn thẳng, nhanh nhẹn như thanh niên, giọng nói cũng vậy. Những người vùng Capcaz vẫn có tiếng là khỏe và sống lâu. Chỉ có mái tóc trắng, những nếp nhăn ở trán, ở khoé mắt và cả đôi mắt xanh gio nữa nói lên những năm tháng, Nhưng thực ra bà đến từ nơi khác, từ Vinhitsa gần Kiev. Tôi nói với bà là tôi biết vùng đó. Những người con gái Vinhitsa nổi tiếng từ xưa là đảm đang và chiều chồng. Không biết Olia bây giờ ra sao. Trước khi tốt nghiệp về nước tôi thức suốt đêm đi tàu về thăm em. Đến nơi, sáng sớm tôi lại muốn theo cùng em lùa bò ra đồng chăn, cùng ra thăm mộ mẹ em. Em bắt tôi ngồi lên ghế, còn em quỳ dưới, xé chiếc khăn len cũ của người mẹ ra làm đôi quấn ấm chân tôi cho vào ủng, vừa làm vừa than thở: “Thanh niên ở làng bỏ đi hết. Các ông già toàn say khướt như bố em. Chủ tịch nông trường lại vừa được thưởng huân chương. Sẽ ra sao nếu chỉ có những người nói dối và những người nghe nói dối mãi thành quen hở anh...”.
Nghe tiếng thở dài sâu của tôi, bà Irina cũng thở dài theo và nói :
-Ucraina bây giờ là một đất nước riêng. Tôi cũng không còn ai thân thuộc ở đó cũng như ở Vinhisa. Chiến tranh thế giới thứ hai đã cướp đi những người thân của tôi. Tôi và nhiều đứa trẻ khác được sơ tán về vùng Trung Á, Tasken, học ở trường nội trú, rồi học sư phạm nhưng không đi dạy mà mà được về coi thư viện ở nhà văn hoá thị trấn Kizoliar thuộc Dagestan không xa Groznu lắm. Chồng tôi chết trong một tai nạn giao thông. Đứa con trai lớn là sỹ quan xe tăng, lên đến thiếu tá rồi hy sinh ở Afganistan. Đứa cháu gái làm y tá trong quân đội Liên Xô đóng ở Berlin, lấy chồng Đức rồi ở ở lại bên đó. Nghe nói hai vợ chồng sống cũng vất vả, thất nghiệp. Ở vùng tôi bây giờ mọi thứ khác hết. Đó là tôi nói về con người. Họ thay đổi hẳn. Họ muốn giàu có, nhiều tiền nhưng không muốn kiếm tiền bằng bàn tay của mình, bằng lao động nữa. Thế đấy - bà lại thở dài - bây giờ họ làm gì, muốn gì, cũng không rõ nữa. Tụ tập, cướp giật, rồi sẽ lại chiến tranh. Con Masha, cháu gái tôi nó nhờ những người bạn cũ ở Moscva lo cho tôi sang với nó. Thú thực ở tuổi này tôi không muốn đi đâu nữa nhưng con bé cứ gọi điện sang nài nỉ quá và còn nói mong tôi sang sớm để chăm, để dậy tiếng Nga cho hai đứa con nó. Nó đẻ sinh đôi hai đứa con gái.
Đã ra đến ga. Tôi nhờ ngay một ông già Ba Lan bán báo rong ở ga giúp bà Irina khi tàu đến. Ông ấy cũng nói được tiếng Nga, đã bắt chuyện ngay với con chó bé bỏng bằng những câu tiếng Nga khá sõi và bằng lát bánh mì có sẵn trong túi. Tôi vội chia tay dể trở về lãnh sự. Bà Irina nhìn tôi chăm chú. Cái nhìn của những người biết sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Bà ấy nói: “Cầu trời phù hộ cho anh. Mà anh nói tiếng Nga thạo quá, cứ như người Nga vậy, chắc chắn là anh đã học ở Liên Bang rồi”.
Tôi rảo những bước dài mà lòng vẫn cứ nghẹn lại. Hai chữ Liên Bang. Sáu năm trước Tania, đôi mắt đỏ hoe, cũng nói với tôi hai chữ đó: “Chúng tôi phải trở về Liên Bang. Nó hãy còn”. Sasha thì lúi húi xếp đồ vào cốp xe, chiếc Opel cũ rích mua lại hai trăm đô ở chợ giời gần biên giới Maroco. Lau bàn tay rắn chắc vào quần xong Sasha ôm lấy tôi, vỗ vỗ mạnh vào vai:”Nào! Anh bạn”. Chiếc Opel rung lên rồi chuyển bánh, cuốn theo một đám bụi cát mù mịt. Vợ chồng họ sẽ phải qua suốt sa mạc Sahara, sang Maroco, qua eo biển Gibranta, qua Tây Ban Nha và qua suốt châu Âu để về nhà ở Kiev, về kịp Liên Bang. Ba năm chuyên gia ở trường đại học Bechar, giữa sa mạc Sahara chỉ có mình tôi là Việt Nam. Nhưng hai mươi mốt đồng nghiệp, đến từ Nga, Ucraina, Belorusi, Grudia và các nước cộng hoà khác của Liên Xô thời ấy, đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Cũng như họ, tôi lo lắng trước những biến động ở Đông Âu và Liên Xô. Hình như tất cả chúng tôi đều nghĩ có thể cứu được, chỉ có phải thêm một chút, phải chỉnh lại một cái gì đó thôi.
Tôi nghĩ đến những điều kiện, những hàm mục tiêu trong hệ điêu khiển tối ưu, Fedia thì dùng những lập luận của thuyết mờ, Ivan thì nói về nhà nước bằng những ngôn ngữ của cơ cấu máy... Mỗi người một kiểu, sôi nổi, day dứt, mong muốn. Chỉ có Iana, anh bạn người Ba Lan thì nhún vai, làm dấu thánh khi sự tranh luận của chúng tôi đi quá xa. Kiểu gì anh ta cũng có sẵn một lòng tin, lòng tin ở chúa. Nó làm người ta sống dễ dàng hơn và chết cũng nhẹ nhàng hơn - Kolia, một phó giáo sư trường xây dựng Moscva nói về anh bạn người Ba Lan như vậy. Iana đã rời Algerie trước chúng tôi, nghe đâu anh ấy ký được hợp đồng dậy học ở Bradin. Khatratarian xin về ngay sau khi Armeni bị động đất . Trận động đất đã tàn phá hai phần ba đất nước. Cô ấy còn có một người con tàn tật gửi ở nhà người thân ngoại ô Erevan. Mọi người lần lượt rời cái thành phố ốc đảo xanh giữa sa mạc như trong truyện thần thoại này. Tôi cũng không phải là người cuối cùng. Cậu giáo viên dạy hoá người Ấn Độ còn gia hạn hợp đồng ở lại. Nghe đâu sau đó bạo loạn xảy ra ở Algerie, thành phố Bechar cũng bắn nhau ghê lắm.
MỐI TÌNH ĐẦU
Chi gặp anh lần đầu tiên ở sân bóng chuyền, đội khoa chế tạo máy đang bị dẫn điểm. Hằng bấm Chi: “Khoa kinh tế họ chơi đều hơn nhưng bây giờ sẽ đến lượt ông Tùng giao bóng đây”. Vừa lúc bên kia đập ra ngoài, bóng rơi cạnh hai cô sinh viên khoa vô tuyến đứng xem. Tùng bước đến lấy bóng thì Hằng không đưa cho anh, lại đặt bóng vào tay Chi: “Trả mày”. Có phải bóng đã được tay Chi trao cho không mà mấy quả phát bóng của anh nhanh mạnh đến kỳ lạ, đảo ngược và kết thúc luôn trận đấu. Mọi người vỗ tay hò reo rồi giải tán, đến giờ ăn cơm ở nhà ăn tập thể rồi. Tùng gọi cô em họ đợi anh:
- Tối thứ bảy này sinh nhật thày Hải ở phòng anh. Hằng giúp bọn anh mua ít kẹo bánh hoa quả được không. Nói với cậu và mợ là anh vừa về Nam Định tuần trước. Mẹ anh thích miếng vải lắm, nhưng kêu thôi mợ đừng mua cho quê gì nữa, tốn tiền.
Chiều thứ bảy trong phòng đầu cạnh cầu thang tầng ba nhà tập thể A2 của các cán bộ độc thân, chiếc đài Rigonda cũ kê góc tường được mở nghiêng nắp ra như chiếc dương cầm nhỏ, chiếc đĩa hát cứ quay bồng bềnh, say sưa. Căn phòng rộn ràng tiếng hát các bài dân ca Nga: “Liễu xanh ơi, xanh như ngày nào. Lá đung đưa ngiêng soi bên dòng ...”. Chi vừa nghe hát vừa bày kẹo bánh lên những chiếc đĩa giấy, vừa thấy trong lòng một niềm vui là lạ pha chút kiêu hãnh - kẹo bánh cô dùng bìa nhà vào mua tận trong Tôn Đản, cửa hàng dành cho gia đình các vị lãnh đạo cao cấp. Cô còn định mua thêm bánh ga tô để thắp nến như đúng kiểu sinh nhật ở nhà cô nhưng Hằng ngăn lại: “Thôi, tốn tiền với lại sang quá ông Tùng không thích đâu, lại mắng tao. Ông ấy trông hiền thế nhưng dễ tự ái lắm”. Mà cũng đúng thật, Chi thấy các thầy đi học ở Liên xô về trông ai cũng quê quá vậy, chẳng bù cho anh trai Chi và hội bạn anh ấy ở Đức, Ba Lan, Bun về, có khi chỉ cao đẳng hay trung cấp thôi mà gì cũng sành, cũng thạo. Hằng loay hoay cắm hoa vào cái lọ bé cũ cứ chực đổ. Một thầy đeo kính cận lôi trên giá xuống mấy quyển sách bìa cứng xếp chặn giúp Hằng: “Thôi thế này là chắc không đổ được đâu, chùm hoa và Puskin”. Ngoài bìa quyển sách trên cùng in hình tự ký hoạ của nhà thơ Nga. Chú ruột của Chi cũng là nhà thơ. Mỗi lần sinh nhật bố chú lại đọc tặng một bài thơ, nếu đi vắng thì gửi thơ đến, các bài thơ đều na ná giống nhau. Các bác, các chú khác cũng đọc thơ chúc mừng, ca ngợt bố. Chú Mùi thư ký của bố chép lưu cẩn thận tất cả thơ thành một tập dày. Anh Dương nhìn thấy chỉ kêu: “Khiếp thật”. Cũng có cả đôi bài viết khen Chi nhưng cô đọc thấy xấu hổ, cái gì cũng nói quá lên. Chú Mùi giải thích cho Chi: “Đã là thơ thì ý phải khái quát hoá, ngôn ngữ phải được chọn lọc, phải cường điệu, phải có tứ thơ, nghĩa là phải đúng luật”. Chi không cãi những vẫn thấy thế nào ấy. Hồi học năm thứ hai có một anh học kiến trúc bố là đại sứ ở nước ngoài cứ theo Chi, có lần tặng cô một bưu ảnh nổi của Tây in hình đôi trai gái như thiên thần trên con ngựa có cánh, dưới viết đè nắn nót dòng thơ: “Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gíó, cho trời sao êm rụng một đêm hoa”. Chi thấy ngường ngượng rồi cho anh ấy lặng luôn. Dương bảo Chi: “Em khó tính quá ,thôi không thích thì cho anh, sinh nhật cái Hiền anh chưa có gì tặng”. Chi cho luôn, khái quát mà, cho ai cũng được, tặng ai cũng được, nhưng trong đáy lòng sâu thẳm Chi vẫn mong có một cái gi riêng cho cô, chỉ riêng cho cô không lẫn với ai.
Thày Hải, lý do chính của buổi chiều này, có cặp kính dày cộp, đầu đã hói, dáng dấp vụng về. Trong người thầy giáo dạy môn vật lý chất rắn đó thấp thoáng một đứa trẻ thơ. Hằng nói với Chi: “Ông Tùng nói thầy Hải giỏi lắm đấy, đã có mấy bài báo đăng ở viện hàn lâm khoa học Liên Xô rồi, chỉ có cái tật thấy chị em nhìn là nói lắp”. Chi nghe, tự nhiên thấy thương thương. Hằng biết hầu hết các thầy và cũng rất tự nhiên thoải mái với mọi người. Thỉnh thoảng Chi cũng bắt gặp những cái nhìn kín đáo, lại nghe loáng thoáng họ nói về cô, về gia đình cô. Ghét nhất là mấy cô cùng quê của các thầy nào đó, ngồi gần cửa sổ xa cứ thầm thì rồi lại liếc trộm Chi. Hình như họ không phải cán bộ hay sinh viên trong trường. Chi không nhìn ai cả, đôi mắt đăm đăm làm như đếm các cánh bông hoa trước mặt, cố giữ vẻ bơ, một chút kiêu xa. Tùng bắt đầu buổi vui với một quà tặng nhỏ - cây bút Hồng Hà màu đỏ và một quyển vở ngoại bìa cứng xanh. Anh mở quyển vở đọc câu thơ viết nắn nót ở trang đầu:
Tuổi ba mươi
vui như trẻ lên mười
yêu như tuổi mười bảy
buồn như sắp năm mươi.
Có phải câu thơ động đến tình yêu không mà mọi thứ như được cởi tung ra, mọi người hết trêu Hải rồi lại kể chuyện,lại hát các bài về tình yêu, nhắc lại những ngày tháng sinh viên ở nước ngoài của họ, về những người thầy, người bạn Liên Xô. Các thầy cũng nhanh chóng hết giữ kẽ, nói cười thoải mái lại pha, xen trộn lẫn tiếng Nga vào. Bố Chi là ghét lắm đấy. Ông bảo đó là vô văn hoá, là xúc phạm những người khác. Chi vẫn tin là bố nói đúng, nhưng ở đây sao cảm giác bị xúc phạm cô không thấy. Hằng vô tư chạy sang đòi đổi chỗ cho anh Tùng, nói để anh sang dịch cho Chi nghe các bài tiếng Nga mọi người hát. Con ranh, Chi có nhờ nó đâu, cô nghe lõm bõm, nhìn dáng điệu của mọi người cũng đoán được cả, cũng có lúc phải bật cười thôi. Tùng sang nói ngay với Chi: “đã đặt được vào ngữ cảnh rồi thì ngôn ngữ không quan trọng quá như mình nghĩ đâu, cái chính là người ta có muốn hiểu nhau không, có biết chờ đợi để hiểu không. Hồi bọn anh mới sang học, không biết tiếng Nga, cô giáo không biết tiếng Việt, thế rồi cũng dạy được, học được. Hình như mọi người của các dân tộc khác nhau trên trái đất này ngoài tiếng mẹ đẻ của mình còn có một thứ tiếng nữa, tiếng nói của... ờ ...” - Tùng đang say sưa bỗng dừng lại, một chút bối rối. Hay anh chàng lại nhớ đến cô gái tóc vàng nào rồi, Chi bỗng thích thú và nén, che giấu suy nghĩ của mình, thản nhiên bóc cam chờ anh nói tiếp. Tùng cũng hiểu, bật cười, hình như là cười với mình, diễu chính mình rồi tiện tay cầm quyển thơ cạnh lọ hoa trước mặt: “Puskin đấy Chi ạ. Anh học tiếng Nga qua những bài thơ này, mà kẹo bánh Chi mua hộ sang, cầu kỳ quá. Lần sau mua kẹo giấy thường cũng được, bọn anh toàn nông dân Ivan thôi”. -Tùng chuyển chủ đề rất nhanh, chắc Hằng đã mách lẻo với ông anh rồi .
Bên dãy bàn kia họ vừa tốp ca xong một bài hát vui nhộn về chàng say rượu và có người xin bên Tùng ngồi cho tiết mục. Có tiếng reo: “Thôi nhà thơ bắt đầu đi, thơ tình nhé không Bút Tre đâu”. Tùng cầm quyển thơ Puskin lên đọc, giọng anh ấm, nói và đọc thơ Nga nghe hay quá, rồi anh lại dịch ra tiếng Việt nữa. Chi chưa bao giờ được nghe thơ như thế này
Tôi nhớ một phút giây huyền diệu,
Em, từ đâu xuất hiện trước tôi,
Như hình bóng thoáng qua ngắn ngủi,
Như thiên thần sắc đẹp vẹn toàn ...
Lúc câu chuyện, các bài hát được chuyển qua nhóm khác, Chi quay sang anh Tùng: “Thơ Puskin hay mà đơn giản quá, cứ như mình nói vậy”. Tùng lại cười: “Anh dịch cố đúng nghĩa từng từ chứ có trau chuốt gì đâu. Tự trong thơ Puskin có có vần, có nhạc rồi. Phổ nhạc thành bài ca cũng dễ mà dịch sang cũng dễ”.
Tối hôm đó về Chi khó ngủ, chắc là tại uống chè đặc quá. Nhắm mắt mãi mà cô vẫn như thấy Tùng bên cạnh, nghe tiếng anh trầm ấm: “Puskin gặp Ana Kern lúc cô mới mười sáu tuổi. Ana yêu ông nhưng nhà thơ không để ý, còn quá nhiều việc bận bịu, tưởng là cần hơn. Sau này gặp lại bà ấy đã có chồng, Puskin viết trường ca Oghinein tặng Ana và kẹp vào đó bài thơ tình anh vừa đọc. Anh thích vì bài thơ đó gửi cho một người, nó là lời từ trong lòng, những lời nói rất bình thường, chân thành dành cho một người, nó thật quá, đơn sơ quá và có lẽ vì thế ai đọc được, hợp thì sẽ rất thích. Mỗi bài thơ đều có một tiểu sử, một cuộc sống, một nơi trú ngụ. Không phải ai cũng viết được như thế, người ta hay quen những câu thơ to tát ồn ào, cho muôn đời, đọc cho muôn người, quen ngộ nhận, nói thay người khác. Cần phải có một tầm sống thế nào, phải thành thật với chính mình đã, phải nói từ lòng mình. Đó chính là Puskin. Lúc anh đọc thơ của ông, anh như cứ thấy nhà thơ ở rất gần, cũng đang lắng nghe”.
Sáng hôm sau Dương bảo cô em gái: “Đi đâu mà về muộn thế, làm mẹ cứ phải dối quanh, ra phòng khách mà xem cái hộp trang sức có nhạc người ta tặng chưa, mua tận Dubai đấy”. Hoá ra tối qua ông bà đại sứ và con trai đến chơi ngồi lâu, ý muốn chờ xem mặt. Chi nghe anh nói mà mắt để đi đâu, cũng chẳng buồn lên nhà ăn sáng nữa. Cô bỗng thấy thèm nghe lại giai điệu “Liễu xanh” và những bài hát hôm qua quá. Chi dắt xe đi, nói đến nhà Hằng mượn bài. Mẹ lắc đầu: “Có đi thì về sớm, trưa nhà có khách đấy”. Bà cưng con gái, không ngăn cản điều gì nhưng không thích Hằng lắm. Bố Hằng làm ở ban âm nhạc đài phát thanh, viết phối âm và chơi được đủ các loại đàn. Có lần Chi hỏi xem ông có sáng tác bài hát hay bản nhạc nào không thì ông cười: “Ngày xưa chú có viết dăm ba bài nhưng tặng mất rồi, không biết họ còn giữ không hay cả người cũng không còn nữa”. Chi thấy lạ, bài hát, bản nhạc mà cứ như là đã tặng xong là mình hết sạch, như tặng cái bánh vậy, chỉ thấy đôi mắt ông buồn nhìn xa xa, cô không dám hỏi thêm nữa. Mẹ Hằng làm việc ở quầy tiết kiệm gần nhà. Nói chung họ thuộc tầng lớp thường dân. Chi vừa xuống xe, đi vòng qua cái giếng của khu tập thể thì đã thấy Hà, em gái Hằng kêu mừng rỡ: “Chị lai em đến bệnh viện mới. Chị Hằng và mẹ em đang ở trong đó rồi. Sáng nay bố em bị ngã, phải đi cấp cứu”. Ở bệnh viện bố Hằng được tiêm thuốc đã tỉnh, đôi mắt lờ đờ, bàn tay phải co quắp lại, cái miệng méo mấp máy như muốn nói gì khi nhận ra đưa con gái út. Cơn nguy hiểm đã qua nhưng áp huyết lên đột ngột buổi sáng dẫn đến tai biến mạch máu não. Cũng may ông bị khi vừa bước xuống giường chứ ra đến cầu thang ngã thì xong rồi. Hà oà lên khóc khiến Hằng phải mắng em nhưng rồi cả ba mẹ con đều khóc. Chi cũng khóc theo, nhà còn lại toàn đàn bà cả. Anh Tùng, phải rồi - còn đàn ông, cô hỏi Hằng: “Anh Tùng đã biết chuyện chưa?” Hằng lắc đầu, nước mắt vẫn giàn dụa: “Từ năm giờ sáng đến giờ đều ở bệnh viện cả, có ai báo cho anh ấy đâu”. Chi ra lấy xe phóng ngay xuống trường tìm anh, nhân tiện mua mấy cái bánh cho mọi người ăn giữ sức, chuyện xẩy ra đột ngột quá. Tùng đến ôm lấy vai mợ rồi nói chuyện với bác sỹ. Mọi người cũng bình tĩnh lại. Đàn ông có khác, họ cũng chưa chắc biết làm gì hơn đâu, nhưng có họ người ta thấy yên tâm hơn.
Cũng từ hôm đó có một người con gái hàng ngày bồn chồn mong buổi chiều đến để vào bệnh vịên thăm người ốm. Mẹ khoe với các bà khách: "Cháu nó học lớp ngoại ngữ buổi tối, học thêm một lúc hai ngoại ngữ, tiếng Nga với tiếng Anh, cả tiếng phe mình, cả tiếng tư bản”. Các bà khách tấm tắc khen, chỉ có anh Chi đang đùa với con chó Tây ở sân nghe thấy buột miệng: “Khiếp thật”. Dương đang chờ đợi hết năm vào học tiếp năm cuối đại học xây dựng. Ông bố nghe tin con mình yêu con gái Đức đã điện ngay cho sứ quán giải quyết gấp, chậm có thể chúng nó lại trốn sang Tây Đức mất, cái nảy sẽ xảy cái ung. Dương được đưa về nước, trừ bữa ăn còn toàn tránh bố, lúc nào đi đâu về mặt tươi hớn hở là chắc lại nhận được thư từ nước ngoài gửi qua nhà bạn. Để chia xẻ cậu ta cũng hay kể cho em gái về Monika: “Nó biết anh mê bóng đá, mê đội Dinamo, nó không thích bóng đá nhưng ngày nào cũng ngồi xem để viết thư tả lại cho anh”. Tình yêu kỳ lạ thật, nó xui người ta làm bao điều không hiểu nổi - Chi nghĩ đến người con gái Đức ở phương trời xa, nghĩ đến người con gái Nga trong bài hát “Liễu xanh” và bâng khuâng nghĩ đến mình. Chi cũng không hoàn toàn nói dối mẹ, cô có đi học tiếng Nga thật lúc đến bệnh viện thăm người ốm và cả lúc trên đường được Tùng đưa về, lại học đâu nhớ đấy giống như cô tiểu thư nông dân trong truyện của Puskin. Thầy giáo Tùng thì gọi đó là phương pháp học truyền khẩu còn Hằng đặt cho nó cái tên nôm “học mớm”. Cũng không biết họ đã tỏ tình với nhau khi nào, khi Tùng bắt Chi tập chia lại động từ “Yêu” hay khi anh đọc cho cô những câu tiếng Nga, bắt Chi học thuộc rồi về tự tra lấy tự điển để hiểu, để cười một mình và để nhắm mắt nhớ lại anh. Cũng có thể tình yêu đã đến khi vô tình tay họ gặp nhau và nắm chặt bên giừơng bố Hằng lúc ông lại bị ngất đi. Có phải khi đứng trước cái chết của người thân những cặp tình nhân tưởng như mình đang đứng trước bàn thờ Chúa vậy không mà cả sau lúc ông chú đã được tiêm hồi sức, cơn nguy kịch đã qua, Chi vẫn để cho Tùng nắm chặt lấy tay, để ngón tay cái anh vuốt xoa, tìm dần từng ngón thon dài mềm mại của cô, để rồi cứ không buông vuốt mãi cái ngón tay trần gọi là ngón đeo nhẫn ấy.
Thế rồi thời gian trôi qua như trong những bài ca - cái gì đến, sẽ đến. Bố Hằng về điều trị tại nhà, Chi đã hát cho ông nghe được những bài hát Nga có trong các đĩa hát của Tùng, đã nói chuyện với người yêu qua thứ tiếng âm dài ngoẵng, trầm bổng ấy. Mồng bốn Tết đến cô nói dối mẹ về Bắc Ninh thăm bạn rồi đi nhờ xe về Nam Định. Tùng đón cô ở bến ô tô. Chi mang nhiều quà quá thành ra phải để túi đằng sau, ngồi lên dóng xe cuốc để Tùng lai về làng. Bố Tùng bị tai nạn gãy chân, về mất sức, chăm vườn, lợn gà và nhận lạc bóc thêm, mẹ bán hàng vải gánh. Buổi tối trên cái chõng tre lạ khó ngủ Chi bỗng ứa nước mắt ra, trong lòng cô trào lên một niềm yêu thương vô hạn dành cho Tùng và bố mẹ anh. Ngày mai phải về Hà Nội rồi chứ không Chi sẽ bảo cho cô sang ngủ với mẹ. Có lẽ phải ở đây, trong mái nhà gianh vách đất vùng quê Vụ Bản này, nghe tiếng côn trùng kêu, tiếng gió lùa đuổi nhau bên ngoài Chi mới thấy thấm thía các chữ gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng và hai chữ chân quê. Cô thiếp đi trong giấc mơ thấy mình đi dạo cùng Tùng trên con đê, bắt đền anh để cỏ may găm đầy áo. Họ qua ruộng lúa rồi đến vườn chanh, Tùng chạy lại hái một quả chanh to cười tung cho cô. Chi giơ tay bắt, bỗng dưng quả chanh tuột khỏi tay cô, bay bổng lên qua đầu. Đằng sau lưng Chi, quả chanh đã nằm trong tay một người con gái mặc áo len hồng có đôi mắt lá dăm. Quay lại, không thấy Tùng đâu, quay đi, người con gái cũng bíến mất. Chi khóc, lạc mãi trong vườn chanh đòi quả chanh, đòi người yêu. Sáng hôm sau Chi định hỏi Tùng về người con gái mắt lá dăm nhưng lại thôi - cái người con gái họ gặp lúc về đến đầu làng đó.
Chiều chủ nhật, mồng sáu tết Tùng đến nhà Chi. Đây là lần đầu tiên anh đến và cũng bất ngờ nghe câu đầu tiên bố Chi nói với anh: “Bố mẹ anh làm gì?” Chú thư ký ngồi chơi đang dở xem các tờ báo tết cũng dừng tay lại, ngẩng lên chờ đợi. Lúc về Chi đưa Tùng ra đến cổng, đôi mắt mở to, bồn chồn, Tùng cầm tay cô nói khẽ: “Em vào đi , nhà còn nhiều khách, anh yêu em nhiều hơn bao giờ hết”.
Nhưng nói Yêu lại là một chuyện, làm được cho Tình yêu lại là chuyện khác. Mối tình đầu, không chút kinh nghiệm, càng đẹp lại càng mỏng manh dễ vỡ, che chở cho nó thế nào đây? Các nhà văn, nhà thơ cứ nói, họ mất gì đâu: “Tình yêu là sức mạnh, tình yêu luôn chiến thắng, cùng lắm thì như chàng Romeo và nàng Juliete chết đi để lại niềm cảm hứng cho muôn đời sau”. Chi không vậy, cô cần có Tùng trong kiếp này, cái muôn đời sau ai muốn cô xin nhường, cũng không muốn bó tay chịu thua như anh Dương. Chi nói thẳng, chống đối bố mẹ, không chịu ngồi theo sự xếp đặt, thậm chí sau khi tốt nghiệp cô còn liên hệ xin việc ở một xí nghiệp nhỏ ngoại ô Nam Định, sẵn sàng quên đi cái địa vị cành vàng lá ngọc của mình để làm bông hoa chanh trong vườn quê. Nhưng bố Chi là một con người sắt đá và quen chiến thắng. Xí nghiệp ở tỉnh lẻ đó bị một phen hú vía. Chi được phân công về bưu điện Hà Nội. Nhưng với Chi, nặng nề nhất là sự cô đơn. Bạn bè xa lánh cô, kể cả Hằng. Họ sợ liên lụy. Và hơn tất cả, Tùng cũng bỏ cuộc. Một cú điện thoại gọi xuống trường và tiếp đó cũng qua điện thọai, khoa của Tùng nhận được một lời khuyên ngắn gọn của của lãnh đạo trường: “Các anh phải làm gì chứ, sao để tình trạng thầy giáo trẻ trong khoa quyến rũ sinh viên thế này”. Ông chủ nhiệm khoa cắn môi đến chảy máu - vợ ông cũng từng là sinh viên của ông, họ rất hạnh phúc.
Sau khi gặp chủ nhiệm khoa Tùng gần như suy sụp. Cùng với Chi bỏ trốn vào Sài Gòn? Không được, còn bố mẹ già. Anh lại trong danh sách được cử đi thi nghiên cứu sinh sắp tới. Hải bảo Tùng: “Đừng làm rối tinh lên Tùng. Cậu phải đi thi và thi đỗ, đừng phụ lòng tin mọi người”. Câu nói đó làm Tùng lặng đi. Anh chưa kể cho ai dù là người bạn thân nhất, cái day dứt như mắc nợ mà không trả được của anh. Số là năm cuối phổ thông Tùng ngồi cạnh Vân Tùng, một học sinh miền nam chuyển đến, bố là cán bộ lãnh đạo tỉnh. Văn Tùng và Vân Tùng đều học giỏi và rất thân nhau. Chiến tranh đã leo thang, bom đạn đã rơi xuống thành phố dệt, mọi việc đều vội vã cũng như cái giấy báo gọi Văn Tùng đi lưu học Liên Xô đến lúc anh còn đang cuốc dở luống khoai. Từ lúc nhận giấy báo đến lúc lên tàu liên vận rời Hà Nội vẻn vẹn không đầy một tuần. Mãi sau này khi đi học Liên Xô về Tùng mới biết giấy báo đã viết nhầm tên. Khi ban tuyển sinh tỉnh phát hiện ra đến báo cho bố Vân Tùng và định lấy xe của ông chở Vân Tùng lên Hà Nội thay cho Văn Tùng ngày mai đã lên đường đi lưu học thì thật bất ngờ, cậu học sinh này nói: “Không nhầm đâu, bạn Văn Tùng đi mới là xứng đáng, Văn Tùng học giỏi và toàn diện hơn con. Đất nước cần những người như bạn ấy về xây dựng lại sau này”. Ông bố nghe con nói quay lại bảo anh cán bộ phụ trách tuyển sinh: “Anh nghe thấy cháu nói rõ rồi chứ, các anh hiểu được suy nghĩ của cháu chứ”. Sau đó ít lâu Vân Tùng nhập ngũ, hình như hy sinh trước bố mấy tháng. Mộ hai bố con đều được đưa về quê, nằm cạnh nhau tại một nghĩa trang liệt sỹ nhỏ tỉnh Bến Tre. Chiến tranh ác liệt quá, lớp Tùng hy sinh hơn nửa.
Lần đi nghiên cứu sinh này cũng vội vàng quá. Tùng cũng không gặp được Chi. Anh đành gửi lại qua Hằng quyển thơ Puskin và cái đĩa hát các bài dân ca Nga.
Chi ốm đến mấy tháng không ra khỏi nhà. Khi Tùng hoàn thành xong phần lý thuyết của luận án và bắt đầu phần thực nghiệm là lúc Chi lấy chồng. Được hai năm họ chia tay nhau. Chi xin chuyển vào nam, mang theo con gái, cháu tên là Kim Nga.
Bố Tùng ốm nặng, may có Nụ, cô y tá xã có đôi mắt lá dăm đến tiêm thuốc đúng lúc chứ không là đi rồi. Sau này thành vợ Tùng, tự tay cô chắt chiu, xoay xở lợp ngói lại cái nhà gianh cũ, cũng chưa một lần lên Hà Nội với chồng và hỏi anh về cô gái Hà Nội anh đưa về làng cái tết năm ấy.
Dương đã tốt nghiệp đại học xây dựng, ở bộ mấy năm rồi sang Đức làm phiên dịch hay đôi trưởng gì đó. Monika đã lấy chồng người Đức. Vợ chồng họ năm nào cũng đến đón tết Việt Nam cùng anh. Dương cũng yêu và lấy một cô gái Đức khác. Hồi đám tang ông bố anh đưa vợ con về. Nhìn hai đứa bé tóc đen kháu khỉnh không ai nghĩ chúng là con lai. Chú Mùi bây giờ đã là nhà thơ, hay lên vô tuyến. Gặp Dương chú mừng quá tặng anh tập thơ vừa in xong, tập thơ thứ sáu. Dương cầm lấy kêu: “Khiếp thật”.
Nếu ai ghé qua một quán cà phê nhỏ yên tĩnh ở quận ba thành phố Hồ Chí Minh vào buổi tối sẽ thấy sao ở đây chỉ có nhạc không lời, có hỏi, cô phục vụ sẽ nhỏ nhẹ: “Bà chủ không thích ồn ào”. Tuy vậy cũng có ngoại lệ, mỗi năm một lần, vào một buổi tối thứ bảy nào đó cuối thu, bà chủ, một thiếu phụ nói giọng Bắc ra ngồi cạnh cửa sổ mơ màng để trong quán một giai điệu Nga đã bị lãng quên từ lâu lại cất lên, bồng bềnh, da diết:
Nói đi em, liễu ơi đừng ủ rũ,
Tình yêu ta ở nơi nào....
QUYỂN TRUYỆN RÁCH TRANG
Năm tháng qua, cát bụi và bão tố
xua tan đi mộng ước thuở nào.
Tôi đã quên giọng em trìu mến,
cả hình em, những đường nét thân thương.
(thơ Puskin)
- Chiều vợ thiếu gì lúc mà để đến nỗi ra kho xuất hàng cũng phải mặc cái áo da mới vợ sắm cho - tôi nói đùa để tránh vẻ áy náy của cậu em rể đã đến giao hàng muộn mất nửa tiếng. Hưng cũng cười, nụ cười thật hiền: “Vợ em khôn lắm, biết ra kho với anh mới bắt diện bằng được chứ hôm kia đi sinh nhật đứa bạn một mình, mặc cái áo khoác cũ chẳng thấy cô ấy có ý kiến gì cả”. Từ khi quyết định thu vén về nước, tôi hay gọi điện cho em gái, nói chuyện, dặn dò mọi việc. Tôi lo lắng nhất là sự hoà thuận gia đình của hai đứa. Dung lại là con út, cũng mắc chút đỏng đảnh của cái bệnh con út. Hôm qua, gọi điện hẹn lên lấy hàng lần cuối, tôi cũng phải dặn Dung thêm rằng ở lại làm ăn nơi đất khách quê người cần nhất là phải giữ thân, giữ sức khoẻ, giữ chồng... sau mới đến tiền. “Cô phải học con gái Ba Lan ấy - tôi nhắc - đã chắc gì họ yêu chồng, lo và thương chồng bằng đàn bà Việt Nam mình, nhưng lại biết rất rõ các ý thích của chồng mình, biết chiều các ý thích đó. Đàn ông tuy nói là lo những cái lớn nhưng lại dễ chết vì những cái nhỏ bình thường hàng ngày đấy”. Dung cười qua điện thoại: “Có anh nửa đời người sống ở châu Âu mới có tính ấy chứ nhà em còn mít lắm, à mà em vừa mua cho anh ấy một cái áo da, có mỗi cái thôi trong cửa hàng Mariot. Mặc lên vừa khít, da bò Tây Ban Nha, trông cũng ra dáng lắm”.
Thế là tai hại làm sao, xếp hàng lên xe xong, lúc viết hóa đơn và giấy vận tải hàng Hưng bỗng dưng như sực nhớ, thò vội tay vào lục các túi của cái áo da Tây Ban Nha. Cậu ta thay áo quên mất hộp dấu công ty trong cái túi áo bông để lại. Có tìm nữa cũng thế thôi. Cái áo da đen nhánh, đen như lần đi lấy hàng này vậy - phải chờ thêm nửa tiếng nữa để Hưng phóng xe về nhà lấy dấu và như vậy khó có thể vượt qua vùng núi Skawa nằm giữa đoạn đường Varsava về Krakov trước bốn giờ chiều, khi mà sương mù sẽ đổ xuống dày đặc.
Và đúng như nỗi lo lắng vậy, một buổi chiều khó quên, chiếc com-bi đầy hàng lúc cài số hai lúc xuống số một, lò dò từng bước trong sương mù. Đèn pha cũng chỉ chiếu được bốn mét, vạch đường lờ mờ. Tôi tắt đài đi, mọi âm thanh không còn nữa, một sự im lặng thận trọng. Chỉ còn lại tiếng rì rì của ô tô, chắc máy nóng lắm đây. Cứ một lúc tôi lại ấn còi dài để báo cho xung quanh biết sự tồn tại của mình, để tránh đụng với xe khác, với những chú hươu rừng ngớ ngẩn hay lang thang qua đường hoặc đứng ngây ngô nhìn đèn xe. Chỉ cần đi chậm, thật chậm, dán mắt xuống đường, bám sát vạch đường để khỏi lao xuống vực. Không có phải lo vượt, lo tránh. Cũng không lo lạc vì chỉ có mỗi con đường ô tô về Krakov trong vùng núi này và tôi cũng đã lái xe qua nó không biết bao nhiêu lần. Đâu đây, bên phải có một vách cao đầy dây leo giống như ở quê tôi. Phía trước thoải xuống là nơi năm xưa xe bỗng dưng xịt lốp, cũng may đi chậm, không bị mất lái. Thôi, lần cuối cho vui vẻ anh bạn ạ, chúng mình sẽ chia tay một cách bình an nhé - tôi dỗ con đường.
Sương mù mỗi lúc một dày thêm. Tôi căng mắt không dám chớp, chốc chốc lại bật cần gạt nước lau kính để nhìn. Chắc vẻ mặt của mình trịnh trọng, buồn cười lắm nhỉ. Thủy nhìn thấy nàng lại trêu mà xem: “Anh không làm thơ đấy chứ?”. Thơ à! Người ta cũng có nhắc tới sương mù trong thơ. Nó để gợi nỗi nhớ hay một cái gì quen thuộc đã được lặp đi lặp lại. Nói chung mọi thứ cần cho thơ đều lặp lại, có sẵn như các quân trong bộ xếp hình. Vợ tôi cũng phải kêu: “Thôi anh! thơ có từ lâu, người ta làm hết còn đâu anh làm”. Sương mù ơi, cũng chỉ là cái tên thôi, ở xa xa cho các nhà thơ gọi, cùng lắm là mượn lại của nhau, chứ chả có anh nào ngốc nghếch chui vào mò mẫm trong cái mờ mịt trăng trắng cuộn từng bối đến ngây ngô như thế này đâu, cực nhọc và mạo hiểm.
Cứ như vậy, vừa nựng sương mù vừa dỗ cái xe, máy chắc nóng ran lên rồi, kim chỉ nhiệt độ đã nằm ở vạch đỏ, chậm như sên, hơn một giờ đồng hồ rồi cuối cùng tôi cũng bò qua được bên kia núi. Xuống dốc rồi, vùng núi sương đã ở đằng sau, xa xa đã thấy những ngọn đèn của làng nhỏ ven đường. Tôi mở nhạc, tăng ga cho xe chạy nhanh. Kim chỉ nhiệt độ từ từ trở dần về vạch xanh. Tiếng hát của Demi Ruso bài “Vĩnh biệt tình yêu” vừa dứt, tôi bỗng thèm nghe nhạc không lời Chopin, lại thèm nghe cái Da diết của bản Polonais trên con đường mà tôi phải đi hết, đi nốt lần cuối và có lẽ không bao giờ trở lại nữa.
Tôi giữ lái với tay trái để trên đùi, tay phải với mở ngăn hộp xe lấy băng. Bỗng cả mấy cái băng bật xổ ra từ cái ngăn chật ních mọi thứ lộn xộn. Tôi vội giơ tay đỡ và đúng lúc đó có một cái gì bị hẫng dưới bánh xe. Tay phải không kịp thu về, tay trái lại ở vị trí bất lợi nhất. Chỉ một nháy mắt, xe mất lái, lao xuống ruộng, có lúc bánh trước rồi bánh sau đã nảy trên không. Tôi ghì tay lái, chao phải, chao trái nhưng không được phanh hết, phanh hết sẽ lật. Mọi việc diễn ra nhanh quá. Một tiếng rầm, cả người tôi chồm lên, chiếc dây an toàn níu vai lại. Thế là xong, cả một cái cổng gỗ bật ra đè lên xe tôi chết đứng. Tôi ngồi rũ ra, vai, tay mỏi dừ. Phải đến hai chục người tíu tít chạy lại. Đang có cuộc vui gì đó - tiếng nhạc trong nhà, trong sân vẫn vọng ra. Đám thanh niên hò reo nâng, dỡ cái cổng ra khỏi xe. Tôi cởi dây an toàn nhưng không mở được cửa xe đã bị xô méo, đành lồm ngồm chui ra ở cửa bên phải,chân dẵm trượt trên mấy cái băng và đồ lề rơi ngổn ngang trong xe.
Chiếc xe đầu trái bẹp méo, đèn thụt vào như cái mắt hiếng, vẫn sáng bướng bỉnh như không có gì xảy ra. Tiếng hát trong xe vẫn âm vang tha thiết - “Anh mãi mãi đợi em nơi đây”. Mấy con chim sếu bay qua kêu quang quác, xa xa phía tây một chút tia nắng đỏ ối còn sót lại vướng trên dải rừng xanh thẫm. Tôi bỗng cảm thấy nhẹ bỗng và trống rỗng như một đứa trẻ mới sinh. Tiếng cười, hình như là của tôi, bắt đầu là của tôi - ngớ ngẩn đến mất trí. Mấy đứa trẻ con cười theo, rồi cả lũ thanh niên cũng cười. Bỗng tất cả im bặt, đột ngột khiến tôi như tỉnh lại. Một ông già cà nhắc đi từ trong sân ra, chắc là chủ nhà. Ông ta lên tiếng trước: “Anh không đau gì chứ, có quá chén không đấy”. Tôi lắc đầu xin lỗi và rút túi ra năm tờ một trăm ngàn Złoty (tiền Ba Lan - khoảng mười lăm đô) nói trả đền cái cổng. Phải giải quyết nhanh tránh sự can thiệp của cảnh sát giao thông, vừa mất tiền, mất thời giờ, lại còn hàng nữa. Ông lão cầm tiền, quay lại nhìn cái cổng bị bung ra, gẫy mất mấy thanh gỗ, ngẫm nghĩ, đánh giá thiệt hại, giữ lại hai tờ còn trả lại tôi, rồi còn bảo bọn thanh niên xúm lại đẩy xe lên con đường đất dẫn vào sân. Xe vẫn nổ được máy, nhưng bánh trái bị xát. Ông lão bảo một cậu vào lấy búa tạ ra, kích xe nghiêng một chút và cứ thế anh chàng cúi xuống đập cật lực vào trục trước. Thấy bánh xe đã quay không xát nữa tôi cám ơn, bảo thôi.
Khi vòng xe bò lên được đường cái tôi ấn thử còi. Một âm thanh vang lên rồi tắt ngấm trong không trung mờ tối. Còn hơn trăm cây số nữa. Tay lái bị vẹo hơi nhiểu, kích chật vào người. Dù sao vẫn dễ hơn đi trong sương mù. Tôi giữ tốc độ đều đều năm, sáu mươi cây số giờ. Kim chỉ nhiệt độ lại lên vạch đỏ, hơi nước bốc lên mù mịt trong xe. Cứ đi được một đoạn khoảng dăm ba cây số tôi lại phải dừng xe cho nguội máy và lau kính. Ướt quá, ống dẫn nước chắc bị vỡ. Mãi đến nửa đêm tôi mới đưa xe đến bãi đất có ngôi nhà gỗ bỏ hoang ven rừng và quyết định vòng xe ra đỗ khuất sau ngôi nhà hoang đó. Một cảm giác kỳ lạ đã xua ngay nỗi lo âu vừa nhen lên - bóng đêm, ngôi nhà gỗ hoang và cả khu rừng đã đón tôi cùng chiếc xe hàng vào lòng. Cũng không thấy đói gì cả, chỉ buồn ngủ. Thôi ngủ nhé, không chừng sẽ chẳng bao giờ dậy nữa, và báo chí ngày mai sẽ đăng ảnh… Tôi bỗng bật cười tự mắng mình - vớ vẩn, chết thì đã chết lâu rồi. Tám năm trước còn giảng dạy ở trường đại học Sahara Algerie tôi sống một mình trơ trọi trong căn hộ ba phòng trên tầng bốn của một chung cư xây dở giữa sa mạc. Buồn quá, buổi tối tôi vẫn phải đi bộ vào câu lạc bộ trong trường xem vô tuyến. Nửa đêm, hết chương trình, trên vô tuyến vang lên tiếng đọc kinh Coran - là lúc tôi rảo bước, trèo qua cổng sau của trường, lầm lũi kéo áo, mũ che gió bụi, tay cầm gậy, tay cầm hòn đá, chân đạp lên sỏi cát đi vào hoang vu trở về nhà. Những con sói, những con chó hoang lởn vởn lúc xa, lúc gần, theo tôi cho đến tận bậc cầu thang. Tôi chưa bị chúng tấn công bao giờ. Có hôm lúc trở về chẳng có con chó nào xuất hiện, đe doạ, tôi lại thấy trống trải, thấy thiếu hụt, sa mạc như vắng rỗng hơn. Bầu trời đầy sao, người đi theo hướng sao hay lạc trong sao! Cứ thế, tôi nửa ngồi nửa nằm, co ro chật cứng, thả trôi một đêm bồng bềnh trong cái xe bẹp đầu, lẫn lộn thời gian - lẫn lộn không gian - lẫn lộn thực hư....
Tiếng chó sủa, cả tiếng chim hót khiến tôi ngỡ ngàng dụi mắt. Con dao giấu trong tay áo đã rơi xuống khe đùi. Tôi sớm nhớ lại ngay những chuyện xẩy ra. Qua cửa kính xe một cô bé tuổi chừng mười hai, mười ba đang đứng nhìn tôi chăm chú, hai tay nắm chặt sợi dây xích cổ một con chó to. Tôi cũng nhìn lại dò hỏi. Có một lần nào đó trong đời tôi đã nhìn kiểu thôi miên như thế và cũng một ánh mắt đau đáu nhìn lại, Không nhớ được! Tôi lắc đầu mạnh mấy cái để trở lại thực tại: “Ây , cô bé, gần đây có chỗ nào sửa xe không? Xe chú bị lao xuống ruộng ở Kielse tối qua, chắc bánh trượt phải con nhím to bò qua đường”.
- Có - cô bé như bừng lên, hồ hởi - Bố cháu chữa xe trong làng..Bố mẹ cháu về Việt Nam rồi nhưng còn Iasec sẽ chữa xe cho chú.. Mà con nhím không sao chứ chú ?
Thế là OK rồi. Tôi bảo cô bé chui vào xe và tống ngay con chó ngồi lên mấy thanh ba gác trên nóc xe. Nó nghe lời cô chủ không chút chút do dự. Chó tây khôn thế. Hoá ra mẹ em là người Việt Nam, làm dâu Ba Lan. Bố mẹ tuần trước về Việt Nam thăm bà ngoại ốm nặng. Em ở lại với ông bà nội. Claudia có mái tóc mầu hạt dẻ, đôi mắt đen nâu. Khó có thể nhận ra được một chút gì của quê hương tôi trên khuôn mặt em ngoại trừ ánh mắt nhìn. Cái nhìn cứ là lạ, cứ xa xa, vời vợi, cứ như tìm kiếm, mong mỏi đến nỗi khi đi rồi cảm giác nó vẫn theo mình. Thấy ở đâu nhỉ. Ừ, phải rồi, những đôi mắt lộ ra giữa cái khăn quàng đầu phủ mềm mại và cái mạng che gần hết mặt. Những đôi mắt Ả Rập to đen, mênh mang, biết nói. Nhanh thật, thế mà cũng đă gần mười năm rồi.
Nhà Claudia ở ngay đầu làng. Em nhảy xuống xe, mở cổng và gọi chú Iasec. Một chàng trai cao to, tóc hung dài buộc túm ở gáy, vẻ mặt hiền lành giúp tôi đánh xe qua sân có hai bên vườn đầy hoa hồng, hoa trắng và cả hoa các màu khác nữa, rực rỡ, rồi vào cái xưởng đằng sau nhà. Tôi nhủ thầm, cái xưởng to, đàng hoàng còn hơn cả xưởng của lão Toni tôi quen chữa xe ở Crakov. Mở nắp xe ra, thấy ngay cái ống đẫn nước làm mát máy hình chữ U bị bật gãy. Thảo nào nước chẳng chảy hết vào khoang, máy chẳng nóng. Chàng trai bảo tôi cứ yên tâm, máy còn ngon lắm, đến trưa sẽ xong. Có tiếng chào đằng sau, tôi quay lại. Claudia và cả hai ông bà em đã đứng ngay sau xem chúng tôi lúi húi với xe từ bao giờ.
- Pan (tiếng Ba Lan là ông, ngài) cứ để mặc nó chữa, lên trên nhà nghỉ đi - ông già bắt tay tôi - tiếc là Iana đưa vợ về Việt Nam chứ không thì nó có thể mời anh ăn những món ăn của các anh do tự tay nó làm. Nó say mê với các món ăn châu Á lắm.
Tôi dặn Iasec xem kỹ thêm gầm xe rồi theo họ lên nhà. Chúng tôi ăn sáng xong, hai ông bà đi làm vườn, Claudia phải giải một lô bài tập hình và viết một bài luận. Em học lớp sáu. Trường cũng ở ngay trong làng.
- Nhà có nhiều băng hát Việt Nam nhưng mở nhạc thì cháu không học được. Hay chú đọc sách nhé - thế là cô bé chạy ra khỏi phòng và trở về với một lô sách, báo, tạp chí tiếng Việt. Tôi bảo cô bé thôi, từng ấy là đủ rồi và giục bé học đi. Tôi bê tất cả ra ban công, gác chân lên thành, ngửa người lên chiếc ghế đu, nhắm mắt thở nhè nhẹ nhưng cũng chỉ thiu thiu được một chút. Lạ chỗ quá không ngủ được. Nhổm dậy, kếo cái bàn nhỏ đựng sách báo lại bên. Có mấy quyển truyện được bọc rất ngay ngắn. Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh này. Đúng là đàn bà thich thơ đàn bà. Thi nhân Việt Nam, hay đấy - tôi để riêng sang bên. Lá diêu bông của Hoàng Cầm, Cây phong non chùm khăn đỏ của Aimatov, Sợi tóc của Thạch Lam - sách hiếm quá và bỗng dưng tôi như bị sững lại khi mở một quyển sách bìa bọc mầu tím đã cũ. Tập truyện ngắn của Chekhov. Tôi đã đọc nó rồi. Có một thời xa tưởng đã quên. Và tôi thần người ra, tay tôi đã dở đến truyện Một câu đùa. Một trang bị xé rách mất nửa nhưng đường rách rất khéo, cố tình. Tôi bồi hồi quay nghiêng để đọc câu thơ mực tím viết rất nhỏ dọc giữa hai trang
Cớ sao lại xé! Người đâu...
một trang - hai nửa , tìm nhau thế nào?
Tôi lặng đi rất lâu, ngón tay xoa trên trang rách. Nó như còn đau, giữ lấy những ngón tay của tôi. Và tôi cũng ở tâm trạng như tác giả của chuyện “Một câu đùa”, tự hỏi mình, không hiểu sao hồi đó tôi lại vô tình như thế, lại xe rách trang truyện được người ta nâng niu, giữ gìn như thế. Tôi đăm đăm nhìn nửa trang truyện dở dang. Một nửa ở đâu, mất khi nào? Chịu, không thể nhớ nổi nữa. Lần cuối cùng thấy nó kẹp lẫn với những câu thơ nháp vội, những hình vẽ nguyệch ngoạc trong quyển vở ca rô giá bốn tám cô pếch mua ở sân ga cửa khẩu Zabaical lúc rời Liên Xô. Một tiếng thở dài. Cho Ai? không! Cho nhiều lắm, cho cả những mộng hoài thuở ấy...
Thuở ấy đã hơn hai mươi năm rồi. Tôi mới tốt nghiệp ngành vật lý kỹ thuật ở Liên Xô, về giảng dạy ở trường Đại Học Tại Chức Hà Nội. Nói là trường Đại Học chứ chỉ có mấy lớp học tường đất mái tranh len lỏi giữa các ruộng rau, ao cá, nhà dân trong khu Đồng Tâm gần Ngã Tư Vọng. Tôi sống trong một chái nhà lá trường vừa mua lại của dân. Chính dạy môn cơ học kết cấu, sống cùng tôi, cũng vừa tốt nghiệp trường xây dựng Moscva, có mẹ và chị nhà ở bên kia cầu Đuống. Thỉng thoảng mưa gió cậu ta mới nghỉ lại còn là đi xe đạp về nhà luôn sau giờ lên lớp. Tôi cũng cùng hoàn cảnh như Chính nhưng mẹ và chị ở xa. Ở Hà Nội tôi không có họ hàng, người thân. Thường ngoài giờ lên lớp tôi hay đến thư viện quốc gia đọc sách, chọn chỗ ngồi ở tầng hai, bàn cạnh cửa sổ nhìn ra đường phố có hàng cây phượng to. Nói chung tôi cũng chỉ như một người ngồi dở sách, nhìn dòng người đi lại ngược xuôi, nhìn cuộc sống trôi đi bên ngoài, qua cái cửa sổ. Mãi rồi, một buổi tối thứ bảy cuối thu, thư viện đóng cửa sớm. Tôi dắt cái xe cuốc ra khỏi cổng, một cơn gió lạnh bơ vơ. Đi đâu bây giờ? Tôi tần ngần rồi lên xe . Đi chứ, đi đâu ! Và tôi vòng qua Tràng Thi ra Quang Trung, đường phố của hàng cây me, cây hoa sữa. Đến hồ Ha Le tôi quay xe lại. Đi nữa thì về nhà, tôi chưa muốn. Ven hồ, những bóng đôi dưới những bóng cây. Tôi thả lỏng mình trên yên xe, hình như gió kéo tôi đi, kéo chạy trốn hay đi tìm. Gió thu như đã hiểu được tâm trạng của người con trai vừa tròn hai bốn tuổi.
Vòng xe lên Bờ Hồ lung linh ánh điện, hàng quán dập dìu tiếng nhạc, tôi bỗng thèm một cốc cà phê nóng, một chỗ ngồi nghỉ. Nhưng tôi sực nhớ là trong túi ngoài thẻ thư viện, giấy đăng ký xe đạp chỉ còn mấy chiếc vé ăn tập thể. Ngày kia mới lĩnh lương, có mấy nghìn đã vá xe sáng nay rồi. Và bộ dạng này cũng không thể vào đâu được. Đôi giày da, cái quần bò nhung trông không đến nỗi nào nhưng bên trên tôi lại khoác cái áo bông màu xanh đen cũ rõ những miếng vá ở vai, cổ tay. Cái áo bông đó của anh tôi gửi lại cho tôi khi nhập ngũ. Hai năm sau anh đã hy sinh. Tuần trước kẻ trộm bẻ khoá vào nhà khi tôi đi vắng, lấy sạch quần áo của tôi. Nó chỉ chừa lại sách vở và chiếc áo bông cũ thân thiết này.
Tôi tiếp tục đạp xe vòng vèo qua các phố cũ rồi quay về, bỗng thấy trên vỉa hè phố Ngô Quyền có mấy người đang đứng đợi ai, có cả mấy chiếc xe cuốc nữa. “Uấn, làm gì ở đây đấy, cả Khang, Thắng nữa, chờ ai vậy, có vụ gì đấy?” - tôi dừng xe, nhận ra mấy ông bạn học năm trên nhưng cùng ngành. Họ tốt nghiệp trước tôi và được về dạy ở một trường Đại học chính quy lớn ở Hà Nội. Tất cả đang chuẩn bị cho một trận đánh, đúng hơn là đang dàn dựng một vở kịch về tình yêu. Nhân vật chính là anh Tùng hai tám tuổi dạy ở khoa khác. Có một cô sinh viên tên là Kim Chi yêu thầy... và thầy đổ. Tôi dám đánh cuộc rằng cô nàng ngồi ngay ở bàn đầu. Những nữ sinh ngồi bàn đầu vô ý thức sẽ có thể làm hỏng hết bài giảng. Đúng ra phải đưa vào nội quy ngồi bàn đầu một số điều như cấm kỵ như cắn môi, liếm môi, cấm cười gió, nheo mắt và những điều khác nữa. Nhưng Kim Chi là cành vàng lá ngọc. Ông bố, theo gợi ý của cấp trên và theo ý muốn cấp trên của cấp trên, đã đặt nàng xong rồi, thuận theo chữ “môn đăng hộ đối”. Hiểu rằng giải thích cho cặp uyên ương thầy trò này sẽ rất mất thời giờ, ông ấy đã gọi ngay dây nói cho một vị lãnh đạo của trường và sau đó khoa của anh Tùng có ngay một cuộc họp bất thường phổ biến về đạo đức, tư cách của người cán bộ giảng dậy và phương hướng cử đi đào tạo nghiên cứu sinh ở nước ngoài sắp tới.
Kim Chi được chuyển sang lớp khác, còn anh Tùng không thấy chơi bóng chuyền buổi chiều nữa, nói bị sai khớp vai. Mọi nông nổi đã qua, mấy anh em trẻ quyết định giúp Tùng lấy lại tự tin, vả lại nhà vốn con một, cũng đến tuổi rồi. Nhân vật nữ được chọn tên là Hương, sinh viên trường Đại học sư phạm, trẻ hơn Kim Chi một tuổi và xinh hơn vài điểm. Đấy là theo lời của ông mối Uấn. Bố Hương là giáo viên trường Chu Văn An, mẹ làm việc ở thư viện trường Văn hoá. Khang rủ tôi nhập bọn cho đủ năm người, lấy số may nhưng Uấn nhìn tôi vẻ rất ghi ngờ: “Thằng này nó mới về, trông còn Tây, lại văn chương hoa mỹ lắm, phải duyệt nhân sự cẩn thận đã”. Tôi hoảng quá phải chìa ngay cái áo bông cũ vá cho hắn xem và hứa sống chết là đi cho đủ số đẹp, đi học kinh nghiệm của các bậc đàn anh thôi. Khang vốn tính cẩn thận ra luôn điều kiện là không được nói ngang, nói linh tinh. Tôi mừng quá chỉ vào cổ họng nói:
- Cơ la nut (xin thề - tiếng Nga), sẽ không nói một câu nào, coi như viêm họng nặng và đặt đâu xin ngồi đó. Uấn vẫn còn đòi thêm tôi được một lời hứa danh dự là sẽ không gây ra rắc rối gì ở cái địa chỉ đến đó thì Tùng xuất hiện, com lê, cà vạt nghiêm chỉnh. Chúng tôi đi ra phố Đặng Thái Thân gần đó, rẽ vào một cái sân rộng xung quanh có mấy ngôi nhà một tầng cạnh một ngôi nhà tập thể bốn tầng mới xây, đèn rọi sáng chiếc cầu thang được quét dọn sạch sẽ. Uấn như đã đến nhiều lần, quen thuộc với địa hình, khoá xe dựng ở chân cầu thang. Tôi dựng xe cuối cùng, bên ngoài, loay hoay với cái khoá xích bỗng dưng sao bị hóc. Khoá mãi mới được, cũng hay, kẻ trộm sờ vào chắc cũng chịu, lúc ngẩng lên đã chẳng thấy ai cả. Tôi vội chạy lên theo, các tầng mọi nhà đều đóng kín cửa cả. Đến tầng bốn ngó ngó hành lang trái thấy có một nhà cửa mở hé, ngổn ngang giày dép cởi ngoài. Tôi nhận ra đội hình đã bỏ rơi mình. Mặc kệ, tôi cũng cởi giầy bước vào, gật đầu thay câu chào (vẫn nhớ lời thề, không mở miệng). Một cái bàn giấy, đủ bánh kẹo, thuốc nước, kê ngang giữa nhà. Bố mẹ Hương ngồi tiếp khách một bên, sau lưng là cái tủ đứng chia nhà thành hai phòng. Ngồi dối diện, quay lưng ra ngoài là Khang, Thắng, còn chàng Romeo thì ngồi giữa. Ông mối Uấn ngồi chủ toạ đối diện tờ lịch Trung Quốc có hình sông núi mây gió treo trên tường. Anh ta đang vào đề, đang bay bổng, say sưa. Chỉ có bà mẹ, vẻ mặt phúc hậu định đứng dậy nhường ghế cho tôi. Tôi vội để hai tay lên ngực, xoè lòng bàn tay ra hiệu không dám, ngồi ngay xuống cái giường cá nhân kê cạnh cái bàn con sát cửa ra vào.
Bà mẹ gọi Hương mang nước ra rồi câu chuyện vẫn cứ tiếp tục, hình như đang sang đoạn lắp ghép tầu vũ trụ hay về sự sống ngoài trái đất gì đó. Còn tôi, như bị lãng quên, ngồi một mình trên cái giường con giống như cái giường ở tập thể của tôi nhưng chiếu giải trên sao mà đơn sơ, mà thẳng, đẹp quá. Tôi quả thật chưa bao giờ có ý nghĩ là trải chiếu cũng có thể khác nhau đến thế. Cạnh cái gối trắng hồng ở đầu giường có tập truyện ngắn của Chekhov. Tôi đã đọc ông này bằng tiếng Nga rồi, cũng thích. Không biết tiếng Việt họ dịch những chuyện gì. Liếc kín đáo lên chiếc gương nhỏ treo trên cái bàn học con đầu giường, tôi thấy cả hội vẫn đang say sưa, anh Tùng và ông bố đã bắt đầu tham gia câu chuyện. Chỉ có đôi mắt bà mẹ có lúc vẫn đưa nhẹ về phía tôi. Không sao, cái nhìn bao che quá. Tôi cầm quyển truyện để lên bàn, tay chống cằm nghiêng, mở ra xem. Tình cờ dở đúng chuyện “Một câu đùa”. Tôi bắt đầu đọc, rồi mải mê đọc, rồi quên hết xung quanh. Tôi không tồn tại hay đúng hơn là lạc vào một thế giới riêng của mình, của sườn đồi mênh mang tuyết trắng có chiếc xe trượt lao vun vút, của tiếng gió thổi hay tiếng gọi từ đâu: “Anh yêu em, Nadenka”. Có hơi thở nhẹ bên cạnh, có mùi hương nhẹ lan sang, quấn lấy tôi. Tất cả là thật - em đã ngồi xuống bên cạnh tôi, bàn tay vẫn cầm đĩa chén nước chè mang ra cho tôi, tựa trên đùi. Em cũng im lặng như sợ phá vỡ cái thế giới mỏng manh của tôi và của cả em nữa. Tôi vẫn dở tiếp trang để đọc, lạc theo những tiếng gọi tình yêu. Em cũng hơi nghiêng về phía tôi, đọc cùng tôi. Tôi đã đọc xong truyện rồi nhưng tay vẫn không dở tiếp, tay giữ góc trang chờ em, lại đúng ở mấy chữ “Anh yêu em, Nadenka”. Có tiếng thở dài nhè nhẹ. Tôi ngẩng lên nhìn gương, rất gần tôi trong gương, một đôi mắt đen to nhìn chăm chú. Cái nhìn đau đáu là lạ, pha chút dò hỏi, đợi chờ và cả lo âu. Tôi như bị thôi miên, mắt cũng mở to, môi dưới hơi mấp máy. Môi em hơi mím lại, chấp nhận, giục giã, nén nỗi sợ hãi đang trào lên. Và chúng tôi lại cùng đi lên đỉnh đồi để trượt xuống. Xung quanh lại gió tuyết mênh mông. Em như nín thở, em muốn nghe, và không như Nadenka, em muốn được. Tôi khẽ gật đầu và thấy trong gương mặt em bỗng tái nhợt đi. Chiếc cốc nước tuột khỏi tay, rơi xuống nền nhà, đổ ướt cả quần và bàn chân em. Hương vội ngồi xuống thu dọn mảnh vỡ, rất nhanh rồi đi vào trong, không thấy trở ra nữa.
Khi chúng tôi đứng dậy ra về bố Hương tiễn khách ra tận cửa, bắt tay từng người rất thân mật. Tôi bao giờ cũng chậm chạp nhất, lúc vào nhà chỉ tụt giày ra chứ không cởi giây, lúc ra lúng túng mãi mới xỏ vào được. Đứng lên đã thấy mẹ Hương đang nhìn tôi chăm chú, tay cầm tập truyện ngắn của Chekhov, giọng hiền dịu: “Cháu có muốn đọc nữa không thì cầm về, biết nhà rồi đọc xong đến trả cho em”.
Lúc về cùng đường chỉ còn Uấn với tôi. Uấn nói: “Ông đọc tối nay đi, mai tôi qua lấy, tôi trả hộ cho. Ông hiểu thế nào là lời hứa của Mu si na (tiếng Nga - đàn ông) chứ ?”.
Sáng hôm sau tôi đưa cho Uấn quyển truyện. Tối qua, tôi nằm đọc, mơ màng ngủ thiếp đi thế nào làm rách mất một trang. Buổi sáng tỉnh dậy tôi tần ngần rồi xé hẳn, đứt ra. Có lần lên thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương phố Lý Thường Kiệt đọc sách. Ngồi bên cửa sổ tầng hai, tôi chợt thấy ai như em đang đi xe đạp dưới đường. Tôi vội chạy xuống, ngơ ngác. Tiếng gió xào xạc trong lá như đang diễu tôi.Trở lên, tôi lấy trang giấy xé chéo, gấp cẩn thận trong ví ra, lặng đi, thấy như mình có lỗi ...
Có tiếng nhạc, tiếng hát da diết “Tung cánh chim tìm về tổ ấm...” Tôi giật mình mở mắt. Claudia đang đứng nhìn tôi chăm chú, vẫn cái nhìn ấy.
- Chú Iasec gọi, xe chữa xong rồi. Cháu cũng làm xong bài luận rồi.
Tôi cầm tay Claudia bước xuống sân. Ngoài đường có một tốp người cười nói đi qua, đủ cả già trẻ gái trai. Họ đến nhà thờ. Hôm nay ở làng có đám cưới.
HƯƠNG
Tuyết rơi trắng quá tuyết ơi,
đến làm đau dứt lòng tôi thế này.
(thơ Evtushenko)
Sân bay Seremenchevo ở Moscva, một buổi trưa hè 1990. Chiếc IL-86 còn đang lướt trên đường băng, nhiều người đã nhốn nháo đứng dậy, gọi nhau, lấy đồ, nghiêng ngả lộn xộn. Phần đông hành khách là người Việt Nam, những công nhân xuất khẩu đã bỏ việc, buôn bán chạy ngoài, những người thăm thân, du lịch với những gói hàng lủng củng. Ianna gấp nhỏ tờ “Tin buổi chiều Moscva” cho vào túi áo. Có bài đăng về cuộc mít tinh ở Gdansk tuần qua và những câu trả lời của Lech Valencia về khả năng Công Đoàn Đoàn Kết lên nắm quyền. Lạy chúa! Anh đưa tay lên làm nhanh dấu thánh, con đường mà dân tộc Ba Lan đã đi qua là sự thử thách của Người. Trước mắt lại một con đường mơ hồ, vừa đi vừa tìm lối. Nó không dễ, có thể bị lạc, có thể phải lùi lại để tìm dấu, để suy ngẫm, thế nào cũng được nhưng chỉ xin đừng gặp lại những cảnh như buồng tắm hơi ngạt, lò thiêu xác của Phát xit Đức ở trại Auschwitz gần quê anh hay những đầu lâu xếp đống ở Phnom Penh với những hố mắt sâu rỗng mà như vẫn biết nhìn, biết hỏi, vẫn không nguôi tuôn ra những lời trách móc tự cõi nào. Và con đường của ta, một trung uý Ba Lan vừa hết hạn phục vụ trong đội dò mìn của UN-Troop là trở về Kielse, trở về ngôi nhà có cái cổng sắt làm bằng hai cái cánh cửa và các miếng vỏ tháo ra từ chiếc xe Polonais thùng cũ bỏ đi - anh mơ màng - phải thay nó thôi, phải làm một cái cổng sắt to với những thanh dáo như ở nhà thờ, cũng phải sơn mầu nâu hạt dẻ. Mẹ sẽ thế nào nhỉ? Chắc lại cuống lên, lại nấu ngay món xúp Flaki mà mình thích. Liệu mẹ có hợp với chiếc khăn rằn dài mà mình mua ở chợ Phnom Penh không, chắc trông lạ lắm. Cho bố thì đã có chai rượu gạo ngâm củ thuốc mua vội ở sân bay Hà Nội, thấy ghi có nhiều công dụng. Quà cho cậu em Iasec là một cái thắt lưng da cá sấu. Và cuối cùng còn lại quà cho riêng mình - mẩu vỏ mìn đã gỡ được từ thân cây dừa. Lúc đó mìn nổ bất ngờ, lạc lõng ở bờ sông gần cung điện hoàng gia Khmer. Nếu không có cây dừa đó …
Cứ miên man với những ý nghĩ vẩn vơ trong đầu, người đàn ông Ba-lan trong bộ quần áo bò thô sờn, cái túi xách tay cũng bằng vải bò, là người cuối cùng rời máy bay. Qua nhanh cái khoang ống nối là đến những hành lang vắng ngắt. Các hành khách của chuyến bay đã đi ra cả phòng đợi hành lý rồi. Chỉ mình Iana rẽ sang hành lang trái theo mũi tên xanh chỉ dưới dòng chữ “Transit”. Một loạt phòng đợi lên máy bay. Varsava đây rồi, anh bước vào. Còn hai tiếng nữa mới đến giờ bay. Cũng đã có hơn chục người Ba Lan, có cả gia đình, trẻ con nữa. Iana lại gần cửa kính, ánh mắt bỗng chạm phải một ánh mắt đưa lên ngỡ ngàng. Tất cả dừng lại trong trong khoảnh khắc rồi người phụ nữ đó quay nghiêng đi nhìn ra cửa kính sân bay. Một chiếc máy bay của hãng Luthansa vừa nhấc mình lên khỏi đường băng một cách nặng nề. Mặt đất như vẫn níu cái vật khổng lồ màu ghi bạc đó lại, không muốn thả ngay. Khi chiếc máy bay đã treo xa ở trên dải rừng cây phía tây Ianna bỗng nheo mắt lại. Có một cái gì trắng lấp lánh từ trên máy bay rơi xuống. Chắc mình bị hoa mắt thôi, một hiện tượng quang học, một ảo ảnh. Nó thường đến với những người đi trong sa mạc - anh nghĩ thầm. Nhưng nếu không chỉ có mình nhìn thấy. Anh quay sang, bên trái ở ghế ngoài hàng trên, người phụ nữ vẫn ngồi yên lặng, hai tay úp lên đầu gối đăm đăm nhìn ra phía xa. Nàng cũng nhìn thấy, anh khẳng định. Mà thế thì đã sao, thật vớ vẩn, có cái gì quan trọng đâu. Ianna lấy tờ báo trong túi áo ra đọc nhưng vẫn không sao dứt khỏi ý nghĩ là nàng cũng đã nhìn thấy cái lấp lánh đó, cũng như anh. Và nếu quả thực như vậy thì… Từ đâu trong đầu anh bỗng loé lên ý nghĩ kỳ lạ mách bảo rằng nếu nàng cũng nhìn thấy ảo ảnh sáng lấp lánh phía trời xa thì thật kỳ diệu, một diều kỳ diệu nào đó sẽ đến, sẽ thay đổi cả cuộc đời anh.
Mái tóc đen dày của nàng cuộn búi cao , mấy sợi tóc tuột vương trên làn da trắng mịn làm đôi vại tròn duyên dáng lại càng thêm quyến rũ. Còn đôi mắt quay đi kia, anh nhớ ra rồi. Đôi mắt của vũ nữ múa điệu Apsara1. Anh đã đứng lặng rất lâu ngắm bức tượng vũ nữ đó trong một ngôi đền Khmer…Một sự cân bằng hoàn hảo. Một cái Tĩnh tuyệt mỹ từ bức tượng, bắt đầu từ đó, như lan toả ra xung quanh, che chở và khoan dung. Và một đôi mắt mở to với một cái nhìn huyền diệu khó tả. Iana đã nhìn, tìm rất lâu trong đôi mắt đó và cứ như bị thôi miên, lẫn lộn hết. Chỉ thấy thời gian đầy trong đôi mắt, Quá Khứ và Tương Lai. Buổi chiều về Phnom Penh anh đã đi tìm xem những bức tượng vũ nữ trong các cửa hiệu bán đồ lưu niệm. To nhỏ khác nhau,có tượng gỗ, có tượng thạch cao nhưng đôi mắt đó anh không gặp lại. Hôm sau anh đã rời Cambodia, thăm ngừơi bạn cũ hiện là nhân viên sứ quán Ba Lan ở Hà Nội trước khi bay về nước.
Đất nước của Iana, Ba Lan năm 1990 rồi tiếp năm 1991 chứng kiến những thay đổi chóng mặt mà chỉ ba, bốn năm trước đó không ai ngờ tới. Nhưng rồi tất cả cũng quen đi và quên đi, rất nhanh nữa là khác. Những cuộc tranh cãi, đấu đá giữa các chính khách, các đảng phái chính trị cũng lắng dần. Mà ai nghe, cứ để cho Valensa và Công Đoàn Đoàn Kết của ông ta có thời gian bộc lộ khả năng, còn lâu mới lại đến bầu cử. Những người dân bình thường còn phải lo với cơm ăn, áo mặc, nhà ở, các vấn đề của hàng ngày, phải mua, phải bán, phải trao đổi. Ba Lan trở thành một chợ giời lớn của châu Âu. Hàng hoá Trung Quốc, Thổ, Việt Nam đổ vào rồi dân các nước xung quanh nhất là dân Nga ồ ạt kéo sang mua buôn về nước họ. Cái cổng sắt to với những thanh dáo sơn màu nâu hạt dẻ đã thay cho cái cổng vá víu cũ. Iana còn muốn sửa lại cái nhà kho ở sân sau thành xưởng cơ khí sửa chữa xe nhưng cậu em trai ngăn lại. Để tiền đó mua một chiếc Lada. Nhà máy giầy ở Kamiska cách làng chưa đến trăm cây có anh bạn cùng phục vụ trong quân đội với Iana, giải ngũ về làm ở đó. Hai anh em đến mua giầy, trả trước một phần tiền, chở đi các vùng biên giới bán. Rong ruổi ở chợ nào Iana cũng gặp người Việt Nam. Họ bán hàng Việt Nam, có khi cả hàng Trung Quốc, hàng Thổ, chủ yếu là các loại quần áo rẻ tiền. Anh để ý nhưng không thấy ai giống nàng, không ai có cuộn tóc và đôi mắt đen nhung của nàng. Trong chuyến bay năm ấy nàng ngồi xa anh, tận cuối máy bay. Đến Varsava anh chờ hành lý gửi theo bị lâu quá. Chiếc va li vải bò của anh cuối cùng cũng thấy xuất hiện trên băng chuyền. Ra ngoài, anh cứ tần ngần. Nàng đã đi mất rồi, chắc có người nhà đón. Chắc nàng không nhìn thấy cái ảo ảnh hôm đó, cái ảo ảnh lấp lánh của anh...
Miền nam vùng “Ba Lan nhỏ” mùa đông năm 1991, phiên chợ biên giới ngày chủ nhật cuối năm. Ba giờ sáng từ lưng đèo Mislimise nhìn thấy những chấm sáng nối đuôi nhau, vòng vèo ẩn hiện lao về phía nam. Hai anh em đã đẩy được chiếc Lada sang vệ đường, cài số, kéo hết phanh tay, lấy gỗ chèn bánh - còn hơn trăm cây đường núi nữa thì chết máy. Iasec chiều qua lấy xe đi sang làng bên chơi về muộn, thấy vạch kim chỉ dầu báo cạn nhưng vẫn nghĩ đủ đi đến chợ rồi lo sau. Thế là lên đến đỉnh đèo, cạn sạch dầu, nóng máy, may mà xe đã vượt qua được đoạn dốc nguy hiểm nhất rồi mới chết ì ra. Cậu em biết lỗi cứ cầm đèn pin đứng sau xe gần hai mươi mét, huơ lên khi có xe khác leo đến gần. Xe nào qua cũng nháy pha xin lỗi, lái tránh sang bên rồi vút đi. Phải đến gần một tiếng sau mới có một xe đi chậm lại, quẳng sang cho một hộp dầu Mobil. Thế là bị chậm mất đứt một tiếng rồi.
Đến sáu giờ sáng hai anh em mới đến được Nowytarg, thành phố du lịch trên núi sát biên giới Tiệp. Trời đẹp, lặng gió, các lều, cờ đủ màu sắc, người đi lại chen chúc ở cổng chợ. Tiếng nhạc từ các loa to treo cao vừa im bặt là oang oang bằng tiếng Ba Lan, tiếng Nga, tiếng Tiệp các thông báo về nội quy, về giá vé các ô bán hàng trong và ngoài chợ, quảng cáo các loại hàng, các hãng buôn. Ô tô đã đỗ san sát. Các côp xe, lều, giường xếp mở ra, đủ các loại hàng hoá, từ cái chổi lông đến thảm trải nhà, áo bông, áo len các loại, có cả cưa, đục, kìm, búa, phụ tùng ô tô của người Nga. Hết chỗ rồi, bên trái là bãi bán gia súc và các loại rau quả. Iana quyết định đánh xe ra hẳn bãi trống ở bờ sông, thấy cũng có tốp người bày hàng bán ở đó. Không còn lựa chọn nữa,chợ họp sớm và tan cũng rất sớm. Mở hàng là mấy cậu người Nga. Họ đã bán gần hết đống ống nhòm và dây buộc, dây leo núi, còn một ít hàng ế hỏng mang đến gạ đổi lấy giầy. Không đổi được, nghĩ thế nào họ chọn mua theo giá bán buôn luôn chục đôi, mang thử về nước bán, không bán được thì làm quà cũng xong.
Đến mười giờ.
Hai anh em cũng bán lẻ thêm được ngót nghét hai chục đôi giày nữa, rồi bỗng dưng gió thổi mạnh từ dãy núi bên Tiệp sang, tuyết ướt rơi dày mù mịt, lẫn cả mưa. Khí hậu vùng núi bất thường quá. Mọi người vội thu hàng, chạy toán loạn. Một lát bãi sông đã vắng ngắt. Iasec vào xe bật quạt sưởi cho khô sạch kính xe. Không gì bằng được ngồi trong xe, cắn miếng báng mì kẹp dăm bông và nhấm nháp ngụm cà phê trong cái phích mẹ pha cho. Iana thì rút cái chai nhỏ làm ngụm Cognac. Đường về để cho cậu em lái, giờ nghỉ ngơi chút đã, vội gì, hôm nay bán thế được rồi. Bây giờ anh mới thấy cách chỗ xe đỗ khoảng năm mươi mét hãy còn một người phụ nữ ngồi với đống hàng áo gió trên tấm ni lông phủ đầy tuyết. Chiếc áo bông nâu tím cũng đã ướt sẫm. Hình như người đó không biết làm gì đối chọi với cơn mưa tuyết bất ngờ này, đành cứ cầm một chiếc áo gió che lên đầu vậy.
- Để em chạy ra xem sao - Iasec nói.
Iana tắt quạt sưởi, nổ máy, nhìn ra thấy cậu em đang dìu người phụ nữ đó đứng dậy. Anh cài số, khéo léo đưa xe ra khỏi đống tuyết ngập bánh, đến đón họ, làm rất nhanh, giũ tuyết đóng hàng vào túi cho lên ghế sau và không quên nhét thêm cả chiếc xe kéo gập. Iasec đỡ người phụ nữ đó vào xe và nói: “bị cảm lạnh, cứ về Kielse đã rồi tính chuyện lên Varsava sau”. Iana rót tách cà phê nóng mời. Ánh mắt gặp nhau, anh bỗng ngẩn người - đôi mắt còn vương tuyết trên mi, mệt mỏi và ngỡ ngàng nhưng vẫn thăm thẳm mầu nhung đen, đôi mắt anh đã mang theo trong tâm trí, đã tìm suốt năm qua .
Tuyết rơi mỗi lúc một dày thêm, trắng xoá. Có tiếng nói ú ớ, không phải tiếng Ba Lan. Nàng đang mê sảng rồi. Anh quay xuống với tay sờ trán, nóng rực. Tức quá, trong hộp cứu thương mang theo chỉ có bông băng, kháng sinh sát trùng. Lần này về phải cho thêm các thuốc khác vào nhất là thuốc cảm, giảm sốt. Đôi môi nàng mím lại, cái khăn quàng tuột lỏng để hé ra phần cổ thon tròn trắng mịn, những sợi tóc đen vương xuống ánh ướt trên khuôn mặt xinh đẹp, vẻ đẹp Á Đông. Có phải đây là món quà cả Chúa và Phật cùng hẹn ban cho ta không. Anh bỗng nhớ câu thơ của ai đó viết.
Không có gì xảy ra hai lần
Không có gì vì một lẽ đơn sơ,
Chúng ta sinh ra chỉ có một lần
Và nhắm mắt xuôi tay cũng chỉ một lần thôi.
Dù dại khờ và vô duyên nhất trên đời,
Anh không thể hai lần mất em cùng một lúc
Và từ đâu có một tiếng nói mách với anh là chỉ có lần này nữa thôi, sẽ không lặp lại nữa, Anh không thể để mất nàng, sẽ được chăm sóc, che chở cho nàng, sẽ phải sửa lại nhà, sẽ phải bắt tay vào xây cái xưởng cơ khí sửa chữa xe đằng sau, vườn đằng trước sẽ phải trồng thêm các loại hoa...
Tuyết vẫn rơi, rơi mãi không nguôi, cứ như đất muốn kéo trời xuống để ôm chặt lấy, để hòa làm một thành cái hỗn độn sơ khai thuở nào. Sẽ thật đơn giản, sẽ chẳng có ai làm khổ ai nữa, sẽ chẳng còn đau buồn và tủi nhục. Những dòng lệ ấm nóng chảy trên má nàng. “Sao tuyết trắng quá và nóng thế. Sao chẳng có ai thế này. Anh ấy rủ mình lên đồi cùng trượt tuyết, đôi mắt của anh ấy nói thế nào rồi lại bỏ đi để mặc mình ở đây giữa bầu trời tuyết mênh mang này, trên cái xe trượt. Cũng chẳng cho mình biết tên”. Hương muốn kêu lên, muốn gọi nhưng có gì nghẹn ở cổ. “Nhà tôi là gia đình cách mạng, con tôi nó chỉ biết học hành, phấn đấu. Chính cô đã làm nó đến nông nỗi này.”- giọng bà mẹ chồng vẫn từ tốn, đĩnh đạc như khi xuất hiện trên vô tuyến vậy. Nàng khóc nhưng không nói được câu nào. Lâm có bao giờ nói cho nàng điều gì đâu ngoài một lần bộc lộ với nàng cái triết lý tu dưỡng học được của người bố: “Ngu nhất là không biết những cái mình có thể được làm, ngu nhì là không biết những cái mình không được làm, nhưng ngu hơn cả là biết những cái mà mình không nên biết. Em là vợ anh thì đừng có ngu”. Bạn bè người ghen tị, người mừng cho nàng có phúc vào được một gia đình danh giá.
Chỉ có lúc về thăm bố mẹ, trở về căn hộ một phòng bé nhỏ tầng bốn trong khu tập thể gần bờ sông Hương mới lại cười, lại soi gương gặp lại mình. Mẹ nhớ nhưng rất ít đến thăm con gái. “Người ta cũng tốt thôi, họ quên mất họ cũng vì những người xung quanh hay xu nịnh quá. Bà nên thông cảm thương họ thì hơn là tự ái, khổ con Hương”. - Bố nhiều lần xoa dịu mẹ nhưng không xong - “Cứ để thằng Lâm đi nghiên cứu sinh về, xong rồi hại vợ chồng chúng nó sẽ bảo nhau. Dù sao con rể mình cũng là một nhà khoa học, trí thức, nó sẽ biết nghĩ”.
Nhưng không kịp nữa rồi, sau lần ông bố Lâm đi họp rẽ qua Ba Lan thăm con, có lượng vốn lớn Lâm định đánh quả thuốc Tây và bị bắt giam, ra toà. Làm sao Hương có thể chịu đựng được những hậu quả mà cả nhà chồng cứ dồn, gán cho nàng. Chỉ có mẹ nàng, lạ thật, chính mẹ đã đưa cho nàng số tiền dành dụm và cả tư trang của bà: “Con hãy bán đi, tìm cách sang với chồng. Nó đang cần con”. Hương làm theo lời mẹ. Nếu Lâm được về, dù chịu hình phạt nào trong nước, nàng cũng sẽ đợi, rồi hai vợ chồng sẽ bỏ đi Sài gòn làm lại tất cả, hưởng cái hạnh phúc được làm người bình dị. Nếu Lâm không về, nàng sẽ ở lại cùng anh. Và nàng lại thấy khuôn mặt của anh, đôi mắt bình thản, giọng nói cũng bình thản như của mẹ anh vậy: “Em kệ con Ba Lan ấy. Rồi anh cho nó thêm ít tiền nuôi con, cứ để nó lo xong thủ tục bảo lãnh cho anh xong rồi chúng mình sẽ trốn sang Đức, ở trong trại tị nạn ấy cũng đầy đủ lắm. Cần nhất là em đóng vai em gái anh cho khéo để nó không nghi”. Lâm còn tiếp tục nói nhưng Hương đã không nghe thấy gì nữa rồi - Lâm đã ra khỏi cuộc đời nàng.
Cũng như một số người mới sang bơ vơ ở Ba Lan, quán ăn Việt Nam là nơi nàng trú chân đầu tiên. Nhưng cũng không được lâu, cái xã hội được thu nhỏ lại trong quán ăn cũng đầy những ghen ghét, kèn cựa, thói xấu của con người. Lại cảnh bằng mặt chứ không bằng lòng, hết gữa hai đầu bếp chính là lại đến giữa những cô phụ bếp, bưng bê. Và tệ nhất là đôi mắt ông chủ Việt Nam có vợ Ba Lan cứ nhìn theo nàng như một kẻ chết đói. Có một lần, một ông già bếp trưởng ở một quán ăn khác đến chơi, gặp nàng. Nghe đâu ông ấy trước kia đã từng là nghệ sĩ ưu tú hay nhân dân gì đấy, đã đi nhiều nước lắm. Ông ấy khuyên nàng: “Sao em lại vào làm quán làm gì. Anh sẽ giới thiệu em với lũ cháu anh, chúng nó đánh hàng trong nước sang, đến lấy mà đi bán. Vất vả nhưng em có tự do, quý lắm. Em còn trẻ, còn sức, đất này dân theo đạo, nhân hậu. Em cứ đi thử đi, đừng sợ”.
Thế rồi một xe kéo, một túi hàng, Hương lang thang khắp các chợ. Lúc đầu ở Varsava rồi sau đó nàng bạo lên, đi tầu đến các chợ tỉnh xa. Mùa đông đầu tiên xa nhà, những bông tuyết đầu tiên nàng gặp cũng ở ngoài chợ. Hôm đó gần đến Noel, nàng bán hết sạch cả hàng. Rồi tết âm lịch. Ba mươi tết, buổi tối có một người phụ nữ Việt Nam đứng giữa sân ga tỉnh lẻ vắng ngắt, chờ tàu về Varsava, ngửng mặt lên trời đón tuyết rơi. Những bông tuyết mơn man, êm ái tới tấp phủ kín mắt môi nàng, xoa đi những lo âu, buồn tủi . Và những tiếng còi tầu, những túi hàng, những vì sao cô đơn ngoài cửa sổ, những dòng sông, đồi núi, những dải rừng xanh đẫm nắng chiều, những phiên chợ, những miếng bánh mì kẹp bơ và dưa chuột ăn vội vàng đã gắn liền với nàng, là một phần trong cuộc sống nàng.
Hương cũng gặp người Việt Nam ở khắp các miền Ba Lan, biết nhiều người cũng ở vào hoàn cảnh rất éo le, vất vả. Cũng có nhiều người tốt. Có lần nàng gặp cả một nhà văn ở Hà Nội sang công tác, đứng nói chuyện, coi hàng cho nàng cả buổi ngoài chợ. Hương gửi anh ấy hai trăm đô la về cho mẹ, không có thư . Lúc về nàng thấy có tờ giấy gấp nhét trong túi hàng. Một bài thơ viết vội không có tên và địa chỉ.
Ta đi tìm những vần thơ.
Chào anh, tiếng gọi ấm đưa lạ thường.
Xinh xinh hàng xén trên giường,
Nàng bày bán ở góc đường chợ con.
Ba Lan ấy - một mùa đông,
Tuyết rơi lạnh ướt má hồng hàng mi.
Ngón tay găng rách cóng ghê,
Cho ta sưởi ủ vỗ về nhé em.
Gặp nhau một thoáng tha hương,
Gửi nhau một chút tình thương quê nghèo.
Hương thấy cuộc sống vất vả này đơn giản hơn và thật hơn . Rồi có một lần ở chợ nàng đã khóc òa lên khiến dân Ba Lan phải xúm lại, tưởng nàng bị ốm hay bị mất cắp. Không phải, nàng vừa nhận được thư của mẹ: “Mẹ ơi, con sẽ về với mẹ, nhưng không phải bây giờ”. Nàng cứ giữ mãi lá thư có nét chữ nhoè đó, gấp kỹ trong giấy ni lông để trong lần áo con sát ngực, thèm muốn cái hơi ấm của mẹ, như ngày nào bé bỏng được rúc vào lòng mẹ ...
“Mẹ, mẹ ơi!”. Hương ú ớ kêu lên níu lấy tay mẹ. Một bàn tay mềm, ấm giữ lấy tay nàng, tay kia để lên trán đỡ cái khăn ướt. Hương mở mắt. Một người phụ nữ Ba Lan, với mái tóc mầu nâu hạt dẻ quàng chiếc khăn rằn dài, với cái nhìn mừng rỡ và nhân hậu, đang ngồi bên nàng: “Pani tỉnh rồi, uống tạm cốc sữa nóng nhé, để bác đi pha. Thấy thuốc đã đến xem và tiêm hồi sức cho cháu. Ông ấy nói cháu không sao đâu, cảm lạnh và suy nhược quá. Pani cần nghỉ ngơi, Iana nó sẽ về ngay. Nó phóng xe lên Radom cách làng đây năm mươi cây số mua xúp Việt Nam cho cháu, tiện thể mua cả các đồ ăn châu Á khác, nói về trước chín giờ. Ở đấy có hai quán ăn Việt Nam và cả mấy quán ăn Trung Quốc nữa”.
Hương khẽ ho rồi nhìn bà mẹ Ba Lan quàng chiếc khăn rằn với ánh mắt xin lỗi lẫn biết ơn. Ánh mắt của bà cùng với nụ cười nhân hậu đáp lại nàng một cách trìu mến làm sao. Còn một đôi mắt nữa cũng đau đáu nhìn nàng dò hỏi. Đôi mắt mằu gio của một người đàn ông trong bộ quần áo bò thô sờn từ bức ảnh treo trên tường cạnh giừơng. Chắc đó là Iana mà bà mẹ vừa nhắc tới. Đôi mắt này nàng phải gặp ở đâu rồi, nhất định thế. Ở một phiên chợ quê nào, ở một chuyến tàu đêm muộn nào. Hương cau mày. Nàng không nhớ nổi. Đôi mắt màu gio vẫn không rời khỏi nàng. Hương lại thấy mệt.
Nàng nhắm mắt lại để tránh đôi mắt của người đàn ông, để lại thả mình vào trong cái bóng tối bồng bềnh chơi vơi. Nàng cũng không hiểu tại sao cái cái bóng tối đó cứ chuyển động, lúc xa, lúc gần, rồi lại xuất hiện những màu sắc, cả xanh, hồng lẫn lộn. Hương thở dài, nàng bỗng thấy có một cái gi đó sáng lóng lánh bay ra. Rồi cái ảo ảnh đó nó cứ rung rinh mãi, lấp lánh mãi chứ không rơi xuống như ngày nào nàng nhìn thấy từ chiếc máy bay ở sân bay Hà Nội lúc rời Việt Nam.
Bỗng có tiếng xe đi vào sân. Bà mẹ kêu lên mừng rỡ: “Iana về rồi”. Bà buông nhẹ tay Hương, đi ra đón con trai. Trong căn phòng nhỏ ấm cúng chỉ còn mình Hương. Chiếc đồng hồ báo thức để đầu giường khẽ tí tắc từng tiếng. Nàng bỗng nghe thấy tim mình sao lại đập rộn lên, nhanh vậy. Hương mở mắt, nhìn qua kính cửa sổ, ngoài sân trời đã tối mịt. Tuyết vẫn rơi...
Thay lời kết :
Đêm ấy, tuyết rơi rất nhiều, nhưng điều đó không làm cho tôi, người kể chuyện này, thấy lo âu về Hương, về số phận của nàng nữa. Tôi đã có được cảm giác yên tâm. Thế là hai nhân vật của tôi đã gặp nhau. Còn sự việc cụ thể tiếp theo thế nào chúng ta cũng chỉ biết qua lời cầu chúc của bà mẹ Ba Lan nói với họ: “Chúa sẽ phù hộ cho các con”.
Cũng có bạn đọc, mà cụ thể hơn là một nhà thơ nữ, biên tập viên của tờ báo mà tôi gửi đăng truyện này hỏi: “Thế cái vệt sáng mà hai nhân vật chính đó nhìn thấy là thật hay ảo ảnh?”
Tôi biết trả lời thế nào, mà thật lòng cũng không biết. Tôi chỉ có thể nói thêm là Iana rất thích món Flaki Hương nấu, món xúp mà bà mẹ Ba lan đã tận tình dạy nàng. Hương còn chế biến theo kiểu Việt Nam cho vị xúp mặn, đậm đà đó có thêm cả cay, cả chua lẫn ngọt nữa, hương vị quen thộc của món ăn quê hương nàng.
Lại có người còn băn khoăn: “Liệu Iana có hỏi Hương về cái ảo ảnh không?”. Tôi nghĩ rằng có thể có, có thể không, nhưng điều đó chẳng có gì quan trọng cả. Vì điều quan trọng hơn cả, như tôi đã kể ở trên, là họ đã gặp nhau.
CÂU THƠ KHÔNG DỊCH NỔI
Rạ ơi sao thế lạnh lưng
Hay là rạ nhớ người dưng mất rồi
(Dân ca)
Thế là tôi đi Cẩm Phả dạy lớp đại học tại chức thay cho Hùng bị ốm. Hùng còn cố dặn dò tôi qua điện thoại, giọng vẫn khản đặc:
- Anh nhớ mang theo bộ câu hỏi trắc nghiệm và phát cho sinh viên tham khảo trước. Có thế lúc nghe giảng họ mới theo dõi, hiểu được bài chứ không thì lơ mơ lắm. Lên lớp cả ngày, tối có thể ra phố, mạn gần bưu điện ấy, đủ mọi dịch vụ cho anh chọn. Các em vùng than mà lại không đen chút nào đâu. Hoa hậu cũng là con gái Quảng Ninh đấy nhé …
Tôi và Hùng đang tán gẫu qua điện thoại thi vợ tôi xen vào, giọng quan trọng.
- Cẩn thận chứ vùng Quảng Ninh là nghiện hút, tệ nạn nhiều lắm. Anh nhớ đừng có ăn uống linh
tinh, cứ mải vui, ham của ngon vật lạ rồi hối không kịp.
Tất nhiên vợ tôi cũng chỉ dặn dò theo thói quen như dặn cu Minh đi học xong phải về nhà ngay thôi chứ nàng quá hiểu tôi cùng với những thờ ơ và đam mê riêng có trong con người tôi. Xét ra thì những cái tật đó nó cũng vô hại, ít nhất ở tuổi này. Vợ tôi chấp nhận nó cũng như đã chấp nhận tôi. Ở trường tôi cố giống và hoà lẫn vào mọi người. Có mỗi một lần họp bộ môn cô thư ký mượn bút xoá, lôi trong cặp của tôi ra tập thơ của Blok1 làm tôi cứ phải thanh minh mãi là sách học của con gái nhờ phô tô, bởi ở đây, thơ là một cái gì hơi thừa và đáng ngờ. Phần đông các đồng nghiệp của tôi không đọc thơ từ lâu và họ chẳng thấy thiếu gì hết lại tránh được phiền toái. Đôi khi tôi muốn kể với mọi người rằng Gauss2 (nhà toán học Đức) thú nhận là Puskin cho ông ta nhiều ý tưởng toán học hơn là Pascal3 (nhà toán học Pháp), nhưng lại thôi vì đã kịp nhớ lại chuyện thời sinh viên còn học ở Kharkov Liên Xô.
Mùa đông năm đó chúng tôi được đến thăm thành phố Tbilixi trên vùng núi Capcaz.
Máy bay hạ cánh lúc nửa đêm, mọi người mệt lạnh đi ngủ ngay. Buổi sáng tôi dậy sớm và nhìn qua cửa sổ, tuyết trắng xoá. Giữa thành phố là một ngọn núi to sừng sững. Tôi ngẩn người ra trước điều kỳ diệu đó – tôi đã nhớ ra rồi. Trên đó có mộ của một nhà quý tộc Nga, bạn của Puskin, của tự do và Những Người Tháng Chạp4. Nga Hoàng đã biệt phái chàng sang Iran làm đại sứ để việc ám sát chính trị đỡ ồn ào. Chàng còn một người vợ trẻ mới cưới, con một công tước Grudia mà nhà quý tộc Nga làm quen trên đường đi xuống phía nam. Được tin chồng bị giết, nàng đã khoác áo tang lên đường, sang tận Teheran xa xôi mang xác về an táng trên ngọn núi Tbilixi. Người ta gọi đó là ngọn núi tình yêu và vách đá ở đầu mộ có khắc câu thơ của người vợ trẻ khóc chồng. Câu thơ tôi gặp và đọc được từ những lúc mới sang Liên Xô, còn đang trong năm học tiếng Nga. Tôi đã khóc rồi gắng thử bao lần mà không dịch nổi nó ra tiếng Việt, chỉ có thể giảng giải nghĩa xuông thôi. Có một cái gì đó giống như tiếng gọi từ tiền kiếp thôi thúc tôi leo lên đỉnh núi đó, đến với ngôi mộ, với bài thơ.
Thế là trong lúc mọi người còn ngủ tôi đội tuyết ra đi. Đến gần trưa tôi về, tay xách túi bánh mì và mấy hộp sữa mua ở cửa hàng dưới nhà thì có người hãy còn ngủ, một số đã dậy và xúm lại chơi bài rồi. Chỉ có Dân tinh mắt hỏi tôi sao mặt lại bị xước. Tôi như còn đang trong mơ nên đã chỉ lên đỉnh núi và kể lại mọi chuyện. Thấy vẻ mặt Dân nghiêm trọng, là lạ tôi thấy ngại, không yên và nói chuyện cẩn thận hơn. Tưởng mọi việc qua đi thì năm sau tôi bị loại trong đợt xét ở lại làm chuyển tiếp sinh vì có chuyện trong lối sống. Mãi nhiều năm sau nữa tình cờ tôi mới biết chuyện đó liên quan tới ngọn núi Tbilixi đó. Tôi đã không dậy muộn buổi sáng, không chơi bài, không giống mọi người. Nhưng thôi, người ta không thể mất những cái gi mà mình chưa có. Tôi an ủi mình mãi, quen rồi thành thờ ơ với những cái chưa có đó.
Đến Cẩm Phả, buổi chiều sau giờ lên lớp, trong lúc chờ cơm tôi đi dạo lên phố mạn bưu điện. Cạnh ngay trường cũng có máy điện thoại nhưng tôi tranh thủ đi bộ vậy. Gọi điện xong trên đường về tôi còn được hưởng cái nhấm nháp lại cuộc gọi và những giọng nói của vợ con từ Hà Nội. Hải, giáo viên trường Giao Thông đến dạy môn cơ lý thuyết thì nằm trong phòng xem vô tuyến chờ tôi về ăn cơm chiều. Hải không gọi điện bao giờ. Sau tôi mới biết vợ anh ấy sống bên Đức, mang cả con đi theo. Hải chỉ còn một mình ở Hà Nội.
Anh chàng khá đẹp trai có cái miệng cười hiền, chỉ đôi mắt mặc dù đã nấp sau cái kính trắng vẫn lộ ánh buồn. Nhưng tôi thích đôi mắt đó, nó nhìn thẳng. Đôi mắt của người Đức Thọ Hà Tĩnh. Tùng, người bạn cùng thời sinh viên của tôi, sau khi tốt nghiệp nhập ngũ, đã hy sinh, cũng có đôi mắt ấy. Cũng có thể vì lẽ đó mà Hải đã chiếm ngay được cảm tình và sự cảm thông của tôi. Nhìn người đàn ông tuổi sửu, độc thân, đã thế tóc lại xoăn tít, tôi thấy ái ngại. Nghĩ cho cùng mình có quá nhiều so với anh ta - học vị, vợ con, bình an. Mà cũng còn nhiều người vất vả hơn chứ. Ông Am bên hoá hôm nọ khập khiễng đến chào bộ môn, đã qua cơn tai biến mạch máu não, đã làm xong thủ tục nghỉ hưu mà vẫn phòng không như ngày nào ra Hà Nội. Mỗi người chúng tôi được tặng một tập thơ mới in, tập thơ với tên gọi Tình Yêu. Nghe nói vẫn còn hơn năm trăm cuốn ông mang về quê. Ở Hà Nội hết người để tặng.
Đang nằm dài trên giường sau bữa cơm chiều, miên man với những ý nghĩ vẩn vơ thì Hải vào gọi dậy:
- Đi dạo uống nước đi anh. Hôm nay nhà bếp cho ăn mặn quá. Cá cũng mặn, canh như múc ở đáy nồi ấy, lại càng mặn. Ra quán cô Liên ngồi uống nước cho thoáng vậy.
Đường phố Cẩm Phả có hè rất rộng, nhiều cây và khá yên tĩnh so với Hà Nội. Quán cô Liên cũng vắng, cà nhà lại đang ăn cơm, chỉ có hai chúng tôi ngồi uống cà phê dưới gốc cây ngoài vỉa hè. Trong nhà có tiếng ngâm thơ vọng từ cái đài bán dẫn ra. Tôi vào chuyện, vừa rất thận trọng, muốn để chuyến đi dạy tỉnh xa này sẽ còn là một kỷ niệm dễ chịu, ít ra thì không làm mất lòng những người tôi gặp:
- Lâu quá mới có được cảnh yên tĩnh thế này, trăng đẹp, lại nghe thơ nữa chứ. Ở Hà Nội nhà tôi có đài nhưng chẳng bao giờ mở, hai đưá con chỉ bật mỗi phần đĩa nhạc, đĩa hình, suốt ngày, mất hết thời giờ.
- Thơ hay mà nghe ngâm, nghe bình thì tệ quá, làm mất hết cái riêng, cái thực, bài nào rồi cũng giống bài nào. Ngay nghe người khác đọc cũng đẫ mất đi ít nhiều thơ rồi, phải đọc trực tiếp bằng mắt, nó khác lắm – Hải trầm ngâm thở khói thuốc rồi nhận xét.
Tôi chợt nhớ đến kỷ niệm với câu thơ Nga khắc trên núi đá ngày nào, im lặng nghĩ thầm: “dù sao mình không chỉ đọc mà còn sờ thấy nó nữa”. Thấy vẻ mặt bỗng đăm chiêu của tôi Hải im lặng, dụi điếu thuốc đi. Tôi sợ Hải hiểu lầm lên tiếng:
- Đọc được thì tốt quá rồi nhưng mỗi tuổi mắt kém đi, ngại đọc. Có ai đọc cho nghe cũng tốt. Với lại nhiều bài thơ được phổ nhạc hay bao nhiêu, những bài thơ mùa thu ấy.
- Thế nếu chỉ chọn một bài thơ, không, chỉ một câu thơ anh thích nhất chọn câu nào? -Hải đưa câu hỏi đột ngột .
- Một câu thì khó quá. -Tôi lúng túng, trong đầu điểm qua cái vốn nghèo nàn của mình về văn thơ Việt Nam. Thơ nước ngoài không được, Hải tốt nghiệp trong nước. Bỗng dưng tôi nhớ đến hồi còn học ở Liên Xô năm xưa, Tùng hay kể chuyện cho tôi về Hà tĩnh, về cá rô tháng mười, đã có lần đọc cho tôi câu thơ mà cứ nghe xong tôi thấy nao lòng. Thế mà cho đến nay tôi vẫn chưa một lân về Đức Thọ thăm mộ Tùng, chưa biết vị ngọt của cá rô quê Tùng. Câu thơ đến bây giờ tôi mới nhớ. Tôi nhìn Hải một cách biết ơn và khẽ đọc:
Hết mùa rạ tóc rơm khô
Rồi ngừng lại nghe Hải ngắt lời đọc tiếp, giọng thuốc lá trầm ấm:
Bậu về quê bậu biết mô mà tìm
- Sao lại trùng hợp vậy. Đó là câu thơ tôi thích nhất, nó theo tôi mãi – Hải nói, mắt nhìn xa xa.
Tôi ngửa cổ lên trời nhìn ánh trăng lọt qua kẽ lá. Một tiếng thở nhẹ dài, chắc là anh bạn này cũng đang nhớ đến ai đó, mà sao vợ anh ấy lại bỏ nhỉ, đi tìm kiếm cái gì ở xứ người. Tôi gợi:
- Theo anh thì câu thơ nó hay ở chỗ nào, nó hơn Nguyễn Bính, Thế Lữ hay Trần Mạnh Hảo ở đâu.
-Vì nó đi đến cùng của cái thực rồi, nó là tiếng nói của lòng, nó không phải sáng tác nên không bình giảng chứng minh hay phân tích gì được. –Hải nói chậm rãi.
- Và không dịch được – Tôi reo lên. Đến bây giờ, sau bao nhiêu năm tôi mới hiểu vì sao tôi không thể dịch được câu thơ Nga khắc trên núi đá. Tôi nhìn Hải thầm cám ơn, một buổi tối mùa thu trong trẻo. Sáng mai phải dậy sớm ra gọi điện về Hà Nội. Tôi bỗng thấy nhớ Hà Nội quá. Mấy hôm nữa về Hà Nội, vẫn còn thu. Phải đưa cả nhà đi dạo chơi thôi. Ngửng lên thấy trời đêm êm dịu quá, trăng vẫn sáng .
NGOÀI MIỀN PHỦ SÓNG
Vì sao thời gian, giây phút cứ đi cùng
Với xáo động và bất an vô ích?
Trên đời này, có điều gì không mất
Ngày hôm nay sẽ hết lúc sớm mai.
(thơ Szymborska)
Một đại gia của ngành vật lý hiện đại, nhà bác học người Đức Heisenberg đã có tham vọng thống nhất các phe khác nhau trong vật lý, nhất là hai trường phái Thái Sơn - Bắc Đẩu (Thuyết Tương Đối của ông Einstein1 và Thuyết Lượng Tử của các ông còn lại) vào chung một cái gọi là Lý Thuyết Trường Thống Nhất. Một điều kỳ lạ khó tin là minh chủ vật lý Alber Einstein lại không thấy lăn tăn chống đối gì mà cụ lại khuyến khích cái ý tưởng ngỗ ngược đó. Trước khi nhắm mắt, vĩ nhân còn thốt ra lời tâm sự cuối cùng rằng người ân hận là Thuyết Tương Đối của mình mang lại cái hại nhiều hơn cái lợi cho loài người và giá như không có nó... Bởi vì nếu bớt các fan cuồng nhiệt thần tượng cụ và cái lý thuyết mang tên cụ thì loài người có thể còn tiến xa hơn về vật lý. Einstein ủng hộ ý tưởng về trường thống nhất của Heisenberg bằng việc cụ chỉ dùng có một loại xà phòng để tắm, gội đầu, cạo râu…v…v. Cụ chỉ không đánh răng bằng nó vì thống nhất từ kem với từ xà phòng còn là vấn đề của các nhà ngôn ngữ.
Đấy là chuyện của người xưa. Biết rồi mà tôi vẫn giật mình khi nghe quảng cáo là người ta định cho mọi cảm giác đáp ứng tình cảm của chúng ta vào một cục nhỏ bỏ túi. Tất nhiên là các nhà ngôn ngữ lại có việc cấp bách là lo đặt tên mới cho nó một cách đàng hoàng, có cơ sở chứ nếu gọi cái vật thống nhất đó là di động như bây giờ thì có vẻ hơi linh động quá.
Bắt đầu từ lúc ngồi uống nước chờ xe đến đón ở văn phòng khoa, sau đó trong ô tô, cuối cùng là trên thuyền giữa hồ nước mênh mang câu chuyện cứ như pháo rang về mọi chủ đề khác nhau, từ “Gái Nhảy “ đến “Tuyển Sinh Đại Học”, từ “Gặp Nhau Cuối Tuần” đến “Lý Thuyết Mờ”… nhưng rồi vẫn cứ trở về, xoay quanh cái di động đó. Mà làm sao khác được vì khi vị giáo sư đầu đàn họ Nguyễn đang giải thích cho mọi người về nguyên lý đi ngược chiều của thuyền buồm và hiệu ứng Doppler2 thì tiếng nhạc trong túi ai đó lại cất lên. Cứ vậy “ăn chưa?”, “ngủ chưa?”, “đang ở giữa hồ!”, “bận lắm nhưng nhớ rồi, không quên đâu!”… những cuộc đàm thoại cứ những đợt sóng dưới thuyền, sóng này tắt, sóng kia xuất hiện.
Trong số mười hai người kể cả khách của bộ môn chỉ có tôi là không có di động, suốt ngày toàn ở thư viện, phòng thí nghiệm, ở nhà, máy bàn, máy tính luôn có bên, loanh quanh đã có cái cục nối dài cầm theo, mấy khi đi xa (kể chuyện đến đây quả thực xấu hổ vì tôi còn chưa biết tắt nó như thế nào khi mượn máy gọi nhờ về nhà hỏi cậu con trai đã đánh răng chưa, đã đọc thư ba để trên bàn về bữa trưa và bài tập phải làm chưa). Vì thế lúc thuyền lướt trên hồ Núi Cốc quay trở về tôi đã thuộc lòng các bản nhạc di động, cứ khi giai điệu nào cất lên tôi gọi đúng tên chủ nhân của nó. Mọi người phục lắm. Tôi nhìn mọi người mà phục lại. Cho dù là các nhà khoa học, các vị giáo sư nhưng trông họ sành điệu có kém gì những sao Hàn Quốc đâu, lại rất thật nữa, hệt như câu khen cửa miệng của người mê phim Hàn Quốc bây giờ là “rất đời thường”. Thế mà mấy ông làm phim nước ta lại định thống nhất cái giới khoa học này vào một vị nghệ sỹ ưu tú nào đó trông rất là “Người mẫu giáo sư”. Ông này hình như chỉ chuyên đóng vai các loại giáo sư, thường là giáo sư ngành y vì các kịch bản về thày thuốc được viết nhiều nhất, đóng cả giáo sư nông học, cả giáo sư toán nữa chứ. Cứ thấy ông ấy xuất hiện trên vô tuyến là biết ngay sẽ có một anh sinh viên nào đó đang ở hoàn cảnh khó khăn và vị giáo sư sẽ giúp đỡ tận tình theo một giáo trình chuẩn, một kịch bản chuẩn. Lại thấy một vẻ đăm chiêu, một dáng đi trịnh trọng, một kiểu nói nắn nót thống nhất và… vẫn chưa thấy dùng điện thoại di động. Đúng là
Đêm nằm nghĩ mãi mới ra
Tại sao ông ấy lại là giáo sư
Cũng có một lần khi thuyền men gần vào bờ hồ tôi bỗng buột miệng reo lên: “Cò kìa”. Mọi người dừng điện thoại quay lại, không phải để nhìn theo cánh cò bay trên trên những lùm cây mà để giải thích cho tôi là thịt cầy hương và nhím mới ngon và đó mới là thực đơn của chúng tôi chiều nay. Có bổ sung thêm thì gọi cá tươi ở hồ và rau bò khai mọc ở núi đá. “Cũng may cho mày đấy cò ạ!” - Tôi chợt nhớ lại mang máng câu thơ của ai đó mà tôi đọc được trên báo:
Chỉ thấy cò bay trên giấy.
Chỉ thấy cò bay trong thơ.
Hôm nay đi chơi trên hồ,
Thấy cánh cò bay, ngẩn ngơ …
Có lẽ trong suốt ngày hôm đó nơi hồ trên núi này chỉ có một lần duy nhất các cái cục di động đó không có tác dụng là khi tất cả đi tắm hơi và vật lý trị liệu. Quả thực tôi ngại lắm nhưng mang tiếng là một phó tiến sỹ của Liên Xô, đã không có cái di động lại còn không biết mát xa trị liệu là gì thì ai thông cảm được nhất là khi tiến sỹ, giáo sư cứ được sắc phong ầm ầm, phủ sóng khắp nơi. Tôi đành cầm lấy cái vé mà cậu Vượng phụ trách công đoàn phát cho từng người rồi nhắm mắt bước vào. Lúc đó tôi bỗng chợt nhớ đến lần đi thăm trại tập trung Auschwitz2 ở Ba Lan xưa, vào xem nhà tắm hơi ngạt. “Đồ ngớ ngẩn, thế mà cũng gọi là trí thức”. -Tôi thầm mắng mình, xua cái kỷ niệm đến không đúng lúc đó đi rồi giận lây ngay cả sang các chàng Hamlet4 và Don Quixote5 thời nào cứ trú ngụ đâu đó trong tôi.
Khi xông hơi và tắm xong tôi ấn nút báo hiệu rồi nhắm mắt, lên giường nằm xấp ngoan ngoãn như một cây đàn. Bàn tay của cô gái tóc ngắn mặc blu trắng cứ như dạo những nốt nhạc dịu êm trên người tôi, xoa đi những lo âu vớ vẩn, rồi lại đánh thức những hồi hộp, khắc khoải khác trong tôi. Những hoài mộng và thất vọng hoà trộn với nhau cùng trở về không. Tôi lại lạc vào cõi Quên rồi …
Xong việc, ra ngoài vườn ngồi uống cà phê, tôi ngượng quá khi nghe các giáo sư khoe tiền boa riêng cho các em và khoe các em nữa… “Mình thì nhìn còn chẳng dám, cứ im bặt như thằng ngốc, nói chi đến boa. Mình lạc hậu quá, không theo kịp thời đại rồi”- Tôi thở dài nghĩ thầm.
Buổi tối trong khách sạn, có lẽ vì lạ nhà, lạ cái điều hoà với cửa phòng cứ đóng kín mít hay vì không quen uống cà phê nên tôi thấy khó ngủ. Lại thêm ông Thân nằm giường bên sau khi làm mấy cuộc điện thoại đi mọi miền đất nước chúc ngủ ngon, rồi giơ tay lên đánh vào má của mình đến đét một cái. Tôi hỏi:
- Có trúng không?
- Trượt.
- Giá như nhà sản xuất cho cái di động thêm phần âm thanh đuổi muỗi thì hay - Tôi nói tiếp, nhớ lại cái nguyên lý máy đuổi muỗi bằng âm thanh ngày xưa.
Không thấy tiếng ông ấy đáp tôi đâm ra lo lắng. Chết thật, bây giờ đến lần mình, tôi nằm yên chờ con muỗi đến đốt để đánh. Mãi nó không đến. Nó cũng như giấc ngủ của tôi, bị lạc đâu mất rồi. Tôi sợ đêm dài quá. Tôi sợ nhớ đến Hà. Bên Đức giờ chắc chỉ tám giờ tối. Tôi không nghĩ Hà nhớ đến tôi, nhưng liệu nàng có nhớ đến con trai mình không, có mất ngủ không. Thôi đi, tôi mắng mình, quay ra nằm sấp. Lại như có bàn tay của cô gái xoa nắn trên vai lưng lúc nãy. Tôi thở dài cố xua cái cảm giác đó đi, thở sâu, chậm, trở mình đi tìm giấc ngủ. Cuối cùng tôi như thấy giấc ngủ của tôi trên cánh cò trắng dập dờn soi bóng nước chiều rồi bay xa, khuất sau lưng đồi thông ven hồ. Tôi bay theo, đuổi đến tận dãy núi Tam Đảo mờ xa có hình nàng tiên vẫn còn xõa tóc gối đầu lên mây ngủ. Tôi đòi nàng trả lại giấc ngủ. Cứ thế tôi bồng bềnh trong mây, ngủ thiếp đi trong chuyện cổ tích xưa mà cô gái hướng dẫn viên du lịch kể chiều nay trên thuyền. Tôi lại lạc vào ngày xưa, thời mà chưa có máy tính với cái cục di động đó.
Sáng hôm sau chúng tôi đi thăm Thuỷ Cung, chợ Tình và các quầy lưu niệm. Mỗi người mua một cái áo thổ cẩm mặc vào luôn để chụp ảnh. Ông Thân mải nói điện thoại với vợ nhờ tư vấn kiểu mẫu, gía cả cho chính xác để còn mang về làm quà nên đến lượt thì mọi người đã mua hết màu đẹp rồi. Cô bán hàng sợ mất khách chạy sang quầy bên ôm một đống về cho mình ông chọn mặc thử giữa sự trầm trồ của chúng tôi và những khách hàng khác. Khi đã mua sắm xong xuôi, trả tiền, chúng tôi mệt quá định đi uống nước, ông Thân rờ tay vào thắt lưng định lấy di động gọi về Hà Nội báo cáo thành tích thì… ôi thôi… chỉ còn mỗi cái bao không, hở toang hoác. Cái Nokia hơn mười triệu, cái cục thống nhất mọi đáp ứng về giải trí, cảm giác, trí tuệ, cả truy cập tức thời lên mạng toàn cầu, chụp và gửi ảnh, đã mất tự bao giờ.
Thế là thời giờ còn lại của chúng tôi trong khu du lịch hồ Núi Cốc sơn thuỷ hữu tình này là dành cho một kịch bản có cả diễn xuất luôn, cứ như trong phim hành động. Tới tấp những cuộc trao đổi với đầu dây bên kia, những đàm phán, đề xuất, điểm hẹn và mặc cả cho việc chuộc lại cái Nokia. Trò chơi ú tim qua di động đến bốn giờ chiều thì mất tín hịệu liên lạc. Mọi phương án đành dừng lại, thay vào bằng chờ đợi. Có vẻ chiều tối sẽ mưa. Chúng tôi lên xe về, không quên gửi một tin nhắn đầy tính xây dựng và khả thi cho mấy kẻ khủng bố kia. Trên xe, lần lượt tiếng nhạc của các cục di động thay nhau cất lên và tôi lại gọi tên các chủ nhân của nó ra không sai chút nào. Chỉ có giai điệu buồn man mác của Chopin là không thấy cất lên nữa. Tôi cảm thấy thiếu thiếu một cái gi... Xe vừa chuyển bánh tôi thấy một ánh mắt nhìn theo bên đường, mái tóc ngắn. Tôi bỗng như lặng đi. Có phải cô gái ấy tối qua không! Xe bỗng xóc chồm lên rơi mấy thứ lủng củng xuống sàn, mọi người đều lắc lư. Không còn thấy bóng cô gái nữa.
Lại nói tiếp về bọn khủng bố, những kẻ đang bắt giữ cái nguồn cảm giác và các tín hiệu ra vào của giáo sư Thân. Chúng chỉ nhận tín hiệu, nhắn tin và nghe chứ không chịu trả lời nữa. Bác Sơn gọi cho chúng thân mật, âu yếm như người quen cũ mà chúng vẫn không đáp nửa lời. Bác ấy nói:
- Một đôi nam nữ các ông ạ. Tôi còn nghe thấy tiếng sóng nữa, hình như chúng đang giữa hồ.
Cái di động của ông này ghê thật, tôi nghĩ thầm. Còn ông Lân vội bật lên ngăn cậu Vượng đang định thử cái Samsung của mình:
- Thôi đừng gọi nữa, nghe giọng khác nhau nó sợ, lại vứt bố xuống sông là xong.
Bác Sơn nói có vẻ đúng đấy, có thể bọn khủng bố này là một đôi thật. Lúc ăn trưa tôi thấy có có một cô, một cậu ăn mặc đầu tóc như trong phim Hàn Quốc vào mua nước. Tôi để ý tới mái tóc nâu ngắn của cô ta vì cái đài pin tôi tôi mang theo lúc đó đang phát theo yêu cầu thính giả bài “Họa mi tóc nâu” qua tiếng hát Mỹ Tâm. Cô gái đó có đáp lại cái nhìn của tôi, nhưng mà nhớ lại mới thấy chúng tôi rất oai phong lẫm liệt làm sao: máy ảnh, camera, ống nhòm, lại thêm ông nào ông ấy đang nháy tứ tung các cục di động và phó giáo sư Kỳ lực lưỡng trong cái áo thổ cẩm nền đen, với cặp kính dâm đen xì vì bị đau mắt, trông cứ như là vệ sỹ hay thám tử tư thì chúng sợ hết vía, cẩn thận là phải.
Không thu được các tín hiệu đáp lại của đầu dây bên kia, các nhà khoa học chúng tôi tham gia vào chủ đề công nghệ cao chống khủng bố máy tính và di động do giáo sư Lạc khởi xướng. Mọi người say sưa đưa ra những ý tưởng mới cho cái di động của tương lai hay là cái sắp tới của ông Thân. Nó phải thông minh hơn, phải biết phân biệt chủ với người lạ, kẻ gian… v…v. Hết lượt mọi người nói, tôi rón rén bổ sung liền hai ý tưởng là cho cục di động thêm tính năng đuổi muỗi và nghe đài. Mọi người chê là công nghệ này thấp quá, quê mùa nữa, nhất là bây giờ ai còn nghe đài. Tôi chịu và bổ sung thêm cho chủ đề chống khủng bố là làm một cặp song sinh, một di động thật, một cái bề ngoài giống hệt nhưng chỉ là cái đài pin rẻ tiền, đeo ở hai bên hông thắt lưng hay cạnh nhau tuỳ ý. Như vậy sẽ tăng độ an toàn chống mất cắp lên hai lần, giảm xác suất mất cắp xuống một nửa. Mọi người nghe xong phì cười. Bác Sơn quay lại bảo:
- Người ta đang tiến tới công nghệ cao, chứ lại ai lại như chú ấy. Đúng là ăn quá nhiều cơm tây, ở tây quá lâu rồi thành chẳng khác gì Nga ngố. Thảo nào về Việt Nam, vẫn cứ chỉ hai bố con, vẫn mãi cũng không được phong cái phó giáo sư, vẫn cứ ngoài miền phủ sóng.
Tôi cười ngượng nghịu rồi nhìn qua cửa kính. Xa xa trên dãy núi xanh ngắt buổi chiều hình nàng tiên đang nằm ngủ. Chắc em cũng ngoài mìền phủ sóng như tôi
BỨC TRANH THƠ
Thi phú suốt đời, vô ích thật
Sách đàn đầy giá, có ngu không!
(thơ Nguyễn Du)
Sau tết tôi nhận được nhiều quà thơ. Có người in được nhiều, tặng tôi dăm bảy cuốn. Tôi mang thơ đi làm quà tiếp, lộc bất tận hưởng mà. Tuần trước xuống thăm anh Ngữ tôi mang đi hai tập, một là của nhà thơ kiêm tiến sỹ kiêm đại tá, người kia là doanh nhân thì lúc về có cả một túi thơ, ngót nghét gần chục quyển. Anh Ngữ năm ngoái đi dạy tại chức ở Nam Định. Ở đấy có nhiều hội thơ lắm. Về nhà tôi dở từng tập của tác giả nữ ra xem, chủ yếu là ngắm nghía ảnh các cô in ở bìa cuối hoặc bìa đầu, địa chỉ, rồi mới xem các bài thơ. Không, tôi không đọc thơ mà cứ như đang đi tìm thơ, tìm người. Cũng có mấy cô trông hấp dẫn nhưng trong tập thơ không tìm được bài nào dành cho tôi cả, cho riêng tôi. Tôi cũng có lúc làm thơ, làm như ăn vụng vậy. Sợ nhất lúc đó có người nhìn thấy. Mình thì chẳng bao giờ nhận thấy vẻ mặt của mình cả, hình như nó chẳng giấu được gì, nó khai hết. Dù sao trong lòng tôi vẫn có những khoảng trống cần được lấp đầy, những bãi hoang khô nứt cần được ai đó tưới nước. Và ở đó thơ như những bông hoa gai dại lại mọc lên, ai đó hái, ai đó lại chảy máu...
Lâu rồi tôi không làm thơ, không có cảm hứng, không có người để tặng. Bài thơ cuối cùng tôi làm riêng cho mình lúc rời Thành phố Hồ Chí Minh, kết thúc đợt dạy về môn Đàn hồi kỹ thuật cho khóa cao học trường Bách Khoa. Tôi đọc lúc em đi tiễn tôi ở sân bay.
Chưa viết Thơ trong Người
Viết rồi Người trong Thơ
Trời đùa cho chút mộng mơ
Neo mình những lúc dại khờ cuồng si.
Em khóc. Em đã có hai bài thơ tôi dành cho em, một chiều ở Thủ Đức, một sáng ở Đà Lạt. “Anh có cuồng si đâu, anh chỉ biết cuồng điên thôi” - Em nhìn tôi bằng đôi mắt đẫm ướt đầy giận hờn. Ra Hà Nội hai tháng sau tôi nhận được thư. Em lấy chồng. Hai bài thơ không đủ. Có lẽ bao nhiêu thơ cũng không đủ. Chỉ thơ thôi không đủ. Từ đó tôi không nhận đi dạy xa ở miền Nam và tự hứa với mình không làm thơ nữa. Tôi học Thiền...
Hôm nay trong lúc ngồi ở hội đồng chấm luận án thạc sỹ kỹ thuật tôi nhận được tin nhắn của họa sỹ Lê Thiết Cương: “Mời anh 6 h chiều hôm nay đến dự buổi đọc thơ của Nguyễn Hoàng Đức tại 39 Lý Quốc Sư”. Tôi không nhớ đã gặp họa sỹ Cương ở đâu. Còn Đức, tôi có gặp đôi lần ở nhà bạn bè, ở quán nhưng tôi nhớ rằng anh ta là nhà triết học vì câu chuyện có lúc dây sang triết học. Lúc đó thì Đức hùng hổ lắm, cứ như không biết mình đang ở đâu, người xung quanh đang nghĩ gì. Thật đáng ghét. Tôi phải đầu hàng ngay. Tham quá. Tham Sân Si mà. Đây lại là tham Đúng, tội nặng nhất rồi. Mười phần đúng bảy tám. Cho người ta đúng với một chút chứ. Thế giới này đâu có được tạo ra bởi Logic đúng sai của Aristot1. Khác hẳn là lúc anh ta chơi dương cầm, rất mơ màng, cũng không biết đến ai, nhưng lại rất đáng yêu. Thôi, cũng là cần có cái cớ để quên đi, xua đi những nhận xét khen chê, đấm xoa, sáo rỗng lặp đi lặp lại ở hội đồng bảo vệ cao học hôm nay và cũng để lên bờ hồ, xem phòng tranh của họa sỹ Cương mà Khánh nhiều lần nhắc đến....
Tôi ngắm phòng tranh, bé quá, khác biệt có rồi đây. Tôi đã quen với các Galerie, các phòng triển lãm có những không gian rộng mở để có thể lùi dần ra xa nhìn ở những khỏang cách và góc độ khác nhau. Lần ở bảo tàng Weimar tôi đã đứng thần ra ngắm bức tranh vẽ vườn hoa có Bethoven2 đi dạo với vẻ mặt hằm hằm giận giữ đầy khinh bỉ và
Goethe3 đang tiến lại với nụ cười đon đả nịnh bợ. Bethoven từ chối vương triều Weimar còn Goethe lại phục vụ cung đình vì cho rằng nếu ông ta cũng bỏ đi thì mọi thứ đã tệ lại càng tệ hơn. Vĩ nhân mà, họ luôn có lý, kể cả có cái lý của sự vô lý. Lùi ra xa tôi thấy Bethoven đỡ hằn học hơn và hình như họ còn chào hỏi nhau nữa. Thuyết tương đối Einstein4 thật bao dung và nhiều đồng cảm với đạo Phật của hòa thượng Thich Nhất Hạnh5.
Chỉ cần thay đổi cách nhìn
là bao vẻ đẹp muôn hình hiện ra
Tôi chọn ngồi góc nhà, xa khuất, khó thấy diễn giả, nhưng an toàn, cần rút lui cũng dễ. Cũng như đi Karaoke, đi khiêu vũ ấy, ngại nhất là gặp người quen. Hai bên đều khó xử. Hơn mười năm trước tôi đã phải biện hộ với con gái về những bài thơ của mình
Ba ơi sao lại làm thơ
Thời này ai có dại khờ ngồi nghe
Con ơi lắm kẻ ngây si
Ba trong số đó có gi lạ đâu
Tun à, Ba không trong số đó nữa đâu. Ba đến đây cũng chỉ lần đầu thôi - Tôi nhớ con gái và lại tự biện hộ với mình. Còn ở nơi làm việc, tôi đã giống và hoà lẫn vào mọi người. Có mỗi một lần họp bộ môn, cô thư ký mượn bút xoá, lôi trong cặp của tôi ra tập thơ của Blok làm tôi cứ phải thanh minh mãi là sách học của con gái nhờ phô tô, bởi ở đây, thơ là một cái gì hơi thừa và đáng ngờ. Phần đông các đồng nghiệp của tôi không đọc thơ từ lâu và họ chẳng thấy thiếu gì hết lại tránh được phiền toái...
Tôi nhắm mắt ngồi chờ sự kiện. Hai tay xòe ngửa trên đầu gối, thẳng lưng, thở ra hít vào thật sâu nhưng đầu cứ nghĩ lan man, không tập trung, không tụ được khí ở Đan Điền. Thơ mà, nó có phải cái neo cho Tâm đâu. Mới trước tết tổ dân phố phường Yên Hòa, nơi tôi có miếng đất cho thuê, gửi giấy mời tôi xuống dự và đóng góp tùy tâm ủng hộ Câu Lạc Bộ khiêu vũ ra mắt. Ở đó tôi mới thấy sự thay đổi nhiều của cuộc sống ở cái Làng Cót xưa này. Chị em váy tóc đủ màu, các quý ông cũng vet đen, vet đỏ, giày đen, giày trắng. Sau những diễn văn chúc mừng và phong bì tài trợ của các quan chức, các đoàn thể của phường (tôi cũng phong bì gọi là, nhờ bác tổ trưởng dân phố đưa hộ) là đến lượt hội thơ. Thế là ông hội trưởng đọc bài diễn văn bằng thơ rồi lần lượt các hội viên lên đọc thơ của họ, vừa đọc lại còn vừa giải thích mới khổ chứ. Họ chẳng thèm để ý đến những tâm tư của CLB chủ nhà với những đôi nhảy nhấp nhổm, đôi chân ngứa ngáy.
Sau gần hai giờ chịu đựng thơ, một ông già có lẽ trên bảy mươi, áo xanh, quần và giày da đều mầu trắng đứng dậy bất ngờ đi lên và bật nhạc. Tiếng nhạc nhảy to hết cỡ. Mấy đôi nhảy ùa ra vừa nhảy vừa vẫy mọi người đứng lên dọn ghế. Mọi người cũng đứng lên tất cứu buổi khiêu vũ. Tôi nhận ra giọng hát của Alain Barier6 trong bài “Em bỏ đi rồi”. Tôi muốn hòa vào giai điệu Rumba7 đó, mời một cô mặc váy xẻ, nhưng cô ấy lắc đầu, quay mặt, rồi bỏ đi khỏi. Chắc cô ấy ở hội thơ và chưa kịp đọc thơ. Tôi thấy thương Thơ...
Ngồi chờ lâu quá, bỏ đi thì tiếc. Tôi cứ phải dỗ mình, tự hứa xong việc Thơ về sẽ đền mình bát phở ở hàng cuối phố Lý Quốc Sư. Mãi, cuối cùng một ông tự giới thiệu mình là chủ nhà họa sỹ Lê Thiết Cương lên cầm Micro khai mạc trong lúc khách vẫn lục tục kéo đến, lộn xộn chào hỏi, bắt tay, có lẽ được hơn hai mươi người và cũng đã chật hết ghế. Hầu hết khách đến là quen nhau. Qua cách họ chào hỏi, nói chuyện thì có thể thấy đây là những người quan trọng, nổi tiếng. Có một bà giọng khàn dạo này tôi hay thấy trên vô tuyến. Hồi xưa trên vô tuyến còn một bà tóc ngắn hay nói về thơ văn, cũng giọng khàn, lại là tiến sỹ gì đấy, lâu không thấy lên, không biết giờ làm gì. Ngồi cạnh tôi là một cô gái trẻ, cao, tóc dày nhuộm vàng, ăn mặc rất hot, cũng giọng khàn. Trẻ thế mà đã nổi tiếng, đã khàn rồi, có cả những Show Thơ, còn đi đọc thơ ở nước ngoài nữa. Bây giờ người ta thích nghe hát giọng khàn. Có cả một kênh vô tuyến lăng xê cô ca sỹ giọng khàn, cao, tóc cũng nhuộm vàng, hot. Cô này còn đóng cả phim. Không chừng truyền thông nhảy cả vào Thơ rồi mà mình không biết, cứ mải mê với cái thuyêt tiến hóa, tập mờ, thuật toán tối ưu, rồi lại với thiền, thật hâm quá.
Giọng họa sỹ Cương không khàn, cách nói bỗ bã thân mật như ở quán bia, thiện chí, bao dung, có vẻ lãng tử. Tôi thích. Đến lượt Nguyễn Hoàng Đức cầm Micro, trịnh trọng dáng chú rể, trước mặt là cái bàn con để hai tập đóng dày như luận án của cậu thạc sỹ chiều nay, đằng sau là tường có treo hình trái tim, vòng nguyệt quế và cây thánh giá to. Đức mặc áo vet sẫm, cái khăn phô la vàng nâu. Trông anh ta không giống một nhà văn. Nói là giống nhà thơ thì nó cũng thế nào ấy. Đại để là trông hiền, hơi tròn trịa kềnh càng. Cái miệng hiền. Nụ cười càng hiền. Cái nhìn cởi mở cũng hiền nốt. Nhưng thôi, cái này phải để cho các bà, các cô. Họ thạo hơn, vội hơn và cũng say sưa hơn với những đánh giá về phái mạnh. Tôi quay đầu một vòng tìm xem đâu đó có bóng dáng của cô nàng Caroline8 nào không, cái cô quý tộc đã chết say những buổi đọc thơ của của Byron9 ấy. Có lẽ không có. Trong phòng có mấy cô trẻ, giống như các cô giáo dạy văn, các cô nhà thơ, nhà báo với các quyển số ghi chép. Không ít trí thông minh được phát triển nhờ những buổi đọc thơ bình văn. Nói chung các cô này không gây cho tôi ấn tượng, cũng không được xinh bằng cái cô ở hội thơ Yên hòa nọ. Hình như cái mối liên hệ gữa các nhà thơ và các quý bà, tiểu thư đã không còn gần gũi như xưa nữa. Chắc các người đẹp đi chơi rong, đi nhảy hết rồi. Các nhà thơ nữ thì vẫn vậy, không có các quý ông đi kèm. Phái mạnh thì thích rượu, thơ chị em thì tỉnh táo quá, không say, không ngông, không điên mà cũng chẳng ngây. Khó nói lắm.
Đức bắt đầu nói, giọng nói say sưa, nói không biết đến ai, nói cho mình, nói với cái vô hình, không dè dặt, khiêm nhường. Có lẽ đó là tính cách của Trường ca. Cái khác có sẵn trong Đức, cứ thế tuôn chảy, không cần tạo ra. Có mấy nhà thơ, nhà văn rất tưởng như rất khác, nhưng sau khi tiếp xúc tôi thấy họ giống hệt nhau. Họ giống nhau ở cách biết quan sát người nghe, giống như những ca sỹ bây giờ ấy. Họ biết tạo ra cái khác để thu hút đám đông, biết tác động vào đám đông qua con đường lây nhiễm.
Giọng Đức đọc diễn từ lên bổng xuống trầm, thăng hoa với các lời lẽ rất Tây, khiến cho ai giàu trí tưởng tượng có thể cùng Đức “liên tưởng đến những Salon Thơ Văn ở Paris, ở đó không cần nhiều, nhưng mà những con người ưu tú hạt nhân đã tạo ra sự mở màn cho những tài năng lớn”. - Đức dừng lại nhìn mọi người với ánh mắt hân hoan rồi tiếp tục: “Và tôi hy vọng, tôi sẽ không phải sự thất vọng mà là một hạt mầm, một hạt men được hé cửa ở chính Salon mang đầy đủ những dấu hiệu hạt nhân này, trở thành một bóng dáng sừng sững giỡn gió thi đàn”.
Đức đã xua đi cái mặc cảm ban đầu của tôi là rất dị ứng với các bài khai mạc, giới thiệu giải thích, trình bày nguyên nhân, hòan cảnh, rào đón nhàm chán. Cái diễn từ này không phải là cô phù dâu cho phần sau là các bản trường ca mà nó dành cho nó,
các khoảnh khắc là của nó. Phần sau sẽ tự lo lấy. Cái đẹp thật sự, cái tuyệt đối đâu cần đến hoàn cảnh ra đời, cần ai giới thiệu. Nó phải thóat khỏi tù túng của không gian, thời gian và có lẽ của cả con người như câu thơ của Adam10 “Bay trên đầu thế kỷ nhân gian”. Tôi quen qua thơ để tìm người chứ không phải qua người để hiểu thơ. Thế nhé, tôi không quen anh chàng này, không nhớ cái thứ triết học duy lý mà anh ta hay khoa trương, càng không biết là anh ấy cũng chơi dương cầm bản Nactingal Serenade. Tôi đang thấy anh ta lần đầu, cái anh chàng Paul này. Chúng tôi đang ngồi trong Salon Thơ Văn ở Paris. .Âm thanh và những khoảng im lặng đã tạo nên nhịp điệu tuyệt vời. Diễn giả như đang khiêu vũ solo. Một vũ điệu luôn dướn căng thân với lên trên độ cao mình có để thăng hoa cái đẹp, hoa mỹ và cũng đầy nhận định chủ quan, rồi chùng xuống để lại bung lên. Cái hấp dẫn ở đây là có một anh chàng đang căng dướn lên tự sướng mà miệng lại luôn nhắc đến Logic. Đang say sưa thế cần gì đến Logic Aristot nhỉ, cần gi biết đến định lý bất toàn (Gödel11 “s incompleteness theorems), nguyên lý bất định (Heisenberg12 uncertainty principle), thuyết tương đối (Einstein”s theory of relativity) và những phát hiện cay đắng, bơ vơ hụt hẫng mà tư duy khoa học mang đến cho loài người.
Bài diễn từ kết thúc trong tiếng vỗ tay, vì nó hay hay vì nó ngắn. Chắc cả hai. Đức có nhắc tới nữ thi sĩ Ba Lan Szymborska13 (giải Nobel 1996) với câu thơ “có dăm bảy người còn lại nghe thơ chỉ vì họ...phải trú mưa”. Hôm nay trời đẹp không mưa nhưng không thấy ai bỏ đi.
Lại vẫn còn vài người đến muộn đang loay hoay len vào thu xếp chỗ ngồi. Có một ông Tây đứng ở bậu cửa ngó ngang ngó dọc mãi rồi bỏ đi. Nếu ông ấy gặp tôi ngoài phố và hỏi tôi là nên đi đâu, xem gì ở nơi này thì tôi sẽ không ngần ngại cho ông ta mấy lời khuyên là đến Văn Miếu, chùa Một Cột, gò Đống Đa, đi xem múa rối nước, những nơi mà tôi hầu như không đến bao giờ. Hầu như thôi, chứ tết năm ngóai Khánh rủ tôi ra Văn Miếu chơi, xem người ta viết chữ. Khánh quen hết các nghệ nhân ở đó, cầm máy ảnh, chai rượu chạy lăng xăng. Tôi cũng ngó xem một ông râu dài, tóc búi củ hành ngồi viết chữ, người xem đông nhất. Ông ta không cầm bút bình thường mà cái bút to dài giống cái chày. Hình như Trương Thúy Sơn14 phái Võ Đang cũng đã nổi tiếng với binh khí này. Tôi hỏi giá cả. Họ nói năm trăm ngàn một chữ tàu viết trên giấy gió. Một cô bé đang chờ lấy chữ Đỗ, chắc cho kỳ thi sắp tới. Mấy người chờ mua chữ Tâm, chữ Nhẫn. Họ thiếu hay họ mua để tặng ai vậy. Tôi kéo một bạn trẻ ra hỏi nhỏ vì sao đắt thế. Anh chàng nhìn tôi như người ở hành tinh khác đến vậy: “Vì đó là Cung Tiên Sinh”- rồi lại quay vào vòng người. Cuối cùng tôi cũng hiểu ra chân lý “Vì đó là Cung Tiên Sinh” và xếp nó vào đầu như các chân lý khác mà tôi đã thu nhận được từ khi đi học. Liệu rồi sau buổi đọc thơ hôm nay Đức có được là Tiên Sinh như Tiên Sinh Cung ấy không nhỉ. Chờ đã, để nghe Trường Ca đầu tiên mà Đức đọc có tên “Kẻ hành hương từ đời đến thơ”. ...
Phải thú nhận là những vần thơ của Đức với các triết lý về thơ, về người làm thơ qua lời đối thọai với Homer đã đụng đến những chỗ sâu nhất trong lòng tôi. Chẳng là hồi mười tuổi tôi bị liệt hai chân không đi lại được một năm. Lúc mẹ đi dạy học, tôi lê bò trên giường xuống đất, lên ghế, dùng tay chống đu, với những sách của ông nội trên giá. Tôi đã đọc hết các bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh. Một năm liệt tôi đã trốn mình trong hòn đảo phiêu lưu của Robinson Crusoe15, đã theo Ulysses16 và sau đó theo Telemachus17 rong ruổi trên biển, lạc vào các hòn đảo, gặp bao nguy nan bất ngờ và các tiên nữ. Một năm đó đã gieo vào tôi nhận thức là thế giới này thật bao la, không chỉ là cái phố Bến Nứa, cái gác xép nhỏ cho mẹ tôi và ba anh chị em tôi, không chỉ có dòng sông Đào mà có cả biển cả vô tận, những thảo nguyên, núi non, cánh rừng và tôi thuộc về nó dù là trong tâm trí. Đọc xong giá sách của ôngnội, bệnh liệt của tôi cũng chữa xong, hình như là nhờ cháo cám, xúp cà rốt, khoai tây, bắp cải ninh xương. Năm đó Nam Định xây nhà máy say. Gạo xay trắng không cần thức ăn vẫn rất ngon nhưng không đủ chất. Bác sỹ bảo thiếu B1....
Tưởng chừng đã quên hết rồi, thế là hôm nay Đức lại khơi dậy trong tôi Homer18 và thế giới thời thơ ấu. Khi đó thơ khác bây giờ lắm, nó như những hòn sỏi lung linh dưới nước trong suối Bâm ở Tuyên Quang. Lúc đó tôi mới bốn tuổi. Mẹ thấy túi tôi đầy sỏi, đánh mắng tôi cho sợ, để sau này không mò ra suối một mình nữa, chết đuối thì sao, dưới suối là hà bá đấy. Thế mà tôi vẫn trốn ra mò sỏi. Mình đúng là có tội, cả sau này nữa, khi lớn lại vẫn mò Thơ. Tôi cũng đã nghĩ về thơ, về những hòn sỏi đó và tự bào chữa
Con ơi nhà vốn đã nghèo
Mà sao con lại dây vào với Thơ
Mẹ ơi bởi tiếng mẹ ru
Theo con đi đến bây giờ mẹ ơi
Sau này những lúc tôi ốm quặt quẹo, mẹ chăm lau mồ hôi, quạt cho tôi ngủ, xua đi cái nóng, cái nghèo trong cái gác xép nhỏ ở Nam Định. Mẹ vẫn hát ru. Mẹ nhớ Ba. Tôi lại mò được trong dòng suối đó những hòn sỏi Thơ về mẹ.
Nếu phải chọn người sinh ra mình
Thì chính là mẹ đấy mẹ ơi
Từ thuở còn mầm ủ sâu nơi ấy
Con đã nghe tiếng mẹ gọi con rồi
Lớn lên tôi có gặp một số nhà Thơ chuyên nghiệp đã từng lên giảng ở trường viết Văn Thơ. Họ cho tôi bài giảng để trở thành Thi Sỹ như họ và hơn nữa, biết đâu có thể thành Thi Hào. Tóm lại là gồm năm bước như trong dây chuyền sản xuất mì ăn liền vậy, chất lượng Hảo Hảo. Đầu tiên là ghép vần theo thể thơ (lục bát, thất ngôn…) gọi là theo thơ tìm lư. Thạo rồi, nhuyễn rồi là đã sang cấp hai - trong thơ có lư với “từ lư bàn thơ”. Thực ra đây là cấp của bà nội tôi. Bà không biết chữ vì ông nội tôi dạy học, một người biết là đủ rồi, dúng ra là hơi thừa. Bà tôi không chỉ thuộc lòng các truyện thơ hồi đó, từ Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai đến Phan Trần để kể cho đám cháu nội, ngoại mà khi bà nói chuyện, mắng các con dâu, dạy cháu cũng dùng thơ, ví von các kiểu. Bà tôi chưa ra được những tập thơ nghĩa là chưa đạt được mức cấp ba. Cấp bốn là đã thành Nhà Thơ (Thi Nhân). Đã là hội viên của các hội nhà văn Việt Nam, đã có thơ trong các Tuyển Tập Thơ Quốc Gia. Cấp cao nhất là cấp Thi Hào. Đó là thơ đã đạt trình độ “thể dụng đều mất”, nghĩa là “thơ thành lư lập”
Hình như điều đó là vô ích với tôi. Tôi không học được họ. Tôi còn nhớ được tên họ nhưng không nhớ nổi thơ của họ. Tôi nhớ những viên sỏi long lanh dưới suối xưa. Họ không có...Tôi nhớ bà nội tôi và Thắm, cô bé láng giềng thời nhỏ, vẫn sang chơi, hóng chuyện kể của bà. Khi tốt nghiệp về nước, tôi về thăm bà ở quê với chú thím tôi, bà có nhắc Thắm, nói em vẫn hay sang chơi, hay hỏi về tôi. Giọng nói của bà đầy sự tiếc nuối. Thắm đã lấy chồng, là cô giáo ở trường làng. Mấy hôm sau bà tôi tìm cách nhắn Thắm sang chơi. Bà xuống bếp, tôi chưa kịp nói chuyện hỏi han gi thì có tiếng bà mẹ chồng Thắm gọi vọng sang, bâng quơ, mát mẻ, bóng gió. Tôi lặng người nhìn em và lúng túng. Thắm đứng dậy xin phép về. Tôi đưa em ra đến cổng, chỗ bờ rào khuất, đi sau nhìn cái cổ trắng, cái gáy trần vì mái tóc dài đã bị kéo lên trước ngực, đôi vai tròn, vẫn của cô bé láng giềng thơ ngày nào. Không cầm được tôi nắm tay kéo em lại. Em không cưỡng, úp mặt vào ngực tôi. Rồi cũng như vậy em đã ra khỏi vòng tay tôi rất nhanh, nhìn tôi qua ngấn nước: “Muộn rồi anh”. Tôi cũng buông vai em ra rồi, như trong cơn mơ nhìn em đi khuất sau bụi cúc tần, những câu em nói chia tay để tôi đứng lặng đi: “Em về. Có chồng chẳng dám đi đâu. Có con chẳng dám ngồi lâu nhà người, anh”. Bà nội tôi giờ không còn nữa. Còn Thắm không biết đã mấy con rồi. Có kể thơ cho con như bà đã kể cho chúng mình không em...Với bà không có làm thơ, chỉ có nói thơ. Không có nhà thơ hay thi hào gì cả. Chỉ có Người Thơ. Thơ nó trong mỗi hơi thở của bà..
Thôi, tôi lắc đầu để trở về với hiện tại. Không biết anh chàng Đức là người ở bước thứ mấy chứ trong số những người nghe Đức ở đây chắc có nhiều người trong tốp bước bốn. Để xem diễn giả cho Thi Hào Homer, người đã đạt đến bước năm nói gì nào
ta biết chàng
đã vượt qua một cuộc hành trình
đầy gian lao thử thách
mong tìm một đường thơ
vậy ta sẵn lòng truyền lại
tất cả những gì ta hiểu về thơ
Tôi như lặng đi. Tôi ngồi thẳng lưng lên, nhắm mắt để nghe, hai xòe trên đầu gối, thở đều sâu, để ghi nhận, để cảm nhận, để hòa đồng cùng Đức trong cái thế giới của anh ta. Tất cả sự tồn tại và tiến hóa của loài người đâu có ngoài những phép Thử-Sai (Try-Error) mà. Dám thử rồi dám lọai trừ cái sai để có thể sống sót và thử tiếp, đi tiếp. Hãy thử lắng nghe một con người đang say sưa hạnh phúc đọc vang
Cuộc sống con người
Là cuộc sống mang ý nghĩa về cuộc sống
bởi con người không sống như hình thức tồn tại
của gốc cây hòn sỏi bờ sông hay núi đá
mà con người sống khi cố tìm lý do để sống!
Mọi người vỗ tay hoan hỉ. Chắc rằng ở đây ai nấy đều có đầy đủ hoặc thừa lý do để sống. Ở đây
không thể có Ecenin với câu thơ ông gửi lại khi hết lý do sống.
Chết chẳng có gì là lạ
Nhưng sống cũng có gi mới mẻ hơn đâu
Tôi ngước nhìn hình cây thánh giá và trái tim trên tường sau chỗ Đức ngồi. Sao lại thế nhỉ, Ecenin19, Blok rồi Maiakovski20 nữa lại tự tử. Họ không có cái lý nào để sống nữa hay là cái lý của họ cũng như những hòn sỏi lung linh dưới đáy suối ấy. Người chết vì suối đã cạn, các viên sỏi khô rồi không lung linh nữa. Có ông Tolstoi21 khác chút, không tự tử nhưng cũng chết lang thang ở một ga xép, chạy trốn khỏi trang trại giàu có của mình. Ông ta chết đuối dưới suối. Già rồi còn đi tìm sỏi...
Cái lý sống mà Đức đọc là gì nhỉ. Nó có thể lượng hóa bằng những phép đo, những con số và tiện hơn nữa có thể cấy ghép, thừa hưởng từ bên ngoài không. Được chứ Đức ơi. Thời buổi công nghệ mà, trái tim cũng được cấy ghép ngon lành. Công nghệ số sẽ dẫn tới Nghệ thuật số. Truyền thông, số lượng tin nhắn bình chọn - thật quá tiện lợi và hiện đại. Có lẽ sự thành công là phải tìm được một ông bầu, bầu Show, bầu Thơ đấy Đức ạ. Mọi người sẽ được nghe thơ của Đức ở truyền thông, mua những CD thơ Nguyễn Hoàng Đức và nếu công chúng yêu cầu sẽ cần có cả giọng đọc thơ khàn ấy. Tôi thì vẫn thích giọng Đức trong ấm, hùng hồn và thật hơn.
với thi nhân
sống không có nghĩa giữ lấy cuộc đời
mà sống để sáng tạo những vần thơ ý nghĩa cho đời!
Điều này tôi được học từ bé nhưng cứ loay hoay mãi. Tôi không may mắn có được những ý nghĩ đó như Đức. Những vần thơ của tôi có ý nghĩa cho tôi, rồi may ra cho một ai đó. Nó thật hơn chứ cho đời, cho mọi người quả thật là khó. Tôi nghĩ đến em. Em ở đâu. Em còn khóc không, có đỡ không khi có thơ của tôi.
Có phải vì em mau nước mắt
Mà Thơ tôi bật khóc suốt chiều qua
Tôi dỗ nó, nín đi nào, hãy nín
Hóa thành khăn lau nước mắt cho nàng
Thực ra trong sâu thẳm tôi vẫn thấy có gì không ổn. Giá như em không yêu thơ, tôi không biết làm thơ, em đã không khổ. Tôi yêu em? Tôi nghĩ mãi. Thơ tôi đấy. Nếu như Vampire (con Ma cà rồng) cần uống máu người để sống thì Thơ tôi nó cũng cần nụ cười và cả nước mắt của em. Cùng lắm em yêu thơ tôi thôi nhưng đừng yêu người làm thơ, cũng như ghét Ma cà rồng chứ đừng ghét con người bị cắn biến thành Ma. May mà thơ tôi chỉ quanh quẩn về Tình yêu chứ lại còn định dành cho Đời nữa thì quả thật tai hại. Tôi nhớ đến lời của một nhà toán học Thụy Sỹ: “Tôi tự hào là công dân của một nước nhỏ để không làm ra được những ngu ngốc lớn” . Ôi chao, thơ mà, những từ ngữ, những lời nói và nhận định của con người vốn rất chủ quan. Ở đây nó có cần Logic Aristot đâu nhỉ. Nó sinh ra và được ru ngay trong cái nôi của các nghịch lý mà Szymborska đã viết.
Khi chúng ta cất tiêng nói Tương Lai,
Âm tiết đầu tiên đã rơi vào Quá Khứ
Thế mà Đức lại say sưa khóac cho Thơ cái áo:
Ở đó lô-gíc sẽ khơi thông mạch cho ngôn từ trôi chảy và thi nhân không phải kẻ vô tâm đứng ngoài lô-gíc!
Lẽ ra chúng ta cần có thêm một tôn giáo nữa: tôn giáo dành cho Thơ, cho những người mơ mộng, những kẻ muốn nói mà không biết nói gì. Họ còn không biết rõ nữa thì người nghe sao mà biết được rõ được mà cứ mổ với chả xẻ, bình với chả luận đúng sai. Có cuộc chiến nào không bắt đầu từ quyền lợi đâu, mà cuộc chiến thành Troy lại đòi bắt đầu từ Tình yêu, thứ Tình yêu mù quáng. Tìm lý thực khó lắm, lý do, lý trấu. Tìm cớ nọ cớ kia thì đầy. Nhiều khi càng it lý kiểu “Một chiều cả gió găm đầy áo em”, càng lơ mơ, thú nhận, bất định bao nhiêu thì càng thật, Thơ càng sống bấy nhiêu. Bốn năm ở sa mạc Xahara hoang vu, nhiều đêm tôi nhìn lên bầu trời, ngắm các vì sao lung linh, chiêm ngưỡng cái bí ẩn của thế giói này. Con người càng muốn mạo hiểm, vất vả tìm kiếm để thoả mãn một niềm khát khao không tên như của người Digan, của Hoàng Tử Bé2 và cả của Einstein nữa: “Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là cái bí ẩn. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng ngạc nhiên, kẻ đó coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình”. Trong lòng tôi đến bây giờ vẫn còn chút bản năng của cánh buồm Lermontov23:
Trong màn đêm dày đặc phủ sương
Đi kiếm tìm chi nơi đất lạ?
và cũng thật mơ hồ với câu trả lời:
Hay buồm đi tìm giông bão,
Bởi trong giông bão có bình an
Vũ điệu Thơ của Đức càng phiêu, càng thấy tù mù với các triết lý
và thi ca cũng vậy
nó luôn luôn lên đường tìm ý nghĩa cuộc đời
nó không lần theo máu chiến trường
đếm những xác chết, không lần theo mồ hôi
để đếm công lao động
mà nó là cuộc lên đường đi tìm ý nghĩa
Lại ý nghĩa rồi. Cái vô nghĩa khi đi tìm ý nghĩa cụ thể mà đôi khi đã được chuẩn bị sẵn, cái áp đặt khẳng định tuyệt đối, cái lối mòn đơn điệu, sáo rỗng, tất định lại làm cạn kiệt người đọc và đặt thơ trước tình trạng không còn ai muốn quan tâm tới thơ, ngoài những người chẳng biết làm gi, những nhà thơ chăng. Thực ra quan trọng vẫn là sự phiêu lưu vào miền xa lạ, không tìm được cái này thì ra cái khác. Những bước chân mới là cần thiết, ý nghĩa đã có ngay trong mỗi bước chân đi, ngay trong con đường. Và con đường gọi chúng ta đi, thôi thúc cả trong giấc ngủ yên lành, có lẽ vì những khát khao bất định, kỳ diệu và cả mạo hiểm nữa. Có lẽ cả vì cả những ngã ba để ta đứng lại bơ vơ, suy ngẫm, lựa chọn, tặc lưỡi, rồi mãi không quên được. Nhiều khi chúng ta lại cần kiếm cái cớ để đi, để tự an ủi, để nuôi cảm cái giác có sống và có yêu chứ đâu phải cái đích thực sự cụ thể để rồi nuối tiếc và trách mình.
Tôi đi trăm núi ngàn sông
Có tìm thấy lá diêu bông bao giờ
Diêu Bông ơi, thật ra nhờ có cái ảo mộng có Em đó mà ta đi được trăm núi ngàn sông, và đó không thể gọi là ta đã sống vô nghĩa. Trên con đường đi, trong mỗi bước chân, trong mỗi lần vấp ngã, trong mỗi lần đứng dậy ta lại hiểu ra ta hơn, mỗi lần ta lại tìm thấy một chút Ta. Ta ngã rồi, đau quá, không chết, ta đứng dậy được rồi. Đứng thẳng lên. Ta làm được rồi. Ta lại đi rồi, lại ngẩng đầu lên, bướng bỉnh tìm kiếm, không lom khom. Đó mới là điều cần nhất. Ta vẫn không hết ngạc nhiên về mình.
Hóa ra cái hành trình không ngờ tới lại là hành trình vào chính mình. Ta như con sâu bò vậy. Hồi còn sinh viên cô giáo dạy tiếng Nga đã nói về hai lọai sâu và chiếc lá cải. Phần đông là sâu bò lên ăn, càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng tốt, ăn không hề hỏi, đấu tranh sinh tồn mà, giành giật, không bỏ lỡ cơ hội như giới kinh doanh bây giờ thường nói. Sâu ăn rồi có thể thành sâu to, rất to, siêu sâu, nhưng... mãi là sâu. Có những con khác lại vừa bò lại vừa hỏi về chíếc lá cải, về sâu, về các cái chân để bò. Tôi buột miệng hỏi cô giáo: “Irina Ananhevna, thế cô là lọai sâu nào”. Hỏi xong tôi thấy ân hận, mình lỡ lời rồi. Nhưng cô giáo chỉ cười: “Chúng ta cùng lọai sâu hay hỏi. Có những con sâu còn hỏi là khi chân thứ nhất giơ lên thi chân thứ chín đang ở đâu”. Cô ngừng một lúc rồi nói tiếp:
“Với nó điều đó còn quan trọng hơn chiếc lá cải. Rồi những con sâu ấy có thể mọc cánh thành bướm, cũng như con vịt xấu xí của Andersen24 có thể hóa thành thiên nga vậy”. Câu chuyện về sâu đó cứ theo tôi mãi, theo vào cả trong bài thơ đăng trong tạp chí “Văn nghệ quân đội”.
Cứ day dứt mãi không ra
Mình là ai, ai là ta, là mình
Những bài thơ khác tôi gửi họ không đăng nữa. Hỏi gì mà lắm thế. Sợ câu hỏi. Con người còn sợ nhiều thứ lắm, và sợ nhất là không phải sống, chỉ là...........tồn tại tù đầy trong cái tất định, đơn điệu mà Puskin đã từng than:
Không thiên thần, không nguồn cảm hứng
Không cuộc đời, nước mắt, tình yêu.
Nhưng con người cũng lại sợ cái bất định và cái khỏang tự do của nó, vừa thèm muốn vừa sợ những cái bí ẩn, sợ những gì chưa biết, sợ cả những thứ đã biết. Nhà thơ lại càng sợ, sợ người ta chê thơ của mình, sợ mất đi những lời khen. Cái cảm giác thấy mình yếu đuối, nhỏ bé luôn phải tìm kiếm một nguồn sức mạnh, đám đông để nương tựa, để phần nào cảm thấy an toàn, để đám đông đó đánh giá, nói giúp cho mình là ai. Đức có thế không nhỉ. Bây giờ anh đang như một vũ công dướn trên mũi chân độc diễn bước xoay wheelspin, như muốn bay lên thắng được cái sức hút trái đất dù trong khoảnh khắc, buông bỏ cái xung quanh đang níu mình lại. Có Thơ như rượu say, làm ai khóc, ai cười, ai đó lặng đi, ai đó chạnh lòng.
Ý nghĩa của đời sống là vô tận
Và nghệ sĩ tài năng chính là người nâng cánh cuộc đời
Bay vào cõi đẹp không bến không bờ
Thôi, thế là Đức bắt đầu sang cái Đẹp rồi, bỏ qua cái Thiện. Đã xong được phần Chân, phần Lý với kết luận luôn đúng “Ý nghĩa của đời sống là vô tận” . Những câu đầy chất thơ kiểu này tôi vẫn hay nghe trong các bài phát biểu ở các hội đồng khoa học. Lúc đó trong tiếng vỗ tay tán thưởng đôi khi tôi lại bắt gặp một cái nhìn ngơ ngác, một ánh mắt buồn của ai đó. Tôi tự an ủi mình là không sao, chỉ là trùng hợp, không có ai bị mất, bị thiệt thòi, bị sai ở đây cả. Không có ai phải nhường cái Lý của mình cho ai vì nói cho cùng có ai thật biết nó ở đâu. Nó đâu như một miếng thịt hiếm hoi trong bữa cơm nghèo mà mẹ gắp nốt vào bát tôi. Mẹ nói không thích ăn thịt, nó gây. Mẹ thích cơm chan nước rau, dễ ăn.
Đức vẫn tiếp tục
nghệ thuật cò con có thể còn mặc cả
còn nghệ thuật lớn lao là một cuộc lên men vô tận
hình ảnh cuộc đời, ý nghĩa cuộc đời, vẻ đẹp cuộc đời
vì thế không thể nào mặc cả!
Không, tôi lại vội rồi. Anh chàng không dứt khỏi Lý được. Có người kẹt trong cái Tình. có người trong cái Lý. Loài người đang bị kẹt trong nhà tù đúng Chỗ, đúng Lúc, đúng Độ vì tội tham lam của Cái Lý. Nó vốn hiếu thắng, không muốn chia sẻ nhưng lại ưa ban phát. Đức lại cất giọng
một bài thơ ngắn
là một bài thơ chưa biểu hiện lòng khát sống
nó sợ bão tố cuộc đời và nấp mình trong căn lều bé nhỏ
Cái Lý ca ngợi thơ dài, phê thơ ngắn của Đức như được vang lên đắc thắng từ bên trong lòng, từ trái tim. Thơ của anh không phải tìm vần, nhịp điệu nữa. Nó cứ như vị chát chua ngọt đã có sẵn trong quả nho rồi, chỉ cần ủ ấm sẽ thành rượu, sẽ làm ta say. Tôi cũng như bị say. Cũng một phần nữa vì nghe giọng Đức vang, bay, chưa khàn, nói đúng hơn nghe trực tiếp tác giả đọc, thưởng thức cách đọc, trình diễn mới thấy hay, chứ từ lâu tôi đã không đọc được thơ dài quá một trang. Đã chót có thói quen hay ra xa, lên cao để nhìn, để thấy như trong thơ của Tạ Minh Châu
Dẫu mênh mông tựa cách đồng
Cũng là một khúc tang bồng cò bay
Có bao giờ cái Lý cảm thấy cô đơn, tàn nhẫn và vô nghĩa không nhỉ. Chẳng là Lê, nghiên cứu sinh của tôi trong lúc làm luận án gặp phải trường hợp bất định với số điều khiện it hơn số ẩn. Để cho đủ, chúng tôi bổ sung các điều kiện tầm thường (Trivial) – lấy đạo hàm những đại lượng không lên quan đến nhau và cho bằng không. Giải thích điều đó thật là khó khăn ở các hội thảo khoa học vì chẳng ai làm thế cả, các đại lượng đó có liên quan với nhau đâu. Người ta quen những điều kiện liên quan chứ ai để ý đến những thứ không liên quan. Vị giáo sư đầu ngành hỏi: “Thế thì cái gi cũng lấy đạo hàm tất à, các đại lượng đó có liên quan đến nhau đâu. Con gà cũng cứ lấy đạo hàm được à”. Tôi cười đáp: “Vâng, con gà cũng được, con mèo cũng được và ta có điều kịên bộc lộ sự liên quan đó qua số không. Về Logic Hình Thức (Formal Logic) ta không phạm sai lầm gì, mà lại có thêm các điều kiện bổ sung cho đủ với số ẩn”. Vị giáo sư lắc đầu rồi thôi. Ông vẫn không yên tâm. Mọi người yên lặng không hỏi nữa. Tôi ngồi xuống bỗng nghe có tiếng cô nghiên cứu sinh của vị giáo sư đó ngồi sau nói nhỏ: “Có khác thầy ạ, con gà, con mèo nó đau”. Bài toán tối ưu với các điều kiện bổ sung sau này được Lê giải và chúng tôi công bố kết quả trong một tạp chí quốc tế. Tôi nhắc lại lời của cô gái đó với Lê và phần tíếp của đề tài cậu ta xin chuyển sang dùng Logic Mờ (Fuzzy Logic). Hôm Lê bảo vệ luận án tiến sỹ cô gái đó không đến dự, tiếc quá. ...
Lê thì trong lúc bảo vệ vẫn cứ thỉnh thỏang nhìn ra cửa như ngóng ai. Tôi hiểu quá rõ học trò của mình
À ơi cái Lý ở đâu
Để cho Tình phải qua cầu gió bay.
Điều bất ngờ là sau đó có một hôm Thịnh học trò cũ của tôi đến rủ đi xem thi khiêu vũ ở nhà thi đấu Quần Ngựa gần nhà cậu ấy. Cậu ta cũng đã từng thi đấu, đọat giải mấy năm trước. Thịnh sợ tôi chán nên giải thích cho tôi khá nhiều về bộ môn Dancesport25 này, về những trường phái khác nhau. Đúng là người học kỹ thuật, cái gi cũng cần đi đến nguyên lý, ngọn ngành. Bỗng dưng tôi nhìn thấy một cô gái váy vàng rực để tay lên tay người bạn nhảy diễu qua chỗ chúng tôi ngồi rồi bước vào sàn. Tôi nhận ra Thu, cái cô nghiên cứu sinh bộ môn gia công áp lực, cái cô vắng mặt khi Lê bảo vệ tháng trước ấy. Đôi nhảy đó nhận giải nhất về Vals chậm, giải ba Tango. Giám khảo là người nước ngoài. Họ đã nhận ra những bước đi lung linh của em. Có lúc em hơi trễ so chuyển động của Patner, có lúc để tiếng phách nhạc tuột qua trước rồi lướt lên đuổi theo, lúc lại dướn trước để tạo khỏanh khắc dừng chờ đợi. Những lúc ấy em đã cố tránh dẫm lên nốt nhạc, sợ nó đau.
Đúng là cái Lý có thể làm đau. Nó hiếu thắng và chiến thắng. Cái Tình nhường và thua. Tình chết và được chôn ở trong những Kim Tự Tháp Thi Ca. Ý nghĩa của cái Lý của Thi Ca ở đâu khi với nó người ta có thể giết chết Thi Ca và cả những nhà thơ. Thực ra Đức chẳng chứng minh gì cả, chẳng có một thao tác nào của Logic Hình Thức, cũng chẳng giải thích như kiểu “qua cầu gió bay”. Anh toàn khẳng định, chỗ dựa của anh là sự bất tử của các trường ca của Homer, là tình yêu của Đức đối với thể lọai trường ca. Nhà thi hào mù, cậu bé Cupidon26 của tình yêu cũng mù. Tình Yêu mù mà, có thế nó mới say đắm lòng ta đến lạ kỳ. Nhưng dài thế nào Đức không nói rõ. Cái lý ca ngợi Trường Ca là ở chỗ nhiều chữ hay là cứ xuống dòng là xong, tốn giấy lắm. Nếu trào lưu thơ dài mà lên ngôi, không chừng sẽ có cả siêu Trường Ca, siêu Dài phục vụ các đại gia. Có rất nhiều bài thơ dài chỉ hai trang nhưng quả thật tôi đọc không nổi, không nhớ nổi một câu thơ, một ý thơ. Đức không giống như vậy. Những ca từ bay bổng và lý lẽ táo bạo của anh lại dễ nhớ. Anh cho rằng Dài là cần nhưng không đủ mà phải là Bi Kịch cơ. Trường Ca vui thua Trường Ca buồn.
Bi kịch vĩ đại hơn hài kịch!
Vì bi kịch là sự hiến tế cho đời mồ hôi, máu và sự sống
còn hài kịch nhỏ bé vì là vụ gặt tức thì
nụ cười trên môi trong khoảnh khắc!
Anh này theo quan điểm của Aristot về bi kịch rồi. Những người tốt chịu đựng sự bất hạnh, Cái Ác không tha cho họ, không phải vì họ chống nó mà vì họ khác nó. Nhưng sự thất bại của họ làm cho người đời xót thương, ca ngợi họ, vẽ chân dung họ “đẹp hơn thực” để treo trước cuộc đời một tấm gương. Đức luôn muốn đối chọi, lọai trừ. Có dễ thế không. Dài –Ngắn, Buồn –Vui đan xen vào nhau, theo ta suốt cuộc đời chứ. Tôi lại nhớ tôi rồi
Nhà đã nghèo lại ồm đau quặt quẹo
Mẹ vẫn cười dỗ tôi thìa cháo
Hành cay sao, mắt mẹ đỏ hoe
Những lời ngân vang sang sảng của Đức lại đưa tôi ra khỏi giây phút chạnh lòng
Ta là kẻ yêu thơ từ nhỏ
Nên ôm nỗi sỉ nhục trong lòng
về một hình ảnh thi nhân bị nguyền rủa
chỉ ngâm nga vài lời đào kép
Và anh đã tìm ra nguyên lý mới cho thơ
May thay! May thay! đến một ngày ta phát hiện rằng
sở dĩ thi nhân ở xứ ta bị mọi người dè bỉu
là bởi hắn đã tự co mình lại trong vài vần thơ miệng hắn xướng lên
từ chiếc cổ họng nông choèn
Sao lại mới nhỉ. Sinh sớm mấy chục năm chắc Đức đã có mặt trong hàng ngũ những nhà thơ Nghệ Thuật vị Nhân Sinh rồi. Có thể có tên phố đặt cho anh nữa. Anh là nhà thơ - chiến sỹ. Thế giới Thơ của anh thật hoành tráng.
Ở đó đôi cánh thi nhân không còn lả lướt
Mà là đôi cánh chở mang gánh nặng cứu chuộc con người!
Đức trẻ trung quá khi anh đọc những câu kết này. Mình già quá rồi, tôi nghĩ thầm và bỗng dưng thèm cái hồn trẻ trung đầy nhiệt huyết của anh. Liệu sau lần này tôi sẽ nghĩ khác đi về thơ không và tôi có khác đi không. Ý nghĩ thật kỳ quặc. Không, thế giới của tôi và em, bức hình Thơ đó lấp lánh ảo ảnh và những hòn sỏi bé nhỏ. Chúng mình đã nhìn hình của hai đứa lung linh trong suối và có lẽ chỉ ở đấy nó được bên nhau, hòa xen đan vào nhau. Chúng tôi không tìm thấy cái Lý của bức hình đó. Nếu có cái Lý nào đó mà tôi được chọn cho có cảm giác yên tâm thì có lẽ kiếp trước tôi và em không phải là hai nửa mà là một thôi, có thể đó là một viên sỏi. Chỉ riêng ý nghĩ này tôi đã thấy cái Lý không thể chia sẻ được. Hoặc là nó quá gần, quá riêng tư. Cái Lý chung thì lại quá xa và đồng hành với bao sự ngẫu nhiên, tình cờ mà ta cố tình không nhìn để thú nhận sự nhỏ bé và bất lực của con người. Tôi càng it nói đến cái Thiện vì khi nói ra nó, nó đã không còn nguyên vẹn rồi. Chỉ có cái Đẹp - như Dostoevski viết: “Cái Đẹp cứu thế giới”. Nó cứu chúng ta vì một lẽ đơn sơ - nó đẹp tự nó, là bản thể của nó. “Bông hoa của em” -Tôi đã ngắt bông hoa ở bờ suối cài lên tóc em năm ấy. Em cười: “Đấy là anh nói chứ. Bông hoa đẹp quá nhưng nó có biết chúng mình đâu mà, nó đẹp cho nó chứ”...
Thôi, thế là bản Trường Ca cuối cùng được kết thúc với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt Đức. Thật tuyệt vời. Tôi lại thấy cái Đẹp trong câu nói của Baudelaire27: “Nó làm cho người anh hùng thành hèn nhát và đứa bé con thành can đảm”. Tôi muốn ra về, đói rồi, thèm ăn phở nhưng lại ngại vì mọi người bắt đầu tranh luận, ý kiến mãi. Không biết có phải biểu quyết không. Mà quyết liệt lắm. Jadeh28, nhà toán học đưa ra Logic Mờ đã có lý: “Khi ai đó có cái búa trong tay thì họ chỉ thấy trước mặt chỉ là những cái đinh”. Nhiều bàn tay giơ lên đòi micro. Người ta phản ứng. Tội nghiệp cái đinh quá. Ca ngợi cái thơ Dài của mình thì là việc có thể bỏ qua nhưng lại chê thơ Ngắn của người khác thì ai chịu nổi. Đúng là điếc không sợ súng. Người ta có bao nhiêu là độc giả, người ta nổi tiếng, người ta thành đạt. Thảo luận lên đến cao trào, có cả những lời nói đầy bức xúc, đôi khi lại không vào Trường Ca mà vào tác giả của nó. Điều này tôi ghét nhất.
Tôi muốn kết thúc. Tôi nhìn Đức. Tôi giơ tay và Micro được diễn giả đưa cho tôi. Chắc là trông mình ngọai đạo với cả thơ ngắn thơ dài. Cầm mic trong tay, đứng lên, không biết gì về những lý luận văn chương như cô gái giọng khàn vừa phát biểu, cũng không biết nhiều về Đức và quá trình làm thơ của anh như nhà thơ béo tốt đạo mạo có ria tiết lộ, tôi đành nói thật. Tôi kể là đến đây với hy vọng không phải nghe những cái lý đúng sai như đã dự ở hội đồng bảo vệ luận án cao học kỹ thuật chiều nay. Tôi mong có một sự ngẫu nhiên, khác biệt và đủ sâu sắc. Tôi xin cám ơn Đức và Trường Ca của anh. Tôi đã thấy có sự khác biệt. Còn về sâu sắc, tôi cần thời gian. Mọi thứ trong trường ca đều với lên cao. Hy vọng sẽ thấy những đôi cánh chứ không phải là các bong bóng bay.
Tưởng nói thế là đã tạt được bóng nhẹ vừa tầm để Đức ghi bàn kết thúc có hậu, ai ngờ anh ta nổi nóng giành lấy Mic, nói rằng tôi hai phải, ba phải kiểu Tàu rồi. Anh ta không phải Tàu. Tây mà. Logic Aristot - anh ta đúng, khác anh là sai. Chết tôi rồi, khác anh ta đông lắm. Số đông mà sai à, thơ ngắn mà sai à. Và thế là bóng lại đặt vào giữa sân. Lùng bùng một lúc, may quá một bà ngồi hàng đầu cầm được Mic khàn khàn cất giọng giảng giải, tổng kết về Đức, về Trường Ca, về Văn Thơ, về buổi gặp mặt chiều nay hệt như trên truyền hình, rất chuyên nghiệp. Nhưng cái cô tóc vàng giọng khàn kia lại chưa chịu, lại đi bóng. Kỹ thuật và lắt léo quá. Tôi không có được cái may mắn hiểu được các thuật ngữ lý luận văn chương đó.
Bù giờ. Tranh luận lại càng sôi nổi. Mọi người biết cách đặt các câu hỏi khác nhau. Họ tập làm việc đó từ lâu, hôm nay không phải lần đầu. Tôi sốt ruột rồi. Không biết sau bao lâu nữa rồi mọi người cũng kết thúc. Hình như không ai ghi thêm được bàn nào. Bóng luẩn quẩn. Có điều càng phản ứng quyết liệt, Đức hình như càng chiếm được cảm tình mọi người hơn. Họ nhận ra Đức cũng giống họ. Đến lúc chủ nhà họa sỹ Cương nói lời bế mạc, cám ơn thì ai nấy đều hỷ hả. Tôi chào Đức và không quên bắt tay chủ nhà họa sỹ. Có thể lúc nào tôi sẽ rủ Khánh đến xem tranh anh.
Trên đường về tôi suýt bị phạt vì không thấy biển đi ngược chiều ở phố Nhà Chung. Tôi mải nhìn ông Tây vẫn còn lang thang xem tranh treo la liệt ở trong và ngoài các cửa hàng. Toàn tranh chép.
NHÀ TRONG NGÕ
Tưởng đã yên trong tận cùng ngõ vắng.
Lại bồi hồi, lòng vẫn ở ngã ba
(thơ Trần Đức Trung)
Nhà Lâm mua thực ra là trong ngách, tận cùng của ngách. Nhà đối diện chỉ có hai mẹ con. Lâm và họ chào hỏi những lúc chạm mặt ở ngõ còn nếu đi cùng chiều thì anh cố đi nhanh hơn hay chậm lại để tránh phải chào. Có lúc không tránh được vì gặp nhau ngay ở cổng, bà mẹ trẻ quay sang con, lần nào cũng vậy: “Anin, chào ông đi”. Cậu bé năm tuổi ngẩng mặt lên chào. Lâm chỉ nhận ra nó có đôi mà lúm đồng tiền, cái eo lưng, hông vai đều tròn lẳn. Đến đôi chân dài, dáng đi thẳng cũng giống mẹ nó mà mắt anh cứ phải vuốt ve trộm theo. Tất cả của thằng bé là của mẹ, chỉ có mái tóc xoăn, đôi lông mày rậm đen chắc là của bố nó. Nghe nói người mẹ làm cho một tổ chức nước ngoài còn ông sếp đã trở về với gia đình ở Tây Ban Nha. Ngách vắng, có đọan chỉ có tường cao, nhà chưa xây. Tiếp đến là ra ngõ, cũng cụt nhưng rộng rồi thông ra phố lớn, ra hồ. Đầu ngõ là quán Cafe sang trọng trông ra phố lớn. Bên kia đường là công viên, hồ nước, sáng chiều đầy người đi dạo, chạy, vui chơi, nhảy nhót nhộn nhịp theo các bản nhạc Tây Tầu....
Lâm bị mất ngủ, đôi khi nửa đầu lại đau do lần bị ném bom khi đại đội của anh đóng ở Quảng Trị. Đấy là cách anh giải thích cho mọi người. Sống một mình ở chỗ tận cùng đường đi Lâm muốn dành thời giờ tập Thiền theo sách Hư Linh Công mà anh kiếm được ở một hiệu sách cũ khi đơn vị anh vào giải phóng Huế. Trong sách viết là nếu chuyển được từ trạng thái Ý Thức sang Vô Thức1 thì mọi vết thương, bệnh tật của thân hay của tâm cũng có thể được chữa lành. Như phần đông người tập Thiền, những bài đầu sơ cấp Lâm thấy rất hiệu quả. Theo dõi luồng hơi thở từ huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu, đưa nó thật sâu xuống tận huyệt Đan Điền dưới bụng cho anh một cảm giác thư thái. Tâm như được neo vào hơi thở, được an trú. Có lúc anh còn như mơ, thân như bay lạc vào một khu vườn có những ánh sáng huyền ảo. Đẹp quá. Anh mừng sướng lắm, thấy mình khỏe hơn, đầu hết đau.
Nhưng hóa ra tập Thiền khó thật.
Những cảm giác vọng tưởng đó qua đi sau phần đầu nhập môn. Những phần sau không dành nhiều cho điều Tức, cho hơi thở mà dành cho Ý Niệm, điều Tâm. Anh cứ ì ạch không làm được nhưng nhất quyết không quay lại phần sơ cấp. Phải đi tiếp, phải dùng Tâm Ý luyện được các công cụ Linh Khí của Hư Linh Công. Vẫn không được, loay hoay, bực dọc, có lúc Lâm phải tự mắng mình: “Đồ hạ đẳng, bảy phần khỉ ba phần người”. Gạt bỏ cái phần tâm khỉ gió này khó quá. Tâm nó cứ lăng xăng nhảy nhót đu từ cành nọ sang cành kia không chịu neo định ở đâu cả.
Lâm hiểu bỏ thói quen đó là rất khó không chỉ với anh, không chỉ với người tập Thiền. Ra công viên anh thấy hội khiêu vũ cũng vậy, lom khom chùng gối, chân nọ chưa vững chắc chân kia đã nối tiếp, liêu xiêu như sợ ngã. Thân đã vậy nữa là Tâm, cứ cái nọ xọ cái kia. Cái nào cũng nửa chừng, chán thật. Anh thuộc lòng lời Phật dạy: “Sự Sống chỉ có trong giây lát Hiện Tại, hãy tận hưởng và an trú ở đó”. Ngày này qua ngày khác anh nhẩm lại các nguyên lý tối ưu nổi tiếng của Potryagin2, Bellman3 – Một quá trình tối ưu luôn tối ưu trong thời điểm đang xét, vật vã gạt bỏ Quá Khứ và Tương Lai ra khỏi Hiện Tại cuộc sống như đối với một quá trình Markov4. Hiểu, thuộc là một chuyện. Luyện được cho nó ngấm vào máu thịt, mã hóa vào Tâm Thức lại là chuyện khác, khó làm sao
Nhưng Lâm không bỏ cuộc với ý nghĩ bướng bỉnh “Tạo Hóa đã gửi mình đến trái đất này với hai bảo vật: Hơi thở và Ý nghĩ. Chỉ có nó là của riêng mình. Không phụ thuộc vào ai, không liên quan đến ai. Hãy ôm tựa vào hai quà tặng làm người của Tạo Hóa đó, luyện gạt bỏ các Tạp Niệm, tập trung vào Nhất Niệm”. Cái Nhất Niệm được tập trung đến cao độ, như năng lượng trong máy gia tốc hạt phải đạt đến ngưỡng cần thiết để tạo ra hiệu ứng Big Bang, sẽ có điều kỳ diệu xảy ra với con người là xuất hiện trạng thái Vô Thức. Trong sách Hư Linh Công có viết: “Mỗi người phải tự tìm đến Nhất Niệm theo cách của mình”. Lâm vẫn tìm, vẫn thử, vẫn không được, vẫn tiếp tục...
Lại một đêm không ngủ được. Lâm dậy, ngồi bán kiết dà, xòe tay, cố gắng tâm niệm. Nhưng chỉ được một lúc những hình ảnh cứ như trong phim lại len lỏi vào thay phiên nhau xâm chiếm đầu anh.
Cảnh chợ Tandeta ở Ba Lan. Anh kịp mang hóa đơn và biên lại thuế đến cho vợ trình đội thanh tra. Rồi Mai Hoa , mẹ, em gái, chị gái sung sướng gói trao những túi hàng, thu tiền, người mua chen chúc vòng trong vòng ngoài. Các quầy hàng khác của người Việt thì trống vắng. Mọi người dù đang túm tụm ngồi trong quán, đứng cạnh các túi hàng bị thu chờ xe phòng thuế đến đưa đi, vẫn ném cái nhìn sang anh với con mắt khinh bỉ ghen hận. Các nhân viên Ba Lan đang bận niêm phong các container hàng của hầu hết người Việt không đủ giấy tờ sinh sống, kinh doanh hay hóa đơn hàng. Riêng nhà Mai Hoa thì trúng to. Lâm đã bảo vệ xong luận án Tiến Sỹ Vật Lý, xin được việc làm. Tuy bận bịu và mức lương công chức chỉ đủ trả tiền thuê nhà, các hóa đơn sinh hoạt nhưng công việc gần với chuyên môn và quan trọng hơn là đảm bảo sự ăn theo hợp pháp của vợ con, cả việc lo giấy tờ cho gia đình nhà vợ mà anh đưa sang sinh sống làm ăn.
Bắt tay cậu thanh tra Ba Lan xong, Lâm quay vội như chạy trốn ra xe. Anh còn loáng thoáng nghe những câu chửi bậy, nói kháy theo về quan hệ của Mai Hoa với Tiến béo chủ hàng trên Varsava. Cô nàng thì bơ tất cả, hỷ hả với những quả lớn bán độc quyền như hôm nay. Giá như chồng mình khôn một tí làm việc với chủ chợ, phòng thuế đuổi hết bọn Việt đi. Chỉ nghĩ đến thế ả đã sung sướng run lên rồi, mắt long lanh. Đôi mắt của cô bán vé số một thời đã hút hồn anh kỹ sư trẻ năm nào.
Giá như Lâm không đi nghiên cứu sinh, Mai Hoa cứ bán vé số ở phố Huế, họ cứ sống như xưa thì hạnh phúc biết bao. Lại lẩm cẩm rồi. Hạnh phúc nào. Hạnh phúc thời đại công nghệ số phải đếm được, định lượng được chứ. Mấy người cùng đi đợt nghiên cứu sinh với Hoa giờ đã là các đại gia có tên tuổi rồi, bắt tay các quan chức, trả lời phỏng vấn, tài trợ cho chương trình nọ kia. Họ thức thời bỏ ngay khoa học, đi buôn, trốn thuế. Chỉ có anh là làm xong cái luận án không ai cần đến ấy và vợ vẫn cứ sớm chiều ra chợ ở tỉnh lẻ. Lần nào Mai Anh lên Varsava về cũng gây sự với chồng. Đúng là cùng tuổi đẻ phải giờ nào mà chúng nó sướng thế, các bà chủ ở Varsava ấy.
Thôi, thế là hỏng rồi, lại lọan Tâm rồi.
Không thiền được anh ra cửa sổ hít thở xả khí. Đã nửa đêm. Bên kia nhà mẹ con Anin tắt đèn. Còn mỗi mình thôi, im ắng quá và như câu thơ của Berggolt từ đâu len vào đầu anh “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi” để những Tạp Niệm cứ không buông, như sóng biển đợt này rút đợt khác lại trào dâng chà xát Tâm anh.
Lại những cảnh cãi cọ vợ chồng xưa, cảnh Mai Hoa mắng chửi ông già bảy mươi tuổi người Ba Lan đứng bán thuê lấy tiền ăn bữa trưa. Ông ấy tay run đã để tuột bó hàng và đứa con anh mười lăm tuổi cũng hùa vào với mẹ.
Cái vòng luẩn quẩn đó ngày càng to lên theo năm tháng cùng với vốn liếng hàng họ. Chỉ có nhu cầu ân ái vợ chồng ngày càng tắt rụi. Chút trí thức xưa của anh vẫn đòi hỏi, thèm khát những lời nói ngọt ngào, những vuốt ve run rẩy trao những âu yếm dịu hiền rồi mới đến cái cuối cùng đó, lại luôn bị ám ảnh thui chột bởi những hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ chợ búa của vợ
Anh trở nên vô tích sự cả trong mắt vợ, cả trong mắt bà mẹ vợ, người mà khi xưa rất tự hào có cậu con rể kỹ sư, trong mắt mọi người ở chợ từ khi nào. Có lẽ từ khi Lâm bận chuẩn bị bảo vệ luận văn để vợ lên Varsava lấy hàng một mình, Mai Hoa đã không lấy hàng chỗ cậu em họ mà lân la sang chỗ Tiến Don Juan. Hàng rẻ hơn, cho chịu nhưng phải ra kho xa tận ngoại ô. Xong việc đích thân chủ hàng còn tự mặc cho Mai Hoa hai mảnh áo trong màu xanh nước biển vừa xuýt xoa, vừa níu kéo mép vải, ngón tay khẽ luồn vào một chút mơn man làn da ả: “Anh mua ở Milan đấy. Sao lại vừa với cỡ em quá. Ngày lễ xong thu xếp lên mấy hôm, có hàng mới đấy, hàng Thổ chạy lắm, rồi chúng mình đi bơi ở Mariot nhé”.
Tiến còn có một quán bia nữa và là chỗ để anh ta khoe khoang các chiến tích có được với các em chân dài, các vợ đại gia. Ở đây không dính đến tiền nhé. Có tiền mua tiên cũng được, nói làm gì. Varsava thiếu gì người có tiền. Đây là khoe cái chất đàn ông hơn người của Tiến. Lần này trong bộ sưu tập đã có thêm chút khác biệt: “Vợ một Tiến Sỹ đấy, máu Tarta thật, cứ như...” - Tiến buông mấy lời tục tĩu bằng tiếng Tiệp, cái vốn liếng ngọai ngữ tích cóp được sau gần chục năm đi lao động ở đó rồi rót rượu thuốc khao các chiến hữu: “Các bố cứ trẻ với trắng, có ra cái gi, nhạt thếch. Phải như cái màu rượu này”. – Tiến cầm chai lên tu chỗ còn lại rồi tay vung vẩy chai không, cất giọng trọ trẹ nghêu ngao: “Cho da em nâu tươi màu suy nghĩ. Đến mùa tình ý hai chúng mình cùng đi”. Tiến mở thêm một chai rượu Vodka, miệng vẫn say sưa: “Mà nàng lại vừa bốn mươi, đủ cả bốn mùa, nồng thắm làm sao”.
Sau lần điều trị bệnh áp huyết và đau đầu ở bệnh viện Lâm chia tay vợ. Sớm muộn điều đó cũng đến thôi. Họ không thuộc về nhau đúng như câu thơ Lâm đọc hồi nào “Những cái em cần anh chẳng có. Em không màng những ngọn gió anh trao”. Đứa con trai theo mẹ, nó quen chợ búa rồi. Mẹ con Mai Hoa bán chỗ và cả họ chuyển lên Varsava làm ăn lớn. Cô em út nhà Mai Anh được Lâm làm giấy tờ đưa sang đã được bà chị mai mối, trở thành vợ của Tiến Don Juan. Phần Lâm là kho hàng tồn, cái xe Nissan và những đống sách, các tranh ảnh, đĩa nhạc, là những đồ lẩm cẩm, những ngọn gió của anh.
Thu vén xong anh về nước mua nhà trong ngõ vắng khuất nhưng chỉ hai trăm mét là ra ngay phố Láng Hạ nhộn nhịp với các công viên, rạp chiếu bóng, ngân hàng, cửa hàng. Mới có hơn năm Lâm về ở, trong ngõ vẫn vậy, ngách nhà anh vẫn như một không gian bị lãng quên mà phố thì thay da đổi thịt hàng tháng với các Building mọc lên nhiều, các ô tô sang trọng đắt tiền cũng nhiều hơn. Số vốn còn lại, một phần gửi tiết kiệm, một phần cho vào chứng khoán. Khác với đám đông trên sàn, Lâm chỉ lặng lặng chơi loại cổ phiếu mệnh giá thấp của mấy công ty đã cho cổ tức gần với lãi ngân hàng. Khi có sóng đánh lên, giá nó lên theo, trên giá trung bình trong khoảng hai ba phiên là anh ra dần theo phương pháp chia đôi Dichotomy5, thu tiền. Kiểu gì nó cũng giảm. Xuống dưới giá trung bình hai ba phiên là thu gom dần. Mỗi năm cũng được bốn năm vụ mỗi cổ phiếu. Như một nhà khoa học anh tuân thủ đúng nguyên tắc của Warren Buffett6 “Chẳng có gì lên mãi, chẳng có gì xuống mãi. Mua theo ý đầu tư, bán theo ý đầu cơ”. Sự thành công kín đáo của anh trên sàn chứng khoán sao dễ dàng thế mà với học Thiền anh cứ loay hoay...
Đang vẩn vơ bỗng Lâm cảm giác ở tầng hai nhà đối diện có bóng chuyển động. Người phụ nữ ra đứng hứng đêm vắng ở balcon này sao lại làm anh bối rối đến nghẹn thở, toàn thân bỗng đờ ra. Một lúc sau tĩnh lại anh len lén đi vào phòng nằm xuống, nhắm mắt vẫn cảm giác đê mê với những đường cong lượn dịu mềm vừa thấy. Anh bỗng cắn môi, hít thở thật sâu, bấu chặt tay xuống đệm, lắc đầu xua đi những ý nghĩ thèm muốn của bản năng đang trào dâng. May quá, anh qua được giây phút đó như đã xa được bờ một vực thẳm. Một cảm giác yên tâm ngọt ngào đến với anh. Lâm thả lỏng người, thở đều. Trong đầu chỉ còn lại một ý nghĩ là anh không một mình thức trong cái tận cùng này.
Rồi anh ngủ thiếp đi. Trong mơ lại như nhiều lần, Lâm thấy mình chưa làm được gì, quỹ thời gian cạn dần, vẫn một mình, chưa hề có vợ con, chưa hề có ai mà đã gần năm mươi rồi. Một cảm giác bất an, sợ một mình trào dâng. Đôi khi thấy hình bóng mẹ, chờ đợi và buồn bã.Mẹ không nói, chỉ nhìn chăm chú, cái nhìn có xót thương và trách móc.
Lâm thấy lặng đi, tiếc nuối. Anh cố bấu víu sắp xếp, nhớ lại các mốc thời gian xem có nhầm lẫn gì không, có làm được gì đáng kể không, có sót ai trong đời không. Mãi cũng không thấy gì, chỉ thấy những năm tháng vô tình, một mình, cố nhớ những sự kiện thì toàn là vô hồn, vô cảm.
Lâm trào nước mắt muốn kêu lên, phải có ai đấy chứ, phải có ai nghe thấy tiếng gọi chứ. Không chịu, như thế không công bằng. Lâm không muốn đi qua cái thế giới này một cách hời hợt như vậy, không muốn nộp bài để trắng...
Sáng hôm sau Lâm dậy muộn. Thứ bảy sàn chứng khoán nghỉ. Anh đi dạo ra hồ. Cần chuyển động. Tĩnh quá, nghĩ nhiều quá mất chân âm. Chẳng thế mà các nhà sư ngày xưa phải gánh nước, lấy củi, tập các bài võ, đi khất thực chứ có như các sư bây giờ đâu, lên xe xuống xe, sành điệu. Trong chùa thì cứ như một kho bạc tiền đủ loại. Thế mà cứ đi qua góc sân chỗ người ta khiêu vũ, tự tiếng nhạc du dương hay xập xình, những vũ điệu kia lại rung động Tâm anh, lại xua được đi các xáo động tạp niệm luẩn quẩn trong đầu anh. Anh ngồi xuống ghế đá cạnh hồ xòe tay nhắm mắt, thở sâu, tập trung lên Bách Hội. Các Luân Xa, Ngũ Tạng cứ như mở ra và quay theo tiếng nhạc, lại như có dòng khí trắng cứ cuốn đi vào cơ thể và bài tập Thiền được thực hiện dễ dàng. Chính anh cũng thấy lạ, có lẽ là thói quen xưa thời đi học, quen ngồi đọc sách bên cửa sổ nhìn xuống phố, quen với tiếng gõ đập nhức đầu cửa hàng sắt bên cạnh lẫn với tiếng tiếng ỉ eo từ cái dàn kaset sân trên vọng xuống. Những âm thanh ồn ào đó làm anh yên lòng chứ im ắng quá anh thấy buồn ngủ, chán đọc, đôi lúc lại bồn chồn hay nghĩ lan man.
Vẫn có cuộc sống ồn ào trôi bên cạnh nhưng không liên quan đến anh, không động đến thế giới con của anh mà lại như bao che cho nó. Lòng anh cũng như cánh buồm lẻ loi của Lermontov vậy: “Buồm lại đi tìm giông bão. Như trong giông bão có bình an”.
Một lần nhạc ở chỗ sân khiêu vũ hay quá mà lại hết ghế trống ven hồ, anh mon men ra gần đó rồi ngồi tựa vào bậu tường cạnh hàng rào, nhắm mặt xòe tay hứng nhạc, thiền. Mấy người đang nhảy xì xào, ai lại tập thiền chỗ ồn ào này. Một cô còn ra rủ Lâm nhảy cùng. Lâm xấu hổ chống chế:
- Tôi không biết nhảy, lại đau khớp chân, thấy nhạc hay quá, ngồi nghe nhạc, tập thở thôi chứ thiền với thiếc gì.
Họ biết anh nói dối vì có một lần, lâu rồi, hồi Lâm mới ra hồ, trời mưa không to, trong công viên các câu lạc bộ thể thao, khiêu vũ đều tìm chỗ trú mưa. Nhạc loa trong cái tủ được che mưa cản thận vẫn vang lên, chen lấn với tiếng mưa. Nhiều người vẫn đi bộ che ô. Lâm cầm ô trú dưới gốc cây. Bỗng sau khi dứt tiểng hát múa Lào ỉ eo là vang lên giai điệu Valse yêu thích của anh. Mưa cũng hơi ngớt. Lâm như bị thôi miên bởi tiếng nhạc. Nó gọi anh. Không cưỡng được, anh treo ô lên cây và bước ra sân xoay người lướt theo nhịp ba bốn. Trong đám người cũng có một phụ nữ bước ra rồi vừa quay vừa lại gần anh. Đã có một đôi dập dìu nhau lướt xoay dưới những hạt mưa mát nhẹ, các đôi khác cũng bước ra. Tiếng nhạc dứt Lâm buông tay cất tiếng cảm ơn. Người phụ nữ nọ như bi hẫng nói còn một vũ hình nữa, khuỵu chân, nghiêng minh, te để chào nhau. Lâm bị bất ngờ nên không kip phản ứng chỉ biết chào, quay đi để rồi ân hận mãi.
Lần này đi được hai vòng hồ giữa dòng người đi dạo đông đúc, tiếng nhạc, tiếng cười thì mặt hồ đã lác đác những chấm nước mưa, rồi cơn mưa to ập đến, nhanh chóng xua đuổi tán loạn các đám người về các hướng khác nhau. Đông nhất là trú trong sảnh sau tòa nhà của Tập Đòan Dầu Khí. Đằng nào cũng bị ướt sũng, mình Lâm thong dong đội mưa qua đường về nhà. Ngõ đây rồi, vắng tanh. Cuối ngách lại thấy Ngân đứng trước cổng tay cầm ô. Nước mưa như xối để xóa đi cái hình bóng người phụ nữ đứng trên balcon tối qua. Cô ngẩng lên nhìn Lâm qua những giọt mưa rơi. Tiếng gọi bị tiếng sấm to ầm át đi. Một chút thôi Lâm hiểu ngay. Bé con bị sốt, phải đưa đi cấp cứu.
- Cô vào với cháu đi, áo mưa cho khỏi ướt, mấy đồ cần thiết nữa mang theo. Tôi ra gọi xe, mười phút nữa quay lại – Lâm nói gọn, rõ át tiếng mưa, rồi quay người chạy ra ngõ, tìm xe, đưa mẹ con Ngân đến bệnh viện.
Buổi trưa tạnh mưa. Lâm ăn tạm gói mì, uốc thuốc cảm xong nằm nghỉ. Mọi hình ảnh hiện lại trong đầu Lâm cứ như quen lắm, đã gặp từ bao giờ, đã có trong quá khứ. Cơn sốt vì ngấm nước mưa cũng không làm đầu Lâm dứt được ý nghĩ là có lẽ cảnh hôm nay đã diễn ra trong một bộ phim đen trắng xem thời nào. Không phải là tình cờ, mọi thứ như được ai đó viết ra, được diễn theo một kịch bản. Ồ, mình được có vai, vai đóng chính mình.
Mặc cơn sốt đến bồng bềnh Lâm vẫn gắng tua lại cảnh sáng nay từ đầu.
Cảnh Ngân đứng dưới mưa gọi anh, cảnh anh đỡ che đứa bé cuốn tròn trong chiếc áo mưa từ tay nàng, cảnh trên Taxi, trong bệnh viện... Cuối cùng là cảnh Ngân chạy ra balcon tầng hai của bệnh viện nhìn theo anh ướt sũng đi về. Hình ảnh đó rồi mờ dần trong mưa và lại hiện dần hình người phụ nữ ra đứng balcon nhà đêm qua. Anh cố tập trung níu giữ hai hình rồi từ từ kéo chúng hòa nhập làm một. Cứ thế Lâm nằm ngửa, nhắm mắt, dùng Tâm Ý giữ chặt hình ảnh trước mắt, chăm chú hít thở sâu đều chậm nhẹ để không làm nhòe, tan mất bóng hình đó.
Đến một lúc cái bóng hình đó bỗng như rung rinh, kéo gần đến anh, rõ ra. Cả cái áo không cổ màu xanh lá cây, cái cúc trắng trên cùng không cài để lộ một chiếc nốt ruồi đen như bị rớt từ cổ, tuột xuống và đậu lại trên bờ vai trắng nuột. Khuôn mặt Ngân đến gần, các nét rõ lên, cả làn môi dưới tươi hồng ngang mọng nửa cương quyết nửa hờn nũng, cả đôi mắt to đen buồn nhìn chăm chú, đau đáu. Lâm im lặng, tập trung quan sát khuôn mặt đó. Không biết qua bao lâu thời gian, khuôn mặt đó lại dịch chuyển gần nữa rồi áp vào mặt anh, chạm vào môi anh, thấm tan vào anh. Lâm cũng như tan ra trong vũ trụ bao la cùng Ngân. Chỉ còn những chấm sao sáng lâp lánh, những dải linh quang huyền ảo.
Có lẽ chỉ năm bảy phút trôi qua rồi Lâm dần trở về với mình. Anh từ từ hít thở, điều khí. Anh chưa muốn dậy, nằm hưởng nốt dư âm của khỏanh khắc kỳ diệu vừa có. Anh thấy đầu nhẹ tênh, sáng rỗng, tỉnh táo. Cứ như là đã có khỏanh khắc Thái Cực sinh Âm Dương, và Âm Dương lại giao hòa nhau về Thái Cực. Mọi thứ tầm thường vụn vặt của cuộc đời tan biến, chỉ còn lại một cảm giác trìu mến và yêu thương từ cả những cõi vô biên của Vũ Trụ dồn về tràn ngập cơ thể.
Anh bắt đầu suy ngẫm về cái hiệu ứng xảy ra. Có phải là mình đã vào được Vô Thức rồi à. Điều đó cũng không quan trọng. Nếu không phải là Vô Thức của Phật Pháp, của Đạo Gia hay Yoga thì là Vô Thức của mình, một hiệu ứng A, B, D cho mình. Anh tự nhủ mình là có gì quan trọng đâu, cái chính là thấy khỏe mạnh, thư thái và bệnh cảm sốt đã qua đi lúc nào.
Là nhà khoa học Lâm đã rất cẩn thận trong việc tiếp cận đến các phương pháp Huyền Môn cổ truyền của Phương Đông. Anh nằm ngước mắt nhìn lên giá sách. Bỏ qua ngăn trên là các sách Kỹ Thuật chuyên môn, Toán, Vật lý, ngăn dưới là các sách về kinh doanh rồi tiếp là các quyển sách triết học Descartes7, Kinh dịch, Kinh Thư, Phật Giáo... rồi là các sách liên quan đến thần kinh, bộ não như Tâm thần phân liệt8 (Schizophrenia), Cận Tâm Lý9 (Parapsychology) v. v.
Sống một thân một mình ở cái ngõ ngách cụt này anh rất cảnh giác với các dấu hiệu ngộ nhận, ảo giác hoang tưởng, rối loạn về trực giác, thính giác. Quyển sách anh đang đọc dở “Lý thuyết giá trị gia tăng” của John Nash10 vẫn để chênh vênh trên bàn. Không biết rõ cái ông bác học nhận giải thưởng Nobel Kinh Tế này đã chữa xong bệnh tâm thần phân liệt của mình bằng cách nào, nhưng chắc không dễ hơn cái lý thuyết nổi tiếng của ông. Cái nhìn của Lâm dừng lại ở bức tranh treo cạnh giá sách mà anh vẽ minh họa cho câu thơ không biết của ai.
Chim nhạn bay trên không
Bóng in xuống giữa dòng
Nước không tâm giữ bóng
Nhạn không ý trầm sông.
Có tiếng chuông điện thọai. Một giọng nói oang oang vang lên:
- Ông Lâm đấy à, có nhận ra ai không, Sơn đây.
- Sơn Hằng đấy à – Lâm nhận ra ngay người bạn đi nghiên cứu sinh cùng anh năm ấy. Chính anh đã giúp Sơn làm giấy tờ mở công ty và đón vợ sang.
- Hằng nào. Sơn Tao Đàn đây. Tôi cũng như ông, độc thân rồi. Mò mãi mới ra số phôn của ông. Bọn tôi mấy đứa chiều nay ở Hồ Tây, ông lên đi, có nhiều điều bất ngờ cho ông đấy. Bài thơ ông viết về Chợ Tuyết ấy, cái câu thơ “Tuyết rơi, chợ vắng, chiều rồi. Dọn hàng về nhé, có người đợi em” làm một cô Kim Loan mua vé bay về đang đòi gặp tác giả đấy. Nàng ấy vẫn nhớ ông đấy, vẫn giữ bài thơ kỷ niệm ông tặng ở chợ quê năm nào mà. Người ta tìm tác giả bao nhiêu năm rồi, khắp các nẻo đường góc chợ ở Ba Lan. Tháng trước nhân có hội đọc thơ Tao Đàn, tôi mới được thấy bài thơ đó, nhận ngay ra nét chữ của ông. Nghe nàng tả lại thì đúng là ông rồi. Một giai nhân đấy, một ẩn số trong phương trình mà chỉ mỗi ông mới có thể giải được thôi. Cánh độc thân chúng tôi đều ghen với ông đó.
Lâm còn nghe thấy mấy tiếng cười, tiếng léo nhéo, có cả giọng đàn bà. Hóa ra là hội thơ Tao Đàn của bà con trên Varsava. Cũng có một số người, không nhiều, đi làm ăn kiếm tiền, vất vả, tha hương mà vẫn không quên, hay chưa quên những câu thơ tiếng Việt. Họ tìm nhau, chia sẻ những bài thơ, kỷ niệm, những ước mơ cất giấu. Lâm xin lỗi, hẹn ngày mai. Hóa ra mình đâu dễ bị lãng quên trong cái nơi ẩn náu này. Anh cũng muốn gặp họ dù trong lòng có một chút ngại ngùng. Hôm nay thì không được, anh phải vào bệnh viện thăm người ốm. “Thăm Anin, thăm Anin, thăm Anin” - Anh nhắc đi nhắc lại như mắng mình. Thật đáng xấu hổ. Có thật là vì thăm thằng bé bị sốt xuất huyết đang nằm li bì tiếp nước hay là vì mẹ nó, vì cái nốt ruồi đen ở vai ấy.
Buổi chiều tạnh mưa. Trong sân bệnh viện có một chiếc Mazda trắng đón một ông đang đi xuống. Bà vợ đứng cạnh xe đang oang oang điện thọai về chuyện làm ăn, giá cả, bất động sản gì đó bỗng ngừng lại rít lên:
- Đi gì mà chậm vậy, lại không chịu mặc che cho kín gió. Sốt xuất huyết mà bị lại dễ biến chứng lắm đấy, nhẹ cũng thở thành thằng điếc. Tối nay vợ chồng lão Dương mời đi nhà hàng bàn chuyện chung nhau mua lại cái khu sinh thái bên Đông Anh đấy.
- Điếc được thì may qua rồi – người chồng lầm bầm nói rồi chui vào xe.
Lâm lên tầng hai. Anh đặt tay vào Balcon, nơi Ngân đã vịn đứng nhìn theo anh, hít một hơi thật sâu, rồi gõ cửa. Họ ở phòng này. Anin đang nằm ngủ trên giường. Cô gái ngồi bên ngừng cái trò chơi điện tử trong tay quay ra chào anh. Không phải là Ngân. Cô này chắc trạc tuổi Ngân, trắng, mặt tròn xoe, cũng khá xinh nhưng có vẻ béo thấp hơn. Ngân thì quá chuẩn rồi. Trong phòng có ba giường nhưng hai giường kia trống. Cô gái rất tự nhiên đứng dậy đỡ hộp sữa và túi cam Lâm cầm vào: “Anh đến sớm một chút thì gặp Ngân. Chiều nay có một hội thảo quan trọng ở công ty, nó lại phụ trách. Em vào chăm An cho nó. Em là Khanh, cũng là mẹ của An đấy. Cứ tưởng ông, bác, không ...” – Cô dừng lại nhìn anh một cách bao quát – “Anh đâu trông có già, trẻ quá, trẻ hơn cả chồng em đấy”. Khanh cứ hồn nhiên nói. Hóa ra cô nàng mới lấy chồng và là tập hai:
- Chúng em chênh lệch đến mười sáu tuổi. Anh ấy là Tiến Sỹ. Thời buổi kinh tế thị trường này mà cứ suốt ngày vùi đầu vào mấy công thức sách vở ấy. Vợ nó bỏ. Em thì lại hợp. Em nghĩ kỹ rồi. Tiền nó bạc, tiền nó tệ. Đôi khi mình cứ phải bình tâm, yên lòng lại trước cơn sốt tiền, cơn sốt thành đạt bằng mọi giá của thiên hạ. Tiền nhiều quá lú hết còn chỗ đâu cho yêu thương nữa anh. Mọi người cứ như trong cơn say nghiện ấy. Mình phải so với mình trước kia chứ. Bây giờ đâu đến nỗi, chỉ cần học hành cẩn thận, có nghề nghiệp, việc làm ổn định, ăn giờ hết mấy, tiêu pha thì vô cùng và là do mình chứ, không phung phi vẫn cứ để dành được đi du lịch. Ốm đau đã có bảo hiểm, sao cứ phải cuống lên thế. Em thì không đẻ được, cắt hết trước ba mươi tuổi rồi. Không phải đẻ mà vẫn được có con, con trai anh ấy lớn hơn cu An. Chị nó thi ở với mẹ, anh ạ”.
Chỉ khỏang mười phút ngồi chơi, chưa uống xong cốc nước Lâm đã có được mọi thông tin về mẹ con Ngân, về cái ông chuyên gia Tây Ban Nha. Ông ấy không phải là bố đẻ của Anin, Khanh giải thích:
- Ông ấy đồng tính, có con sao được. Ông già ấy về hưu rồi, về sống ở Toledo. Anin là kết quả trên một chuyến tàu đêm từ Madrid đến Paris khi Ngân tranh thủ sang Pháp thăm họ hàng nhân chuyến đi công tác ở Tây Ban Nha. Trong coupe chỉ có Ngân và một thằng Tây Ban Nha hay Ả Rập gì đó. Nó cũng không nhớ rõ. Con bé lại dại uống đồ uống thằng đó mời. Sáng tỉnh ra thì đã xong, còn lại một mình trong coupe trên đất Pháp, thành đàn bà rồi. Đấu tranh mãi rồi quyết định đẻ. Ba mươi rồi chứ ít đâu. Bạn bè cùng học bao nhiêu đứa cũng nuôi con một mình đấy thôi. Có một đứa con, có chỗ để mình gửi tình thương, sự chăm sóc của phụ nữ. Thực ra em và nó chưa biết ai sướng hơn đâu. Nó khỏe mạnh, xinh đẹp, thông minh, hiền dịu, lại biết đẻ nữa. Anh đừng có cười nhé. Khối đứa bây giờ đầy tiền mà không đẻ được. Đàn ông có được mẹ con nó là vớ được vàng đấy.
Thấy Lâm vẫn chăm chú im lặng nghe, tay vẫn cầm quyển truyện “Những Chú Lính Chì” của nhà văn viết truyện cổ tích Andersen mang vào cho Anin, Khanh dừng lại nhìn anh dò hỏi:
- Anh không biết con Ngân nhưng nó biết nhiều về anh đấy, cả những bài báo khoa học có tên anh, cả những bài thơ của anh đấy. Nó có ông bác dậy ở Đại Học Bách Khoa, là giáo sư, về hưu rồi.
- Thầy Lạc – Lâm buột miệng. Người thầy giáo đáng kính, người mà anh hầu như chỉ gặp và chia sẻ qua mail, người luôn bao dung, động viên anh. Lâm thở dài, lâu qúa rồi không đến thăm thầy cô. Anh thấy xấu hổ có lỗi trước người thầy đã gửi gắm vào anh bao hy vọng.
- Mẹ - Thằng bé ú ớ mơ gọi rồi lại ngủ tiếp. Lâm muốn chờ nó dậy, chăm nó, đọc cho nó nghe những truyện cổ tích dành cho nó. Anh đã dành cho Mai Hoa và Chiến nhưng hai mẹ con không thích Cổ Tích.
Trong khách sạn Niko, nghỉ giải lao, Ngân trả lời vội vã mấy câu thăm hỏi của quan khách rồi lánh ra cuối hành lang gọi điện cho Khanh hỏi về Anin. Khanh lại tòan nói về Lâm:
- Ông Ngữ về rồi, gửi lời chào mày. Hình như thích được nằm ốm ở bệnh viện hơn về nhà với vợ. An nó dậy rồi, uống sữa, uống thuốc rồi. Đang nằm nghe bác Lâm đọc truyện cổ tích Nàng Tiên Cá đấy. Trông hai bác cháu say sưa tình cảm lắm. Mà tuổi mày hợp đấy. Vênh mười lăm mười sáu tuổi nhưng trông ông ấy phong độ lắm, con gái trẻ khối đứa chết.
Ngân nóng ruột quá vào nhà vệ sinh lau rửa cho tỉnh táo và trang điểm lại. Còn hơn tiếng nữa mới xong hội thảo. Cô vuốt lại cổ áo che chiếc nốt ruồi đen trên vai. Ngân nhìn vào gương, nghiêng đầu, giơ tay lên nhấc nhẹ sợi tóc ánh bạc. Sợi tóc vẫn đen. Sáng qua tìm thấy một sợi bạc gần đấy. Sao vậy, đây là mình chăng. Cảm giác bâng khuâng là lạ trào dâng trong trái tim người phụ nữ, cái cảm giác mà cô đã gặp đêm qua lúc ra đứng ở balcon nhà. Ngân lặng đi. Nhìn trong gương bỗng thấy đôi môi mím vừa tô son hồng khẽ bật mở ra. Một tiếng thở dài, ấp ủ, chờ đợi.
Buổi tối trong sân quán kem giải khát Thủy Tạ có người phụ nữ ngồi một mình mơ màng nhìn mặt hồ Gươm lung linh ánh điện. Mãi rồi, người ấy vẫn yên lặng, chờ ai. Có lúc cô cầm điện thọai bấm số nhưng sao lại không gọi. Thôi để mai kia gặp nhau ở nhà anh Châu vậy. Các anh ấy còn định mời thêm mấy người bạn cũ, nhà thơ, nghệ sỹ Piano đã từng sang Ba Lan đi chợ đến đọc thơ, đàn hát nữa. Lại dặn là nhớ mang theo giày khiêu vũ với đừng váy dài quá, vướng. Anh Châu nói anh Hưng mê Valse lắm. Còn cả một tháng nữa ở Hà nội cơ mà. Có gì thì hõan vé bay vậy, mấy thứ cần gấp gửi cái Thu mang sang Ba lan trước cũng được. Lâu quá mới về Việt Nam. Khác nhiều quá rồi. Mà sao mình vẫn thế, vẫn như ngày nào, vẫn bồi hồi mong mỏi. Hâm ạ.
KHÔNG CÓ NỔI BỘ PHIM
Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời
(thơ Trần Dần)
Lâm đam mê âm nhạc từ bé dù không có giọng hát. Niềm đam mê đó nhiều khi giúp anh qua được những giây phút khó khăn trong cuộc sống. Hồi còn ở Ba Lan, sóng gió gia đình như cơm bữa, Mai Hoa lại bắt đầu quát tháo giọng chợ búa, tru tréo, chuyện nọ móc sang chuyện kia, đứa con vào hùa với mẹ, hỗn láo, anh bất lực, muốn phát điên lên. Cuối cùng anh đều cố kìm được. Anh vào kho dọn hàng rồi đánh xe ra ngoại ô đường vắng, giữ chặt vô lăng với tốc độ trăm tư, trăm sáu, có khi còn hơn. Qua đồi dốc phia tây bắc Crakov là con đường ngã xuống sóng xoài, rồi tự xé làm đôi về hai hướng xa dần nhau. Lâm thường bẻ lái sang bên trái, hướng Tây, vùng Katovice, vắng xe hơn, nơi con đường sẽ đưa anh qua những khu rừng, những hồ nước.
Anh lại bật nhạc trong xe. Cảm giác không phải anh lái xe nữa mà là con đường như cuốn hút, kéo chiếc Nissan như bay lên, lướt xuống theo dòng nhạc, lúc du dương, lúc rộn ràng âu yếm dụ dỗ, làm dịu lòng anh đi. Cảnh trời mây, núi rừng, sông hồ miền nam Ba Lan cứ như huyền thoại trong phim mà anh vừa là khán giả, vừa là diễn viên. Những ý nghĩ điên rồ, khổ sở, những dày vò trong đầu lại lắng xuống. Thế đấy, mọi thứ chỉ là trong vở kịch, phim diễn. Mình chỉ là đã chọn và được nhận một vai, được chơi thôi mà. Tất cả đều là theo kịch bản, được sắp đặt trước chứ có gi thật là của minh đâu mà bực bội, lo lắng. Hãy diễn cho đạt và hãy tận hưởng các phút giây đang trôi đi, các cảnh diễn nhé, cả niềm vui, cả những nỗi đau. Tiếng nhạc như đệm cho lời ai thầm thì, khuyên nhủ, có lúc còn trách móc. Kém quá Lâm ơi, thế mà nhận vai, thế mà làm người đấy. Gió vẫn rít phần phật lọt qua kính, phả vào mặt anh, làm nguội đầu anh. Tiếng gió lại hòa trộn với âm thanh phát ra từ hai loa con trong xe treo phía sau, rộn ràng.
Anh đã bình thường trở lại.
Trên đường về anh thường ghé qua nhà dân hỏi mua, sữa, pho mat quê, rau, thịt, và lần nào cũng vậy, tìm chọn hai ba con ngan béo cho nhà và cho bên nhà mẹ vợ.
Nhưng rồi Tập Một của bộ phim của đời Lâm đã phải kết thúc. Không biết sẽ có Tập Hai không. Nếu có, nó sẽ đến đâu, với những nhân vật nào, nhưng chắc trong kịch bản sẽ không có vai dành cho vợ con Lâm nữa. Cả nhà vợ đã định cư ở Ba Lan. Họ đã sang bộ phim khác dành cho họ, những người đương thời năng động. Cái loại phim cũ kiểu “Chàng ngồi đọc sách nàng ngồi quay tơ” bây giờ ai xem. Cái câu thơ bà mẹ ru con gái thời xưa “Cơm sôi rút lửa con ơi, dưởi khê trên sống ai người chịu ăn” ai nghe. Ngay mẹ vợ anh không biết đến nữa là Mai Hoa. Nói chung phụ nữ bây giờ không biết đến những câu kiểu đó. Sự ham muốn sở hữu mọi thứ, tiền bạc, danh tiếng nọ kia không thua kém ai đã lấp kín tâm trí họ, không có chỗ cho những thứ cổ lỗ sĩ, sách vở ẩm ương hâm hấp.
Cùng với số tiền kiếm được ngày càng nhiều, Lâm càng mất đi cái gia đình, vợ con mà anh đã gửi gắm bao mơ ước. Chua xót nhất là thằng con trai mới năm thứ nhất đã bỏ học, suốt ngày rong ruổi chiếc BMW đến các quán xá tụ tập các cậu ấm, thiếu gia người Việt ở Ba Lan. Tử vi nói sau này nó sẽ thành đạt lắm. Người ta thành đạt giàu có bây giờ đâu có phải nhờ học hành sách vở. Giầu vì bạn mà. Xem bạn nó đấy. Toàn xe đẹp. Xem mẹ nó đấy. Toàn quen người sang giầu.
- Đồng tiền nó vốn thông minh, nó luôn tìm đến những người thông minh. Mà ngày xưa các cụ cũng dạy rồi, có tiền mua tiên cũng được – Đó là lời Mai Hoa luôn nhắc nhở con trai.
Đúng là “Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu”, Lâm im lặng, lòng anh khép lại. Mua bằng, mua quan chức là chuyện tất nhiên. Mua Tình càng rẻ. Ở nhà mình anh thành lạc loài. Năm thì mười họa có mấy ông bạn đến chơi, toàn nửa trí thức, nửa trí ngủ. Lại toàn những chuyện dở hơi, hết chuyện Lão Tử , Đông Chu, lại Bethoven, Glinka, dân ca Nga, lại Eínstein mới khổ chứ. Bà ngoại thì gọi đó là lũ hấp. Mai Hoa gọi là bọn vô tích sự. Chiến gọi thẳng bố và hội bạn bố là lũ hèn. Sự thể là lần gần nhất mấy đại gia trên Vacrsava theo Mai Hoa xuống tận nơi nhờ Lâm đưa quà cáp giới thiệu cho một quan chức thành phố Crakov để giải quyết chuyện làm ăn hàng họ. Chỉ riêng quà cho Mai Hoa có một chiếc đồng hồ đeo tay đã hơn mười ngàn đô rồi. Crakov là tỉnh lẻ nhưng cũng có sân bay quốc tế, lại ít người Việt Nam, ít tai tiếng và các đại gia đã không bỏ lỡ cơ hội tận dụng cái cửa khẩu này để đưa người, đưa hàng. Qua sân bay Varsava giờ kẹt quá. Lâm từ chối. Trong vòng xoáy của cuộc sống xoay quanh đồng tiền, “cái con đĩ của nhân loại này”, như lời than của Gorki, Lâm đã mất đi nhiều người bạn. Anh muốn chắt chiu những gì còn lại. Người bạn Ba Lan có quyền lực này Lâm quen trong nhà hát lớn khi xem vở kịch “Vua Lear” do đoàn kịch hoàng gia Na Uy sang diễn. Ông ấy cũng rất thích những bài thơ Lâm viết hoặc dịch và đăng ở báo Ba Lan. Khi anh ốm nặng nằm trong bệnh viện vợ chồng ông đến thăm luôn và Marek là người duy nhất tiễn anh vào tận máy bay ở sân bay Crakov về nước sau đó.
Lâm trở về Việt Nam, một mình trong ngôi nhà khuất vắng cuối ngõ cụt.
Người ta bảo trong Nguy có Cơ. Anh mang về nước một số vốn không nhỏ. Mua xong ngôi nhà có sân vườn cuối ngõ cụt, còn lại anh chia làm ba rổ, gửi ngân hàng, một phần mua vàng, còn lại là cho vào chứng khoán. Nhưng anh còn mang về theo cả một đống bệnh, nào tiền đình, đau đầu, áp huyết, loạn nhịp tim, tĩnh mạch, mỡ gan, mỡ máu, dạ dày, khớp gối v.v. và v.v. Như thế có khi lại là tốt – Lâm tự nhủ - Có cơ đấy, có cái đích cuộc đời, đỡ phải đi tìm, nghĩ ngợi, băn khoăn, tham vọng. Có được một cuộc chơi đối kháng. Một bên là chúng nó, lũ bệnh tật chết tiệt. Một bên là mỗi mình. Việc của anh là phải cầm cự, không khuất phục, rồi phải tìm cách chiến thắng cái lũ bệnh này, đuổi chúng đi. Phải khỏe, trở lại với Lâm ngày nào. Mà điều đó phụ thuộc vào chính mình, không liên quan phiền hà đến ai, sướng chưa. Mọi chuyện khác là của thiên hạ.
Phải nói là công nghệ truyền thông theo mọi người khắp nơi. Đi dạo công viên một vòng, đứng ngồi tập thở năm mười phút là xong mọi bản tin. Hiện nay chuyện ngộ độc thực phẩm, chuyện tham nhũng nhàm rồi. Mọi người quay sang lo lắng về sự hư hỏng của các cô chân dài, sự tha hóa của xã hội. “ Hiền, ngoan, đảm làm gì chứ, dốt cũng được, hư thân cũng được… miễn là xinh. Giỏi là gì, tốt làm gi, gian cũng được, thiên hạ chửi cũng được, mà họ chỉ toàn chửi đằng sau, trên mạng chứ có ai dám chửi vào mặt đâu. Lúc đó lại chả khen vội, nịnh vội. Tóm lại miễn là giàu, có chức quyền” - Một ông đang hùng hồn kết luận sau khi kể lại mấy chuyện trên báo. Ối dào, mấy ông sướng quá hóa rồ rồi. Cứ như mấy cậu bé đánh giày kia, cả mấy cô đồng nát đi bới rác nữa, chắc họ chẳng hề quan tâm, mong sao có được tiền để ăn và trả nhà trọ tối nay. Đất đai trồng cấy ở quê tổ tiên để lại bán hết rồi, tiêu hết rồi. Vẫn phải sống mà, phải có cái gi cho vào mồm chứ. Nỗi lo của người nghèo thật đơn giản, thế thôi. Lâm cố lý sự với mình, đuổi những ý nghĩ không để là gì đi, chỉ làm lòng anh đôi khi se lại. Trái tim anh đã khép kín với bao mơ ước thuở nào về Hạnh Phúc, về Lương Tâm và Danh Dự. Hai từ cuối lâu lắm anh không nghe thấy ai nói cả. Chắc vẫn còn chút xấu hổ trong thiên hạ...
Về bệnh tật thì lúc đầu anh cũng đi khám chữa như mọi người. Vấn đề không phải là tiền hay thời gian, hai cái này anh không thiếu, mà là cách khám chữa anh thấy có gì không ổn. Chủ quan, hời hợt thế nào ấy và cuối cùng là các xét nghiệm không đâu vào đâu, rồi một loạt thuốc đắt tiền được kê ra. Anh cần một bác sỹ còn biết chăm chú nghe và chia sẻ như cô bác sỹ chữa bệnh cho anh bên Ba Lan ấy. Nghe nói ở Trường Y có câu lạc bộ khiêu vũ. Anh cũng giày dép, quần áo chải chuốt đến. Mời cô nọ cô kia nhảy, làm quen. Hóa ra chẳng có cô bác sỹ nào cả. Bác sỹ giờ bận lắm. Tìm họ thì đến phòng khám riêng. Thời giờ của họ là vàng bạc. Ai cũng đi ô tô sang cả.
Thôi, anh đi bơi, tập Yoga chữa bệnh, nghiên cứu y học Đông Tây. Bệnh nhân là người thầy thuốc tốt nhất và hơn nữa chính là thuốc của chính mình. Trong máy tính là các thư mục lưu chứa các tài liệu tin tức trên mạng tải về liên quan đến sức khỏe, thuốc thang, chữa bệnh . Các chậu trong sân, trên balcon anh trồng các loại rau, cây thuốc, từ đinh lăng đến diếp cá, từ rau sam đến lược vàng. Tủ kính là các chai lọ từ vỏ bưởi sấy khô, vừng đen, mộc nhĩ đến tinh nghệ. Mà toàn anh tìm mua về rồi tự làm lấy. Làm nhiều, gặp ai cần anh tặng bớt đi.
Và điều kỳ diệu rồi cũng đã đến. Chính ông thợ cắt tóc cũng ngạc nhiên:
- Chỗ tóc mai bạc của anh dạo này đen lại nhiều quá đấy. Mấy tháng trước anh trông ốm lắm. Bây giờ trông khác hẳn đấy. Mấy cô giáo trong trường mẫu giáo bên kia hỏi về anh đấy. Người cần gia sư cho đứa lớn. Người thì đưa đón đi nhà nhà trẻ cho đứa bé. Có người thì tìm Patner học nhảy cùng ở lớp Dancing buổi tối trong trường. Như anh giờ là được đấy, nhất anh.
- Ờ..., tại khí hậu đấy, với lại dạo này tôi uống trà Diệp Hạ Châu quảng cáo trên vô tuyến. Uống liên tục, mát gan nên ăn được nhiều, ngủ đến sáng. – Lâm nói lảng ra để câu chuyện bẻ sang hướng về các loại trà, các loại thuốc chữa bệnh. Không hiểu sao ông thợ cắt tóc người Nam Định này cứ hay quan tâm anh và biết khá rõ hoàn cảnh anh.
Có vẻ anh hồi phục lại dần không chỉ do loại trà làm từ cây Chó Đẻ đó. Tâm của anh đã quan tâm tới phần Thân. Anh vào trang Anatomy Atlas (Bản Đồ Giải Phẫu) ngắm thuộc lòng các bộ phận cơ thể rồi hàng ngày cùng với hơi thở Tâm anh vào thăm hỏi cơ thể, dỗ dành chúng nó. Anh tin rằng ý nghĩ, ngôn ngữ cũng là một lọai năng lượng. Chẳng thế mà có hai vợ chồng cãi nhau dùng những lời qua lại độc ác làm đứa con đang bú bị nhiễm độc bởi sữa mẹ, chết. Để chữa bệnh anh luyện bỏ hết tạp niệm ra khỏi tâm mình. Thật kỳ lạ vì những bài luyện Tâm Pháp đó lại do Marek nói cho anh. Anh bạn Ba Lan này tốt nghiệp Đại Học Tổng Hợp Moscva và có đã có một thời gian công tác ở Trung Quốc. Marek hứng thú với văn hóa Phương Đông đặc biệt là bài Thái Cực Quyền và Phép Khí Công của Lão Tử. “Ngũ tạng với Phế (phổi), Tâm (tim) phía trên, Tỳ (lá lách), Thận phía dưới và Can (gan) ỏ trung tâm là một thế trận kỳ diệu, vững chắc cân bằng của con người nhờ đó Chân Khí được tụ lại ở Đan Điền (huyệt dưới rốn). Những thay đổi xáo động tâm trí sẽ làm mất năng lượng dẫn tới Phế, Tâm vượng lên, Tỳ, Thận suy xuống để Can còn lại chơ vơ. Ngũ tạng phân tán, Chân khí bị hao tán. Phải định tâm, lúc đầu khó đấy, phải neo nó nhờ hơi thở. Tập trung theo dõi hơi thở có trong dòng nhạc này vậy”. - Marec ngừng nói, một tay vẫn cầm lái, một tay thay chiếc đĩa CD. Trong chiếc Audi đưa Lâm ra sân bay lại tràn ngập tiếng Piano hòa cùng Violin réo rắt đầy trìu mến yêu thương.
Bản nhạc nhạc đó bây giờ đôi khi vẫn vang lên từ hai chiếc loa gỗ với bộ ampli điện tử mà anh tự lắp. Kỹ thuật số hiện đại ngày nay với âm thanh quá rõ, nét, quá chính xác một cách lạc lõng vô hồn không làm Lâm quên cái kỹ thuật tương tự của bóng điện tử ngày xưa với những âm thanh lung linh, ngọt ngào, duyên dáng nhẹ nhàng, quyến rũ. Nó gần con người hơn. Anh thử chọn bóng công suất của Nga giúp Ampli cho dải trầm sâu và tròn ấm. Tích hợp thêm phần Output Delay để khi bật sau 5 phút đủ thời gian đèn được hâm nóng và ổn định nhất cho âm thanh dịu dàng ở tiếng Mid, chi tiết và sắc sảo ở dải cao.
Âm nhạc giúp Lâm sống và thực hành quán tưởng tập thiền dễ dàng hơn. Các câu Niệm Thiền được ngân nga theo nhịp, giai điệu của nhạc, đỡ chơ vơ, cô đơn, buồn chán, Bộ phim trong cuộc đời anh như dần được phổ nhạc. Và ở tuổi xấp xi ngũ tuần anh lại mua một chiếc Piano rồi tự tập, tự gõ. Bây giờ mọi thứ cũng dễ, có hết trên mạng rồi, cả những bài học Piano, học nhảy. Cũng nhờ những đam mê đó mà Lâm không cô đơn, quen được nhiều người, nhiều khi qua mạng. Hóa ra đâu đó cũng còn có những người giống anh, tìm đến Thiền để sống và họ quen dần lối sống Thiền được phổ nhạc. Sống dễ dàng hơn, đỡ bị tổn thương hơn. Chỉ có đôi khi có ai đó hỏi anh về gia đình, vợ con, anh lại đau. Đau nhói trong tim. Anh không trách họ. Họ chưa bị đau như vậy. Anh chỉ cố lảng sang chuyện khác. Nếu không được, thường là đến lần thứ ba, khó quá, anh lảng tránh người đó luôn, như con thú bị thương đang giấu mình, cần thời gian, cần nơi yên tĩnh liếm vết thương đau rỉ máu chưa lành.
Cuối năm anh nhận được một lời mời qua thư điện tử không rõ của ai và thế là Noel đầu tiên trở về Việt Nam anh đến dự buổi vui của Câu Lạc Bộ Thiền do Kay tổ chức ở phố Tô Ngọc Vân trên Hồ Tây. Đây là một ông người Đức đang làm việc về mội trường ở Việt Nam. Ông là học trò của Thiền Sư Thich Nhất Hạnh bên Pháp. Anh mua một hộp bia lon Heineker ở cửa hàng bên cạnh xách lên. Mấy cô đứng ở cửa ra vào đỡ những quà mọi người mang đến, cả bánh chưng, bánh gai, ga tô, hoa quả... Họ chia ra và xếp xen kẽ lên các bàn. Đến giờ mọi người đứng vây quanh im lặng thầm cám ơn Tạo Hóa cho các đồ ăn để sống và khỏe mạnh rồi người nọ chọn lấy món ăn cầm lên mời người bên cạnh. Có khoảng ba mươi người, đủ các lứa tuổi. Có mấy đôi vợ chồng trẻ. Lại có cả mấy người nước ngoài. Cái ông có bộ râu quai nón rậm đứng mé bên kia bàn anh nhận ra ngay là ông dạy Yoga trên vô tuyến. Một cô nàng đưa anh cái miếng bánh mì đen kẹp mỡ muối chấm mù tạt. Cay nhưng mà sao ngon thế. Đúng là không phải ăn cái gì mà là ăn thế nào. Hình như Lâm đã từng ăn rồi, cái vị mặn đậm sâu cay này.
Ăn xong mọi người xếp hàng đi thành vòng tròn theo tiếng nhạc. Đi thật chậm, thở sâu từng bước thật vững, thật chắc, người nọ sau người kia. Mọi ý thức, hơi thở chỉ tập trung vào các bước chân. Và cứ thế đến một lúc Lâm cảm thấy mình đi như không đi, thở như không thở. Có một cái gì đó, một dòng khí vô hình, kết nối hòa đồng cả vòng người thành một.
Xong đi bộ là ngồi tọa thiền cũng theo tiếng nhạc rất khẽ. Rồi sang phần Chia Sẻ (Sharing) và Pháp Đàm (discuss). Lâm hiểu được những con người ở đây hơn. Cái thế giới quanh ta thay đổi nhiều quá, nhanh quá đến chóng mặt. Trong cơn bão lốc cuốn xóay của các giá trị vật chất, danh vọng, ảo tưởng nhiều người thèm có chỗ an trú cho Tâm mình. Và đó là Thế Giới Nội Tâm (Inner Space), là Thiền Định. Sau đó là họ chơi các trò chơi bịt mắt bắt dê, khua dây..., cuối cùng là một vũ điệu Meringue1 vòng tròn tập thể. Lúc về Lâm cho cái cô đã mời anh miếng bánh mi mỡ muối lúc ăn đi nhờ. Cũng tiện đường. Cô ta có bạn hẹn đến đón nhưng không hiểu sao không liên lạc được nữa. Bình thường chắc Lâm sẽ có chút ngần ngại, có lẽ bởi vẻ đẹp của cô nàng, nhưng hôm nay sau buổi vui Thiền trong anh không một gợn thoáng đắn đo:
- Cô cứ ngồi lên đi, khua rồi gọi xe ở đây khó lắm. Đằng nào tôi cũng đi qua Nguyên Hồng mà.
Xe lên đường đê vắng lặng, chỉ thấy tiếng gió, tiếng động cơ. Không hiểu sao có đôi lúc Lâm có cảm giác như mình đang phóng xe ở Ba Lan. Không có tiếng nhạc, không phải ô tô. Xe máy với hai người. Đằng sau lại là một cô nàng. Xinh thật. Lúc rời đường đê xuống dốc Lâm sơ ý phải phanh gấp, cằm người phụ nữ xô lên chạm vào vai anh, và một chút tròn va chạm mềm hay cứng không rõ nữa ở phia lưng dưới vai. Lâm hít một hơi sâu rồi thở dài, cố tập trung vào chuyên môn, vào tay lái. Cảm giác nóng ấm ở sau lưng và cả ở hai bên hông anh để con đường bên hồ bỗng như dài ra. Trên xe anh như nghe thấy tiếng đập của con tim mình. Lại như nghe thấy cả tiếng đập của con tim người phụ nữ ngồi sau, cả hơi thở, cả mùi hương thôi thúc.
Bố cô nàng đã đứng đợi ở cổng. Anh hay gặp ông đi bộ ở công viên. Ông ấy cám ơn và mời anh rỗi đến chơi.
Sáng chủ nhật họ gặp nhau ở công viên, đi dạo vòng hồ, nói chuyện về âm nhạc, về hoa. Hai người rất hợp trong câu chuyện. Cuối năm khắp nơi tràn đầy tiếng nhạc và các khu cây hoa cảnh đã bắt đầu nhộn nhịp. Hóa ra bố Loan, cô nàng đi nhờ xe hôm nọ từ Hồ Tây về, là đạo diễn phim nổi tiếng. Chỉ Lâm không biết vì anh hầu như không xem phim Việt Nam từ lâu.
Chiều Lâm sang chơi. Hôm nọ tối, muộn, vội không để ý. Bây giờ anh mới thấy các dãy nhà đẹp quá, ngõ đẹp quá, với các hàng cây. Sân nhà ai cũng có các cây cảnh, cây to được chăm sóc tỉa tót. Khu của những người khá giả đây, anh nghĩ thầm. Trong nhà ông Tiến đồ đẹp, sang trọng nhưng thanh thoát, không kệch cỡm. Đập vào mắt anh là bức tượng nửa người trên, nửa cây bên dưới. Người mới có cái đầu và hai tay cầm búa, đục chăm chú đẽo vào ngực mình, chỗ vẫn còn vương dình với thân cây. Ông Tiến nói:
- Con người chưa có xong đâu mà còn đang hình thành. Mọi thứ còn đang hình thành. Thế giới luôn đang hình thành. Triết lý của đạo Phật, của Einstein đấy.
Bên cạnh là chiếc đàn Piano kê sát tường sau cái đi văng và các bức tranh, bức vẽ. Vợ ông ấy trong ảnh trông hiền và Loan có cái miệng i xì mẹ. Hai mẹ con về quê ăn giỗ. Nhà có hai con gái. Vợ chồng cô chị và các con sống ở chung cư cao cấp ngay bên kia đường. Ông ấy muốn mời anh lên sân thượng xem cái vườn treo trồng hoa và rau sạch. Lâm thích thú vì anh cũng có vườn treo và các cây thuốc.
Dọc lên theo cầu thang gỗ rộng đi lên là những bức tranh vẽ, bức ảnh chụp treo trên tường. Lâm chỉ ngó qua mấy bức ảnh ông Tiến ở hội nghị cạnh những người nổi tiếng. Có cảnh chụp ở nước ngoài. Cái làm anh chú ý lại là những thanh thép dài sẫm song song dọc dưới tay vịn bằng gỗ làm thành những dòng nhạc đỡ những nốt nhạc được móc treo vào. Nhịp Valse ba bốn và giai điệu hình như khá quen thuộc. Cứ hết một tầng là có ba khung nhạc. Ông Tiến quay lại chờ Lâm cười:
- Con Loan nó còn muốn đặt những ống âm thanh ở đây để chạy từ tầng tư xuống vừa quệt gõ nghe hết bản nhạc valse của nó.
Cứ thế hai người lên đến tầng tư và Lâm đã nghe hết trich ngang về cô gái út. Sang học múa Ba lê ở Moscva từ lúc lên mười sáu. Tốt nghiệp xong thì Liên Xô tan rã. Cậu bạn trai cùng tuổi, thân nhau từ lúc ngồi bô, tốt nghiệp hát Opera ở Bulgaria bỏ sang Ý thử vận may. Về nước Opera ai nghe, sống bằng gì. Ba Lê cũng vậy thôi. Thế là cô nghệ sỹ Ba Lê nhà ta cùng mấy người bạn học cũng bỏ sang Đức xin việc. Có mà thất nghiệp. Làm sao chen được với đội quân thất nghiệp chuyên môn cao từ chính nước Nga kéo sang. Cậu danh ca sang Pháp hát đệm trong quán bar, hát cả cho Paris by Night rồi cặp với một cô cùng đoàn hát. Còn cô vũ nữ nhà ta không chịu vào trại tị nạn ở Đức như mấy người bạn cùng đi. Cô sang Ba Lan làm bếp, rửa bát, nấu ăn trong quán ăn của bà cô họ xa, rồi sau đó đi chợ bán hàng như bao nhiêu người Việt tha hương khác. Tầng ba là phòng của Loan. Thấy ngay hình cô vũ nữ và chú lính chì của Andersen vẽ ở cửa, Lâm dừng lại ngắm nghía. Ông Tiến quay lại cười và mở cửa giới thiệu như là cho khách du lịch ấy:
- Phòng cái Loan đấy, các con lật đật Nga, con gấu Nga này nữa tôi mua từ hồi đi Liên Xô học. Ở Ba Lan nó viết thư về lần nào cũng hỏi thăm mấy đồ chơi hồi nhỏ đó. Không chịu về, cứ ở Ba Lan đi chợ. Thế mà nó lại rất hạnh phúc đấy. Nó nói không phải tiền nào cũng giống nhau. Có bà mua hàng của nó sau cứ như là phải bùa, có cái gì ngon cũng để dành mang cho nó. Nó còn kể có bà già lắm rồi, mắt kèm nhèm, chân lần từng bước một sáng nào cũng đúng giờ đến quầy hàng của nó móc ví ra đưa. Loan nó đếm lấy tiền năm tập khăn mui soa Thái lan các mầu cho vào túi đưa cho bà ấy rồi cất ví tiền vào ngực bà cẩn thận. Bà già lại lò dò ra bến xe bus. Xe đến đỗ chờ bà lên. Mọi người trên xe đều yên lặng chờ. Họ thu xếp nhường chiếc ghế trống ngay cửa. Bà già tự lò dò sờ cửa, lần tay vịn lên xe, lò dò ngồi. Tự một mình, không cầu xin, kiêu hãnh. Qua quảng trường trung tâm, nơi đông khách du lịch đi dạo, xe đỗ chờ để bà ấy xuống, ra cạnh tường thành đứng bán khăn mùi soa. Cái Loan nó nghĩ rằng những tập khăn tay của nó từ tay bà có lẽ đã ở khắp các nước Châu Âu. Sau này nó còn tự thêu thêm vào khăn dành cho bà lão đó hai chữ K, L vào góc khăn như một đánh dấu. Nó kể có lúc thấy trong ví của bà cả những tờ một trăm đô ai đó mua tập khăn, phải gói lại riêng ra để bà về cất đi. Rồi không thấy bà ấy đến nữa. Nó đợi khóc suốt. Những đồng tiền bán khăn cho bà nó vẫn giữ cùng với năm tập khăn trong cái hộp này. Nó nói đây là của hồi môn về nhà chồng sau này. Con bé sống vẫn như người trong các vở Ba Lê xưa ấy.
Tầng tư có hai phòng. Một phòng toàn sách, máy tính, máy in của ông Tiến. Một phòng tranh, một xưởng vẽ nhỏ thì đúng hơn. Có một bộ bàn ghế mây là đến cái sân đầy chậu trồng đủ các loại cây. Kể ra thì cũng hơi lộn xộn, cây cảnh, cây hoa, rau quả. Lại thêm các loại lan treo dọc tường. Ấn tượng nhất có lẽ là cây Mai Tứ Quý và cái chậu vuông trồng nó kiểu trông lạ mắt. Nói chung Lâm không để ý đến cái vườn cây lắm. Cả bản nhạc dọc tường và những gì liên quan đến cô vũ nữ Lọ Lem đi chợ kia cũng không còn xáo động tâm trí anh nữa. Anh chăm chú nhìn bức tranh đen trắng đang vẽ dở trên khung ở ngay của ra sân. Bức tranh về Bờ Hồ ngày xưa. Tàu điện, hàng gánh và mấy đứa trẻ đang chúi mũi vào các ống nhìn vào cái thùng.
- Đây là Xi nê ma thùng rong đấy, thời Pháp. Trả tiền là được nhòm qua cái ống này vào thùng phim. Không còn thấy gì xung quanh nữa, một mình chui vào trong một thế giới khác, các bộ phim họat hình, các chuyện cổ tích. Phim câm. Ông người Tàu, tay quay cần chạy phim, miệng thuyết minh, giọng lơ lớ. Cứ hết tiền là ông giật giây, miếng gỗ sập xuống che hết ống nhòm phim. Các cô cậu lại đành quay về với thế giới thực mà vẫn cứ lâng lâng các cảnh trong phim. Bờ Hồ hồi đó đấy. Các gánh hàng hoa bán rong từ đền Ngọc Sơn đến Tràng Thi, các phường xẩm hát rong rải rác quanh bến tàu điện. – Ông Tiến giải thích – Nhà tôi hồi xưa ở phố hàng Bông. Hồi bé hay được bố cho hai chị em ra bờ hồ ăn kem que, xem Xi nê thùng. Bộ phim tôi vẫn nhớ là phim hoạt hình về bà mẹ tìm được đưa con bị lạc. Tối về nhớ lại bộ phim, không ngủ được lấy bút giấy vẽ lại các cảnh chính. Tôi đem theo các tranh vẽ truyện phim đó theo bố mẹ đi tản cư ở Tuyên Quang hồi Pháp vào chiếm Hà nội. Ba tôi là giáo viên trường Bưởi xưa. cũng nhiều lần ba mợ cho hai chị em tôi vào rạp xem, rạp Majestic, rạp Lạc Hồng. Tôi gần như được xem hết những bộ phim của vua hề Charle chiếu hồi đó trong rạp nhưng vẫn cứ mê xem phim thùng rong như trẻ con mê ăn quà vặt vậy.
Hai người ngồi uống trà Diệp Hạ Châu mà Lâm mang sang làm quà. Ông Tiến kể tiếp, nhân thể giới thiệu một bức tranh khác đã được treo trên tường ngay sát bậc cầu thang xuống:
- Đây là nhà ông Tự, nơi chúng tôi tản cư hồi kháng chiến. Cái sân này phơi đầy thóc. Đây là dãy nhà tá điền. Chái nhà bên to này là chỗ ông Tự dành cho nhà tôi ở. Chị Hà tôi đang ngồi học, còn tôi đây. Hồi ấy tôi lên sáu còn chị Hà mười lăm. Còn một anh dưới chị Hà ốm chết lúc hai tuổi.
Bức vẽ treo bên cạnh là phong cảnh chiều vùng núi. Mấy cô người dân tộc Trại đang lội qua suối. Lâm lại chú ý hơn bức tranh bức tranh treo tiếp dưới ký họa một khuôn mặt đàn ông trẻ, khắc khổ, càng xấu hơn với cái môi trên sứt rõ.
- Anh Sứt đấy, họ hàng xa gọi ông Tự là Bác. Bố mẹ chết đói năm bốn nhăm. Anh ấy sống với các tá điền. Biết làm đủ mọi việc. Anh ấy còn lấy dây rừng, vót tre đan cho chị Hà những con cá, con cào cào, cả Nàng Tiên Cá, cả những con vật anh ấy tưởng tượng ra từ những truyện thần thoại chị Hà kể. Trung Thu anh ấy còn làm cho tôi một cái đèn kéo quân có hình kể về Trương Chi và Mỵ Nương. Đây là bức tranh vẽ lớp học Bình Dân buổi tối hồi kháng chiến. Cô giáo Hà đây. Anh Sứt ngồi đây. Tôi vẽ theo bức ảnh chụp được in lên báo hồi đó. Phong trào xoá nạn mù chữ mà. Tôi cũng đứng xem chụp ảnh hôm đó. Mọi người đang đọc theo chị Hà các chữ viết trên bảng đấy:
Người ta đi chợ thì vui
Còn tôi đi chợ phải chui cổng Mù
Mù là hồi đó ở chợ Bâm họ làm hai cổng. Cái cổng thấp gọi là cổng Mù. Ngoài cổng chợ họ treo các khẩu hiệu. Ai không đánh vần được, không đọc được là không được đi cổng chính, phải chui để vào chợ.
Ông đạo diễn say sưa kể về khoảng thời gian tuổi thơ của ông theo gia đình tản cư chạy Tây. Quả thực tuổi thơ ấu của ai dù trong hoàn cảnh nghèo khó hay giầu sang, trong chiến tranh hay yên bình cũng là phần cuộc đời đẹp nhất của con người.
Hai người có vẻ hợp chuyện. Uống hết ấm trà chủ nhà đã giới thiệu xong mấy bức tranh vẽ, bức ảnh chụp có trên tầng tư. Lúc xuống chỗ bậc xoay có treo một bức tranh vẽ to ông Tiến dừng khách lại:
- Đây là tôi vẽ đêm liên hoan văn nghệ thanh niên làng. Trong tranh bức phông vải trắng to này là ông Tự đóng góp đấy. Thanh niên, du kích trong làng Đồng Xe cả tuần chuẩn bị, luyện tập tiết mục biểu diễn ở sân nhà ông ấy. Bà Tự tự tay lo ấm chè tươi, nồi sắn luộc, mật mía chấm cho mọi người ăn lấy sức hát, múa đấy. Anh có thấy các bóng Silhouette bập bùng in lên màn phông không. Ba nam, ba nữ múa gặt tập đoàn đấy. Bóng này là bóng chị Hà, còn đây là anh Sứt. Cả một đống lửa đốt đằng sau để hắt bóng những người diễn lên màn phông kiểu như đèn kéo quân ấy. Thực ra mọi người ra biểu diễn có phông màn che, không thấy khán giả, không ngượng, đâm rất tự nhiên, say sưa. Anh Sứt tuyên truyền khắp làng là có tiết mục xem chiếu bóng Xi nê ma. Bà con náo nức. Làng bên cũng kéo sang đông lắm Nhiều người chỉ nghe kể về chiếu bóng chứ đã có ai đã được xem nó đâu. Anh Sứt là cũng được nghe tôi kể, hơn nữa là được xem những tranh vẽ của tôi về những bộ phim nhòm ống rong Bờ Hồ. Chị Hà thì kể cho anh ấy về những bộ phim xem trong rạp. Nhớ lại tôi thấy anh Sứt cũng có cái na ná giống nhân vật Charle. Giống ở cái tội nghiệp, ở lòng nhân hậu và hơn tất cả là sự đam mê đến ngây thơ. Chị Hà tôi hình như cũng giống ai đó trong phim.
- Bác ấy chắc có cái gì của các nhân vật nữ trong “Thời Hiện Đại” hay “Ánh Đèn Đô Thị” của Charle.– Lâm nói.
- Hình như thế. Con Loan thì rõ quá. Có những con người, có những nhân vật, không có nổi bộ phim. – Ông Tiến thở dài. Không hiểu là tâm trạng cho những con người giống bác Hà, giống Loan hay là tâm trạng của người đạo diễn vẫn thèm khát có một bộ phim của mình, cho mình, cho những nhân vật của mình, một bộ phim thật.
Hai người sóng vai nói chuyện, chậm rãi đi xuống từng bậc cầu thang. Có lúc dừng lại xem tranh hay để nghe bác Tiến nhớ lại, kể lại một ký ức xưa:
- Hôm đó biểu diễn gần hết tiết mục cuối là trời đổ mưa to. Mưa như trút nước. Mọi người chạy phông màn, đồ lề. Tôi được phân công đội nón, khoác tấm ni lông bấm đèn pin soi cho mọi người dọn dẹp. Lúc về anh Sứt cõng tôi. Chị Hà bị ngấm nước mưa, tối lên cơn sốt. Anh Sứt lại đội nón đi tìm y sỹ, tìm thuốc cho chị ấy. Dù sao đó cũng là đêm văn nghệ kháng chiến làm nao nức lòng người dân làng Đồng Xe huyện Sơn Dương Tuyên Quang năm ấy. Nhiều người còn về khoe là đã được xem chiếu bóng Xi nê ma. Lần đầu tiên trong đời. Bộ phim đầu tiên được xem, dù là phim bóng chiếu lên vải bập bùng nhờ đống lửa đốt phía sau sẽ còn mãi trong tâm trí họ. Có lẽ tổ tiên ta khi xưa nhảy nhót quây quần bên đống lửa nướng thú rừng săn được cho bữa tối, cũng đã xem những cảnh phim đầu tiên rồi, bập bùng trên vách hang đá đó. Cái gì lần đầu cũng là khó quên nhất, như mối tình đầu, nó theo ta suốt cuộc đời.
- Và nhiều năm sau, trong số các khán giả buổi chiếu bóng đó đã có người đã trở thành đạo diễn nổi tiếng - Lâm chỉ vào bức ảnh đen trắng phóng to treo trong phòng khách tầng một. Trong ảnh là ba sinh viên Việt Nam với các sinh viên Liên Xô, các thày giáo trong sân trường Điện Ảnh Moscva. Bác Tiến đứng ở hàng đầu, trông trẻ con quá, nhưng Lâm nhận ra ngay qua một số nét trên mặt.
- Nhưng tai họa thì không cần chờ đến nhiều năm tháng sau đâu. Chỉ một tuần sau hôm biểu diễn văn nghệ là bão tố ập đến huyện Sơn Dương này. Cải cách ruộng đất - Ông Tiến im lặng rồi khẽ thở dài nói tiếp - Ông Tự bị Đội Cải Cách quy địa chủ. Cả hai vợ chồng đều bị giam đói. Hôm đấu tố bà Tự ngất đi, ông Tự bị trói. Chị Định, con dâu lên tố cáo bố mẹ chồng bóc lột, sắp đến ngày đẻ còn phải ra đồng bắt cua, bắt cá. Làm không đúng ý địa chủ bố chồng còn bị đánh, bị đói. Chị ấy giơ cái gáo dừa lên là vật chứng. Đánh ác đến nỗi nứt cả gáo ra. Cứ mỗi lần sau lời tố cáo bà chỉ huy của Đội Cải Cách hỏi: “Thằng địa chủ kia, mày nhận tội chưa”. Ông Tự còn chưa kịp phản ứng gì là một anh vung tay bắt nhịp hô to. Tất cả mọi người đều vung tay ba lần và hô theo: “Đả đảo địa chủ cường hào gian ác”. Cả nhà tôi cũng vậy. Mợ tôi và chị Hà vừa vung tay lên theo vừa khóc. Sợ lắm. Mấy anh tá điền cũng lên đấu ông Tự. Cuối cùng đến trưa là xử bắn. Ba tiếng súng. Chị Hà sợ quá ngất đi. Anh Sứt bị đội giam vì lén tiếp tế đồ ăn cho địa chủ Việt gian nhưng sau được thả nhờ thành phần cố nông, thành phần bị bóc lột nhiều nhất. Sau đợt đấu tố đó Tây ném bom Tuyên Quang, gia đình tôi chạy tản cư sang Thái Nguyên, cũng có họ hàng ở đó. Ba tôi không dạy học nữa mà làm trong ty thông tin kháng chiến, viết bài, chụp ảnh.
- Thế còn bà Tự và các con.
Thảm lắm. Khi anh Định về thăm thì nhà cửa đã tan nát. Cánh tá điền dỡ lấy hết. Bà Tự cũng ốm chết ngay sau đó. Vợ anh ấy nghe nói chửa với một cán bộ của Đội. Anh bộ đội cấp dưới đi cùng phải tháo hết đạn trong súng lục của anh Định không anh ấy liều mất. Khó lắm, phải nhờ cả du kich mới đưa được anh Định đi, trở về đơn vị. Anh ấy hy sinh ở Điện Biên Phủ.
Ông Tiến xúc động lặng đi, lấy chai rượi Zambrovski con gái mang về mời Lâm, nói sang chuyện khác:
- Rượu Ba Lan này nó dịu hơn Vodka Nga. Anh thử với bánh mì đen và mỡ muối con Loan nó đi mua ở cửa hàng bán đồ ăn Nga đấy. Thêm tí hạt tiêu và hành tây, cà chua sống là đúng chất người Nga rồi. Bên ấy anh có hay ăn thứ này không. Loan nó bảo người Nga mang sang bán ở chợ bên Ba Lan. Nó ăn rồi nghiện. Cũng là do bộ phim “Bài ca người lính” của Nga nó xem. Anh xem chưa. Cái cảnh anh lính Aliosa gặp cô gái cùng đi chui trên tàu hỏa. Chàng lính mời cô miếng bánh mì kẹp mỡ muối ấy.
- Có, cháu có xem. Cháu rất thích bộ phim đó. Còn bánh mì kẹp mỡ cháu chỉ ăn đúng một lần. Hồi mới sang nghiên cứu sinh, cũng lấy hàng ra chợ Lodz bán. Lúc về cùng toa tàu với một cô, cô ấy mời ăn bánh mì kẹp mỡ muối Nga. Lâu lắm hôm nay mới thấy lại cái vị béo, đậm cay ngon như vậy...
Lúc về Lâm đi qua công viên. Mặt hồ êm ả. Lâm nhớ tới câu chuyện của ông Tiến kể về buổi văn nghệ chiếu bóng thời cải cách ruộng đất xưa và nhũng bức tranh treo ở cầu thang. Có lẽ hôm nào anh phải trở lại để nghe ông kể tiếp về số phận anh Sức, chị Hà, anh Định.
Có bao nhiêu nhân vật như vậy mà không có nổi bộ phim.
Lâm còn muốn đến để xem kỹ lại cái bản nhạc treo dọc cầu thang, bản nhạc Valse của Loan ấy. Và cũng muốn biết, muốn nhìn lại xem Loan có phải cái cô ở chợ Lodz bên Ba Lan năm xưa không. Cái cô đã mời anh miếng bánh mì kẹp mỡ muối Nga ấy.
BẢN TANGO ITALIANO
Lại như thấy
Tay em đặt trên vai anh
Cúi đầu, ngoảnh mặt
Để mùi phụ nữ giận hờn vấn vương
(thơ Trần Đức Trung)
Tuần này từ thứ hai tôi nhận dạy một lớp tại chức tối. Buổi chiều xong việc ở bộ môn tôi sang luôn khu giảng đường tại chức đối diện với sân vận động của trường ngồi chờ lên lớp tối, đỡ về. Mà về rồi lại đến vào giờ tắc nghẽn đầy xe trên đường này sao kịp. Thôi, một mình đóng cửa trong phòng nghỉ uống nước của giáo viên ở tầng hai tranh thủ tập bài thiền Hư Linh Công vậy.
Đang nhắm mắt nhập thiền, dần chìm sâu vào Hư Tĩnh, ngay hơi thở cũng như tan vào không trung, bỗng từ đâu lại có tiếng nhạc. Hơi thở như quay trở lại, sâu, đều, chậm, nhẹ, cứ như níu lấy cái âm thanh kỳ diệu đó. Rồi không nghe thấy gì nữa. Tôi xả thiền xong vẫn lâng lâng trong tiếng nhạc, nó như lại chìm sâu vào trong tôi. Chẳng lẽ nó cất lên từ trong đó à, cái bản Tango Intaliano ấy.
Tôi đứng dậy đi ra hành lang, tầng bốn. Dưới sân trường vắng tanh, chỉ còn mấy chiếc xe máy trong bãi xe. Nhìn ra cổng thấy xe cộ nối đuôi nhau đông nghịt. Bên kia đường là sân vận động. Kể ra sang đấy đi dạo xem sinh viên chơi bóng cũng hay, có điều phải đi qua đường đầy xe cộ lại ngại. Vẩn vơ một lúc tôi lại trở về phòng nước ngồi thiền tiếp bài “Thiên ngũ thần long”. Không có tiếng nhạc nữa. Cũng không thiền được. Cái tâm lại lăng xăng mất rồi. Câu thơ của Berggoltz lại như xuất hiện trong đầu “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi”...
Ngày hôm sau mọi sự thay đổi, trở lại bình thường. Trong lúc ở lại trường chờ đợi lên lớp tối tôi nhận được điện thoại của Hưng bạn tôi ở Ba Lan gọi về, gọi cách rẻ tiền nên tán gẫu đủ mọi thứ gần một tiếng. Sau đó tôi tập lại bài thiền hôm qua một cách dễ dàng, chẳng hề có tiếng nhạc cũng như câu thơ nào ám ảnh. Chắc là do tâm thôi, hôm nay nó tĩnh rồi.
Thứ tư lại thế, lại có tiếng nhạc Tango nọ. Tôi xòe tay, nhắm mặt tập trung lắng nghe và rồi bỗng có một tiếng khẽ thì thầm bên tai tôi: “Bản Tango hay quá, anh thích không”. Tôi như thấy mình mấp máy môi gọi tên em: “Olia”...
Hồi đó tôi có biết khiêu vũ đâu mặc dù tối thứ bảy, tối chủ nhật nào cũng bị các em phòng bên rủ xuống tầng hầm nhảy Disco. Số là ký túc xá cho nghiên cứu sinh ở xa, thầy giáo tôi can thiệp để tôi được ở gần trường, cũng là gần nhà ông ấy, trong một phòng của ký túc xá sinh viên nữ khoa luyện kim, phố Vesnina cạnh công viên thơ mộng. Tầng trên còn hai cậu nghiên cứu sinh Ả Rập là hết nam. Ký túc xá nữ họ trông coi ngặt lắm. Đàn ông đến phải để giấy tờ, ngồi đợi chủ nhà xuống đón, ký tên, hẹn giờ về, nói chung là rất phiền hà. Cánh sinh viên nam hay đứng dưới sân huýt sáo rồi từng đôi ngồi hay đi dạo dưới các hàng cây, đỡ vào. Tôi thường phụ đạo, giảng lại bài cho mấy em phòng bên, đổi lại họ hay chia sẻ cho tôi những hoa quả, đồ ăn ở nhà quê tiếp tế lên. Tôi mê nhất là mỡ muối, cá muối. Tuy nhiên tôi chơi với bốn cô quả thật như một người bạn, người anh nghiêm túc, có lẽ vì gần quá, họ lại bốn người, và cái chính là cả ba em, trừ Ira xinh nhất có chồng, còn lại cũng bình thường. Duy chỉ có một lần tôi đưa Irina ra tàu về quê lúc nửa đêm. Không kìm được chúng tôi đã hôn nhau lúc đợi tàu. Cũng chỉ thế thôi, sau đó cả hai đều lờ đi như chưa hề có chuyện gì. Riêng tôi không muốn phá vỡ cái quan hệ thân mật, bình thường với mọi người trong ký túc xá này. Hơn nữa chồng của em, chàng sỹ quan cứu hỏa Vichia thỉnh thoảng lên đón vợ, đối với tôi rất thân mật và tôn trọng. Tôi cố gắng không gặp em ở đâu một mình. Những tối Dancing tôi toàn ôm Marina nhảy, cố tránh ánh mắt của Ira. Tôi biết tính cách của tôi mà, chắc bị hỏng do đọc quá nhiều tiểu thuyết Tây thời xưa đấy.
Olia thì lạ thật. Lần đầu mà đã như là gặp ở đâu, lâu lắm rồi. Có lẽ vì em giống như người trong tranh “Người đàn bà xa lạ” của họa sĩ người Nga Ivan Nikolaevich Kramskoi mà anh tôi cắt từ họa báo Liên Xô, làm khung treo lên tường nhà tôi xưa. Olia làm y tá nhà máy dệt của thị trấn Sumy cách thành phố Kharkov hơn trăm cây. Lãnh đạo nhà máy mời đại diện sinh viên nước ngoài học ở mấy trường Đại Học thành phố Kharkov về dự dạ hội đón năm mới với bà con của nhà máy. Nhà máy vừa được huân chương. Ban đối ngoại thành phố tìm gom chúng tôi gồm khoảng gần hai chục người, chủ yếu là Mỹ Latin, Ả Rập. Nghiên cứu sinh có một cậu Ba Lan bên trường Xây Dựng. Người nữa là tôi của trường Bách Khoa. Cũng tại tôi thích tuyết nên lấn bấn ở sân, kệ mọi người vào hết hội trường dự Meeting. Ngồi trên ô tô bí quá, tôi muốn chạy nhảy, hứng gió, dãn gân cốt, ngửa mặt lên hứng những bông tuyết nhỏ, nhẹ, mơn man, ngắm cảnh mênh mông lung linh ánh đèn của thị trấn, ngắm đồi núi vùng quê của Shevchenko2 (Nhà thơ và nhà tư tưởng Ucraina). Meeting tôi dự nhiều lắm rồi, thời sinh viên, lại còn phải hay lên đọc phát biểu nữa chứ. Lần này phát biểu dại diện cho cả đoàn là một cậu Cu Ba.
Có nắm tuyết ném từ phía sau, trượt vào cậu người tuyết mà tôi đang sửa cho cái mũi làm bằng cái vỏ chai rượu vào chính giữa mặt, chuyển cái chối từ tay phải qua tay trái. Tôi quay lại. Cô gái trong cái áo lông vẫn còn đang nắm đạn tuyết trong tay:
- Sao anh lại cho nó cầm chổi tay trái. Anh là Levsa (người thuận tay trái - tiếng Nga) à.
Tôi không trả lời mà nhặt một nắm tuyết lên, đưa sang tay trái ném cô gái, vụng quá, tôi ném lại bằng tay phải rất nhanh, tuyết bung ra cổ áo cô ấy. Chúng tôi vơ tuyết ném đuổi nhau và đã làm quen với nhau khi tôi bị díu chân ngã xuống đống tuyết. Nhẹ thôi nhưng tôi cũng biết giả vờ là bị sái chân để cô gái phải nâng dậy, phủi áo cho...
Rồi chúng tôi ngồi bên nhau ở cái bàn xa sân khấu cùng với mấy người của nhà máy. Những sinh viên nước ngoài cũng bị chia ra mỗi người một bàn. Marec, cậu nghiên cứu sinh Ba Lan ngồi bàn phía trong không xa tôi lắm. Mấy người ngồi cùng tôi mải theo dõi những tiết mục trên sân khấu. Cánh sinh viên Cu Ba hát bài La Paloma, Grenada sôi động làm mọi người say sưa. Tôi thì say ngắm em. Quả thật em không kiêu xa lạnh lùng nhưng đẹp, thật, gần gũi và ấm áp hơn người phụ nữ trong tranh “Người đàn bà xa lạ”. Đôi mắt xanh và mái tóc vàng óng cùng với đôi môi đỏ mọng đủ để có cớ cho một chuyến phiêu lưu khó cưỡng lại cho tôi. Olia cũng mới tốt nghiệp y tá ở Vinisa, vừa đến làm ở nhà máy được hai tháng. Em cũng nhìn tôi chăm chú, thấy lạ là tôi là Việt Nam, vì ít thấy người Việt cao, mũi cao, mắt xếch, tóc lại xoăn vậy. Tôi cũng chẳng hiểu sao sang đây tóc cứ xoăn tít lại. Cũng một lần hồi sinh viên năm thứ ba chúng tôi nghịch xem ảnh tóc trên kính hiển vi điện tử. Hóa ra là tóc tôi nó dài không đều, có nhiều chỗ thắt nhỏ lại làm xoăn tóc. Tôi huyên thuyên đủ mọi chuyện, từ công việc nghiên cứu đến các món ăn nguội ở trên bàn, đến các bài hát và ca sỹ, và làm Olia cứ cười suốt. Chỉ có mắt em sao có ánh buồn ...
Rồi cũng đến giao thừa. Vỗ tay, chạm cốc, mọi người cùng hát theo với các nghệ sỹ trên sân khấu. Sau đó là dạ hội khiêu vũ năm mới. Một số người có tuổi ra về. Lại một tốp thanh niên trai làng say rượu kéo đến nhưng bị bảo vệ không cho vào, đang giằng co, ồn ào, to tiếng. Tôi kéo Olia vào trong. Bàn Marec ngồi lại có đúng hai ghế trống. Anh chàng này chắc vẫn đang trong tâm trạng, trông mặt rất khó gần. Lúc chờ lên xe ở Kharkov Marec cứ bồn chồn chạy sang bên kia đường có bốt điên thoại gọi không biết bao nhiêu lần. Bên Ba Lan3 đang thiết quân luật, đang rất khó khăn về đời sống mà cô bạn gái bên ấy hình như lại có bầu. Cậu ta cứ ngồi xoay cốc rượu lờ đi những ánh mắt các cô nàng bàn bên đưa sang. Cuối cùng cũng có một chàng của nhà máy khập khiễng sang uống rượu với anh chàng trông như nhà quý tộc khánh kiệt này. Olia và tôi đã cầm tay nhau hòa vào dòng người của các điệu nhảy dân gian Ucraina. Tuy có lúc bị tách ra nhưng ánh mắt chúng tôi vẫn tìm nhau. Có cái gì hơi giống như tronh bộ phim Romeo và Juliet ấy. Cũng có cả Disco, tất nhiên có cả Abba, Smokie ..., những ban nhạc thịnh hành lúc bấy giờ.
Hai tiếng sau ban nhạc sống nghỉ giải lao đi xuống ngồi ăn. Họ mở nhạc cổ điển. Valse thì nhảy toàn chủ nhà cả. Cánh khách nước ngoài (cả tôi nữa) không biết, đành chịu ngồi xem thôi, nghe và vỗ tay. Những bài nhạc Nga êm đềm quá. Thiếu chân nam, Olia nhảy Valse với một cô gái tóc hung, người dẫn chương trình tối nay. Cô ấy cũng đã hát nhiều bài, còn hay hơn khối ca sỹ chuyên nghiệp tôi thấy trên TV, mộc mạc hơn, thân thiết hơn. Rồi nhạc chuyển sang Tango. Hình như không ai biết nhảy Tango. Olia cũng về ngồi cạnh tôi. Cô tóc hung đứng một mình giữa sảnh, vẫy mọi người. Không ai hưởng ứng, cô đành lắc đầu cười thất vọng, thì thật bất ngờ, anh chàng Ba Lan cạnh tôi đứng dậy, bước lên mấy bước rồi dừng lại nhìn cô gái. Hai người nhìn nhau cứ như cảnh trong một bộ phim ấy. Olia nắm tay tôi, tựa vào vai tôi. Sẽ hay đây, xem hai người xa lạ nhảy Tango với nhau chứ cứ Disco nhún nhảy lắc thì cần gì học nhảy. Và quả thật, tiếng nhạc bài Tango Intaliano với những bước đi dò chân, dướn hãm, chuyển hướng kỳ diệu quá. Hai người cứ như nhập lại thành một trong chuyển động, như một chuyến đi đầy những bất ngờ, cảm hứng và phiêu lưu, bất định. Cô gái cứ như bị thôi miên lúc bị lôi kéo, lúc được dìu theo trong vòng tay Marec, như lịm đi rồi bừng tỉnh ở phách mạnh đột ngột, lắc vai, hất đầu, nắm tay nhau cùng nhau dướn tiếp rồi lại bất ngờ đổi hướng. Tiếng nhạc Tango cũng kỳ lạ, lúc dụt dè dò dẫm, thổn thức đến mê muội, lúc như bừng tỉnh rộn ràng, hân hoan đan xen các tình cảm con người. Và kết thúc vũ điệu cũng thật bất ngờ với vũ hình cô gái bị xuay ngửa trong vòng tay bạn nhảy. Không gian như sững lại rồi tràn ngập những tiếng vỗ tay. Tôi không vỗ tay, đúng hơn là không có tay để vỗ nữa. Những sợi tóc vàng còn đang rủ xuống vai tôi, tiếng khẽ thì thầm bên tai tôi: “Bản Tango hay quá, anh thích không”. Tôi như thấy mình mấp máy môi gọi tên em: “Olia”..
Trên xe lúc về tôi lại ngồi cạnh Marec, hứng thú hỏi và được nghe giải thích về nghệ thuật khiêu vũ và đặc biệt về các điệu Standart quý phái. Phải nói anh chàng quý tộc khánh kiệt này, như tôi hay gọi đùa, uyên bác thật. Tôi bỗng nhớ tới vị vua hào hoa Sigismund II Augustus4 của Ba Lan xưa. Có phải đây là hậu duệ của ông vua ấy không. Olia thì chắc là con cháu của nhà thơ Mirosnichenko rồi (bên Châu Âu, tên rất ít mà họ rất nhiều). Olga Stephanevna Mirosnichenko, tôi thầm gọi đầy đủ tên, tên bố và họ, nhẩm lại số điện thoại của em.
Bố em, ông Stephan ít nói, hầu như không cười. Đôi mắt xám cứ như buông cái nhìn xa xăm. Đôi mắt của người say rượu. Ông không giết vợ mà những vại Samogon (rượu Vodka tự nấu) đã giết chết mẹ Olia. Cả đất nước say. Nhưng không sao, vàng, kim cương, dầu, gaz gỗ và tài nguyên còn nhiều lắm. Họ còn say. Đấy là Marec nói về nước Nga này. Ông gật đầu ôm hôn tôi, nói với Olia bằng tiếng Ucraina rồi xuống hầm đốt lấy hơi nóng chạy theo hệ thống lò sưởi trong nhà, bên ngoài trông giống hệt lò sưởi hơi nước ở ký túc xá sinh viên. “Hôm nay có chúng mình về nên ông mới đốt lò đấy... chứ không”- Olia thở dài, nhìn về phía góc nhà, ngổn ngang những vỏ chai rượu. Olia đã kể hết về gia đình em trên tàu từ Sumy về. Tôi thì đi tàu từ Kharkov qua Sumy, ngó từ xa đã thấy mái tóc vàng rủ dưới chiếc mũ lông trên sân ga. Hôm ấy chiều thứ bảy, tàu vắng. Chúng tôi còn đi tiếp một tiếng nữa về hướng Vinisa, quê em. Bà mẹ em đẻ 5 lần, được phong bà mẹ anh hùng, nghĩa là được một tấm chương để đeo vào ngày lễ đi Meeting và một suất đi nghỉ ở trại điều dưỡng mỗi năm mà bà chưa bao giờ đi. Công việc ở nhà nhiều lắm, bỏ cho ai. Chị cả thì lấy một cậu Nam Tư nhưng họ sống ở Áo. Một chị lấy chồng ở tận Viễn Đông. Cậu em Kolia trong quân đội. Bé út Natasa học nội trú ở Vinisa. Cũng như mọi đàn ông trong làng, ông Stephan luôn say khướt. Một lần say về, không chịu nổi sự cằn nhằn của vợ ông đã đập cái chai một nhát vào đầu bà. Bà chết. Mấy ông trong làng đến tạo ra hiện trường giả để xác bà rơi ngã từ gác rơm trong nhà kho xuống đập đầu vào đúng cái đe sắt. “Xong rồi họ cùng cậu cảnh sát uống hết một thùng rượu” - Olia nói. Lúc đó em vừa tốt nghiệp phổ thông.
Bữa cơm tối xong ông bố lại say khướt, hết cả chai “Lúa Mới” tôi mang về. Ôm hôn tôi rồi ông khật khưỡng về phòng, trông thật tội nghiệp. Còn tôi với Olia. Em nhìn tôi đau đáu bằng đôi mắt xanh buồn, luồn các ngón tay vào mái tóc đen xoăn của tôi. Ngoài trời tuyết lại rơi. Em rút tay ra khỏi tôi và lấy ngón tay viết lên cửa sổ phủ mờ hơi nước một dấu “?” to. Một dấu hỏi không có câu trả lời chỉ có tiếng thở dài cho số phận những con người, cho một đất nước to lớn, giàu tài nguyên, với những con người kiêu hãnh, thông minh, đôn hậu đang xơ xác dần không chỉ ở những ngôi nhà bỏ hoang trong các làng quê với những thanh gỗ chéo đóng đinh chặn cửa, với những đoàn người nông dân xếp hàng ở cửa hiệu trong các thành phố lớn để mua khoai tây, những củ khoai do chính họ dỡ từ đất ruộng quê lên, xơ xác bơ vơ từ trong tâm hồn không biết tin vào đâu... Olia đứng dậy bật chiếc máy quay đĩa Rigonda. Cái đĩa hát quay chao bồng bềnh. Bản Tango Intaliano vói giọng ca của Magomaev. Tôi đứng ôm em trong vòng tay, quay khẽ dập dình, hòa vào giai điệu huyền diệu, bất định, phiêu lưu... Tôi cúi xuống tìm môi em, không được. Em úp mặt vào ngực tôi, tay tuột từ mái tóc tôi, vòng ôm cổ tôi. Chúng tôi không chuyển động nữa, đứng yên ôm nhau sợ tuột mất cái vũ điệu trong lòng hai đứa.
Sáu năm sau tôi có làm việc và chơi thân với Sasa, cũng là chuyên gia, ở trường đại học Bechar Algerie, giữa sa mạc Sahara. Vợ cậu ấy Tania giống Olia nhiều quá, cũng người vùng Vinhisa của Olia. Những người con gái Vinhitsa nổi tiếng từ xưa là xinh đẹp, đảm đang và chiều chồng. Tôi có nhờ Tania hỏi tìm tin tức của Olia. Nghe đâu em sang phục vụ y tá trong quân đội Xô Viết đóng ở Đức rồi lấy chồng định cư ở đó. Tôi nén tiếng thở dài nhưng thấy yên lòng. Cái dấu “?” em viết trên cửa sổ ngày nào đã có trả lời, cho em. Rồi sau đó cho cả đất nước em nữa. Một buổi chiều bay từ thủ đô Alger về, vừa đến sân khu nhà ở của chuyên gia nước ngoài đã thấy Tania chạy ra cầm tay tôi: “Lạy trời Trung về rồi”. Đôi mắt đỏ hoe, Tania nói tiếp: “Chúng tôi phải trở về Liên Bang. Nó hãy còn”. Sasha thì lúi húi xếp đồ vào cốp xe, chiếc Opel cũ rích mua lại hai trăm đô ở chợ giời gần biên giới Maroco. Lau bàn tay rắn chắc vào quần xong Sasha ôm lấy tôi, vỗ vỗ mạnh vào vai: “Nào! Anh bạn, khỏe nhé”. Chiếc Opel rung lên rồi chuyển bánh, cuốn theo một đám bụi cát mù mịt. Vợ chồng họ sẽ phải qua suốt sa mạc Sahara, sang Maroco, qua eo biển Gibranta, qua Tây Ban Nha và qua suốt châu Âu để về nhà ở Kiev, về kịp Liên Bang. Ba năm chuyên gia ở trường đại học Bechar, giữa sa mạc Sahara chỉ có mình tôi là Việt Nam. Nhưng hai mươi mốt đồng nghiệp, đến từ Nga, Ucraina, Belorusi, Grudia và các nước cộng hoà khác của Liên Xô thời ấy, đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Cũng như họ, tôi lo lắng trước những biến động ở Đông Âu và Liên Xô. Hình như tất cả chúng tôi đều nghĩ có thể cứu được, chỉ có phải thêm một chút, phải chỉnh lại một cái gì đó thôi. Tôi nghĩ đến những điều kiện, những hàm mục tiêu trong hệ điều khiển tối ưu, Fedia thì dùng những lập luận của thuyết mờ, Ivan thì nói về nhà nước bằng những ngôn ngữ của cơ cấu máy... Mỗi người một kiểu, sôi nổi, day dứt, mong muốn. Chỉ có Iana, anh bạn người Ba Lan thì nhún vai, làm dấu thánh khi sự tranh luận của chúng tôi đi quá xa. “Kiểu gì anh ta cũng có sẵn một lòng tin, lòng tin ở chúa. Nó làm người ta sống dễ dàng hơn và chết cũng nhẹ nhàng hơn” - Kolia, một phó giáo sư trường xây dựng Moscva nói về anh bạn người Ba Lan như vậy. Iana đã rời Algerie trước chúng tôi, nghe đâu anh ấy ký được hợp đồng dậy học ở Bradin. Khatratarian xin về ngay sau khi Armeni bị động đất. Trận động đất đã tàn phá hai phần ba đất nước. Cô ấy còn có một người con tàn tật gửi ở nhà người thân ngoại ô Erevan. Mọi người lần lượt rời cái thành phố ốc đảo xanh giữa sa mạc như trong truyện thần thoại này. Tôi cũng không phải là người cuối cùng. Cậu giáo viên dạy hoá người Ấn Độ còn gia hạn hợp đồng ở lại. Nghe đâu sau đó bạo loạn xảy ra ở Algerie, thành phố Bechar cũng bắn nhau ghê lắm. Cầu trời cho họ tất cả còn sống và khỏe mạnh ...
Còn tôi, bây giờ đã cũng đứng tuổi, dành hầu hết tâm trí và đam mê cho chuyên môn, đổi lại nó cho tôi sự bình an trong tâm hồn sau bao năm tháng phiêu lưu. Nhưng kỷ niệm về nắm tuyết và gió lúc ấy, về tiếng nhạc Tango thì không quên được. Với tôi, điều ấy đã trở thành kỷ niệm hạnh phúc nhất, xúc động nhất, đẹp nhất trong đời ...Đôi lúc nó lại trỗi dậy từ chốn sâu tâm hồn tôi một cách kỳ lạ, khó hiểu, bất ngờ. Tôi cũng chẳng bận tâm vì sao bỗng dưng lại nghe thấy những âm thanh đó như hôm đầu ngồi thiền ở phòng nước ấy, để rồi khi chăm chú thì nghe lại chẳng thấy gì.
Hôm cuối cùng kết thúc đợt dạy tại chức, tôi cho học sinh về sớm. Xe tôi cho cậu bạn mượn đi lo câu chuyện nên lững thững đi bộ sang bên kia đường chỗ sân vận động chờ tiếng nữa cậu ấy đến đón. Qua hàng rào tôi thấy có người khiêu vũ trong một phòng dưới khán đài A. Tôi rẽ vào ngồi xem. Thiếu nam, có mấy đôi toàn hai nữ. Đôi dạy nhảy đã có tuổi, chắc là vợ chồng. Anh chồng lạ lắm, lại trông quen quen. Gặp ở đâu nhỉ. Anh ta cũng đưa mắt nhìn tôi mấy lần. Ánh mắt của người đã học ở nước ngoài thời xưa. Chắc cũng nghĩ như tôi. Một lúc hết phần học điệu Rumba, cứ hai ba bốn một mãi phát chán, là đến phần giao lưu. Họ nhảy các điệu khác, nhảy Valse. Tôi đã thấy hứng thú hơn. Xong bài Valse, tôi bỗng lặng đi bồi hồi, những âm thanh với tiết tấu khác đã vang lên, bản Tango Italiano
NHỮNG TRUYỆN NGẮN VỚI BA GẠCH ĐẦU DÒNG
Người bạn cùng tên, cùng tuổi
- Lâu rồi có đọc mấy quyển sách của Nguyễn Trần Bạt, thấy câu “Giới trí thức Việt Nam bị tha hoá. Dấu hiệu đầu tiên là nó mất khả năng dự báo về tương lai”. Tôi dừng đúng ở trang đó, gấp lại không đọc tiếp nữa. Các quyển sách tôi đưa cho một số người bạn được coi là trí thức bảo họ đọc trước đi, khi nào xong trả lại để tôi đọc và cho tôi ý kiến chủ quan về nhận định trên. Chẳng thấy họ hồi âm gì cả, sách thì cũng mất tiêu.
- Tôi cũng thôi không quan tâm đến thuật ngữ “Trí thức” trong câu trên. Nó chẳng liên quan đến mình, một người thích đủ thứ nhưng ghét một thứ - cái giá sách. Cần lên thư viện, mượn của ai lo trả nên phải lo đọc. Sách để trên giá của mình yên tâm quá nên chẳng nghĩ chuyện vội đọc làm gì. Giá sách hình như có ý nghĩa trang trí nhiều hơn. Thằng bạn cố tri của tôi, cùng tên, cùng tuổi, cùng nghiên cứu sinh ở Kharkov, lại ít nhiều cùng chuyên môn, Nguyễn Tài Trung thì ngược lại. Sách nhiều ơi là nhiều. Nhà thì như một thư viện với một nửa là sách khoa học, một nửa là văn học. Các giá sách luôn được cơi nới đến tận trần. Tài Trung chẳng quan tâm đến cái câu mà tôi trăn trở. Chúng tôi luôn ngược nhau mà. Nhà PGS TS NGƯT (phó giáo sư tiến sỹ nhà giáo ưu tú) độc thân này như một thư viện cho tôi và một số người, như một quán rượu cho tất cả. Cái ý thứ hai mới là chính - Người không biết uống rượu thì chớ đến, không được vào. Chị em cũng không ngọai lệ. Trên tường có treo một cái bảng và chủ nhà viết các bài thơ khi uống rượu, hôm sau xóa đi. Ai đọc, nhớ được thì muốn bảo của mình cũng không sao vì chưa đăng ký bản quyền, nhưng không được dùng giấy bút chép hay chụp trộm. Trung có viết tặng riêng tôi một bài thơ và tôi vứt đâu lúc đêm về chân nam đá chân siêu. Hôm sau tôi bắt hắn viết lại. Hắn không nhớ. Tôi cũng không nhớ. Hai anh em đều tiếc. Trung bảo tôi: “Đời người chỉ cần gặp được một người, viết được một bài thơ thế mà ông đánh mất”. Chúng tôi uống thên rượu, rất nhiều rượu cho say để lấy lại bài thơ nhưng không được. Tôi ngủ, còn hắn khóc, cứ nức nở như trẻ con. Hắn vẫn bảo tôi là “Trí ngủ” và câu nói của ông Trần Bạt nọ không liên quan gì đến tôi, quên đi. Còn hắn khóc thì là thường xuyên, những lúc say rượu. Từ hồi còn ở Kharkov cơ. Hồi đó toàn rượu quốc lủi do bố cô sinh viên Nga, bạn gái Nina của hắn nấu ở quê.
- Năm năm trước tôi đang vui chơi nhảy nhót tối ở sân công viên Hồ Thành Công thì có điện thoại của Trung: “Đức Trung ở đâu, đến đi, tao cô đơn quá”. Giọng nghe thấy lạ, không đùa. Tôi gọi Taxi đến ngay chung cư Trung Hòa. Bấm mãi hắn mới ra mở cửa. Yếu quá rồi, sinh khí hết. Tôi nhìn thấy quyển sách và chai rượu dở trên bàn. Tôi ngủ đêm ở đấy, đến sáng có người nhà hắn qua. Hắn còn dậy tiễn tôi ... bằng rượu.
Mấy hôm sau Uyển dạy cùng ở trường Bách Khoa gọi lúc tôi đang lên lớp: “Tài Trung nó đi rồi, ông biết chưa”.
Tiễn đưa Tài Trung xong tôi sực nghĩ đến một người. Nina không biết bây giờ ra sao.
Nadia
- Cả đoàn lưu học sinh rời thành phố Taskent đi nghỉ hè trên núi. Dân khu Bốn ở phòng bên đông thế, toàn thức khua tụ tập chơi bài, nói to, hát nữa. Thế mà tôi vẫn ngủ được. Tôi nằm hình dung cảnh đồi núi trời mây xứ Uzbek nơi đây và những cánh chim bồng bềnh rồi ngủ thiếp đi. Mãi nhiều năm sau này tôi mới hiểu là mình vô tình đã thực hiện Quán Tưởng trong Visualization Meditation. Nói chung cảnh biển, núi cao và cánh chim rất hay đến trong giấc ngủ của tôi. Người ta bảo mơ trong mơ là mộng. Tôi mới chỉ mơ trong giấc ngủ thôi.
- Buổi sáng tôi lại dậy sớm và chạy lên núi. Còn hơn hai tếng mới đến giờ ăn sáng. Tôi như anh chàng Robinson lạc lên hoang đảo muốn khám phá từng phương của nó. Với tôi là sau cái núi cao đó cái có gì và đứng ở trên đó sẽ ra sao. Thế là ngay hôm đầu tôi đã trèo lên. Không khó nhưng lúc xuống phải bò giật lùi nhiều đoạn. Cũng hú vía. Những hôm sau nhìn lên đỉnh núi đó tôi vẫn thấy may, may vì không ngã xuống suối bên, may vì không ai nhìn thấy. Vì từ nhà nghỉ nhìn lên có thể thấy nếu tôi chuyển động.
- Nhưng có một người con gái nhìn thấy tôi trên đó. Nadia chỉ tôi cho mẹ lúc đi dạosáng hôm sau gặp tôi ở bờ suối. Nadia 16 tuổi, kém tôi 2. Một cô gái Nga thật sự, tóc vàng, mắt xanh giữa đất nước Uzbek Trung Á. Mẹ em tin cậy để chúng tôi đi chơi các buổi sáng với nhau. Quả thực trông tôi hồi đấy ai cũng bảo là hiền. Hai đứa cứ như trong phim, hay như trong các truyện của Pautovski vậy. Và mùi của thông, mùi gió, cây dại, mùi tóc, môi của Nadia, tôi không phân biệt được sau đó nữa. Một mùi vị thân thiết mà tôi được trời cho biết. Đúng ra phải là thánh Alah ban vì đó là vùng đạo Hồi
Về Taskent tôi nhớ em không chịu được, có tâm sự với anh Quảng cán bộ đi học. Anh ấy cùng một số anh lớn tuổi không qua được kỳ thi tiếng Nga nên về học đại học trong nước. Anh ấy rất thông cảm và cùng tôi đến thăm gia đình em. Sau này về Kharkov chúng tôi có thư từ và tôi yêu thơ Nga, còn làm cả thơ bằng tiếng Nga cho Nadia.
Một làn anh Ninh phụ trách đơn vị gặp tôi. Tôi hiểu là mình đã mạo hiểm, thư từ với gái Tây, lộ ra có thể bị đuổi về nước. Cũng chưa lá thư nào bị mất vì tôi đăng ký ở bưu điện, tự ra lấy. Tôi viết cho em một lá thư xin lỗi. Tôi cũng nhận được lá thư cuối của Nadia. Hôm đó tôi mãi không ngủ được, mãi vì em viết trước hôm thi vào nhạc viện. Viết và khóc.
Hôm kỷ niệm Cách Mạng Tháng Mười Nga, chúng tôi những lưu học sinh xưa ấy lại gặp nhau. Mọi người lại mở những bài ca Nga một thời. Có bài “Những con gấu trắng” làm tôi nao lên. Bên bãi cỏ năm ấy em hát và nhảy cho tôi bài ca trong phim chiếu hồi đó. Rồi em chơi Piano và hát cho tôi với anh Quảng nghe ở nhà em. Tôi cũng không gặp lại anh ấy bao giờ. Nghe nói anh tốt nghiệp Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội rồi về quê ở Nghệ An làm.
Sau này tôi vẫn vào Youtube tìm nghe lại một bài hát Nga. Nadia đã hát cho tôi bài hát về những chú gấu, hồn nhiên như cô gái nọ, chỉ có tóc em vàng và đôi mắt xanh, còn tôi thì mắt tóc đều đen, ngược lại với chàng trai tóc vàng trong phim này
Ký ức cô giáo người Nga
- Năm thứ ba tôi và Sứ, một sinh viên Việt nam nữa, được nhà trường gọi lên chụp ảnh treo ở bảng danh dự trong toà nhà chính. Oách thật. Có điều ảnh mình nó thế nào ấy, mắt to mắt nhỏ, xấu không ra xấu hẳn, trông trẻ con lại có cái gì ngu ngu ấy. Ảnh Sứ thì tuyệt, lại thêm cặp kính cận, cái nhìn đăm chiêu cứ như đang suy ngẫm sâu xa lắm, đầy trí tuệ. Ảnh mình để cạnh trông tội nghiệp quá, cứ như trò với thầy ấy. Nhưng Sứ giỏi thật, chẳng giống ai. Năm thứ hai cậu ta đến gặp giáo sư Glazman muốn được ông ấy hướng dẫn nghiên cứu khoa học.
Giống như Weierstrass nhà toán học người Đức, cha đẻ của giải tích toán học xưa, để đuổi bớt những kẻ quấy rầy, ông Glazman bảo Sứ tim quyển “Bài tập lý thuyết toán tử” ông viết và trong một tuần giải hết được thì đến gặp, không thôi. Tôi động viên, không sao, Kovalevskaia xưa cũng chỉ được Weierstrass cho có 3 ngày. Tôi cũng thử giải cùng Sứ mới biết mình dốt thật. Cứ 10 bài tôi chỉ giải được 6,7 và phải mất hàng ngày. Chẳng giúp gì được “Thiên tài” quê ở Nam Hà này, thôi mình đi chợ, nấu ăn, lo hậu cần vậy. Hết tuần Sứ giải gần xong 1000 bài nhưng không đến gặp thầy được. Giáo sư Glazman đã tự tử. Ông ấy là người Do Thái.
- Vẫn như hình dung thấy cái bảng danh dự treo các ảnh hồi xưa. Hoá ra ông trưởng phòng thí nghiệm hồi chiến tranh là sỹ quan công binh. Thầy chủ nhiệm khoa của tôi, giáo sư Galaskokov là lính xe tăng, lon trung uý, còn thua cả bà giáo khoa hoá tên là Nadezda (giờ tôi quên mất họ của bà) trong quân phục đeo lon đại uý. Hồi đó bà đẹp quá, cứ như diễn viên trong phim “Vùng trời Baltic” ấy.
- Khi tôi làm cộng tác viên khoa học trường Bách Khoa Kharkov chỉ còn khoảng 10 sinh viên Việt Nam, lại ở ký túc xá khác nên cũng ít gặp. Một lần khoảng mùa thu, có một bà già đến tìm và ngồi chờ tôi ở sảnh ký túc xá. Bà ấy cầm cái ảnh tôi xưa. Qua mấy câu nói tôi nhận ra bà giáo khoa hoá, cô đại uý Bộ binh trên bảng danh dự. Bà ấy hẹn tôi đi thăm mộ một cậu sinh viên thời tôi học tên là Năm, học trò bà ấy, chết bệnh. Cậu ấy cùng trường nhưng khoa khác tôi không biết, với lại hồi đó đông sinh viên Việt Nam lắm.
Ngày chủ nhật tôi dắt tay người mẹ già Nga đó đi thăm đứa con Việt Nam. Xa, phải đi ô tô qua ngoại ô, rừng. Nghĩa trang đẹp quá, như những bài thơ. Mộ Năm được xây, có hàng rào xung quanh trong đó có dành một phần mộ không bên cạnh. Bà Nadia nói là chỗ nghỉ của bà sau này. Không có hương, chúng tôi thắp nến. Tôi có mang theo sơn để sơn lại, nhưng không cần. Ai đó đã sơn, ai đó đã căm hoa vừa xong, chắc chỉ mới hôm qua.
Tiếng vỗ tay và cái tát
- Lâu quá mới qua công viên Hồ Thành Công. Hồi xưa ở Láng Hạ, tối nào mình cũng đi dạo, thấy nhiều bãi khiêu vũ, nhạc rộn ràng. Cuộc sống thật thanh bình đáng yêu. Nhớ một lần dạo xong 2 vòng hồ về qua bãi to ở cổng lúc họ vừa kết thúc nhảy tối, đang thu dọn nhạc loa. Bỗng có một xe sang trọng đi vào sân. Bước xuống 5 người , bà mẹ, hai đứa trẻ khoảng dưới 10 tuổi ăn mặc kiểu Vũ hội La tinh, cậu lái xe cầm theo máy quay, bộ nhạc và một cô có vẻ cô giáo. Tiếng nhạc nổi lên, hai đứa trẻ khởi động, xoay chân. Chuyên nghiệp quá. Đám đông không giải tán mà tạo vòng rộng xem. Vẫn còn sớm, trời đẹp.Thứ bảy.
- Tôi cũng đứng lại xem. Bản nhạc Latin hay quá. Không chỉ hai đứa trẻ nhảy mà xung quanh mọi người cũng lại bắt đầu cầm tay nhau nhún nhảy, lắc lư, te đổ. Cậu bé phấn khích trước những vỗ tay ngưỡng mộ, bắt đầu pha thêm các nhún lắc. Đám đông sung sướng. Cô giáo vỗ tay bắt dừng. Làm lại. Vẫn thế. Cậu bé như bị hút hồn bởi những tiếng vỗ tay, những quằn quại lắc lư của các đôi người lớn cũng vui sướng phụ thêm vào các bước nhảy. Tuyệt thật.
Bà mẹ im lặng từ đầu, bỗng đến tắt nhạc đột ngột. Mọi người sững lại. Bà bước ra đến chỗ con và ... Một cái tát, rồi lôi cậu bé vào xe. Bất ngờ quá. Mọi người phấn nộ. Có tiếng kêu: “Gọi cảnh sát”. Các phản ứng kèm với các kỹ năng suy đoán mà người Việt đã sẵn có bùng lên “Chắc đây là con riêng của chồng, mụ Cám này, sau này trả giá, trời có mắt, đây là phạm điều mấy, điều mấy hiến pháp, chắc chồng nó bỏ đi với chân dài rôi....”. Chỉ có cô giáo, cậu lái xe và cô bé vẫn tỉnh bơ, cứ như không có ai, không nghe gì, thấy gì. Cô bé vẫn bước dạo một mình nhưng bước Rumba mũi gót, trọng tâm. Một lúc sau bà mẹ dẫn cậu bé ra, nước mắt vẫn đầm đìa. Nhạc lại bắt đầu. Bây giờ đám đông hoàn toàn im lặng, vũ điệu được trình diễn từ đầu đến cuối. Hai đứa trẻ như không biết đến xung quanh, chỉ có chúng với nhau.
Tiếng nhạc dứt. Im ắng chờ đợi. Cô giáo đừng lên vỗ tay, thế là đám đông ào ào vỗ theo. Cậu bé quay nhìn mẹ. Mẹ đứng dang hai tay. Cậu chạy lại ôm mẹ, không biết khóc hay cười, cả hai người
- Giải tán. Có bàn tay ai bên cạnh cầm tay kéo tôi đi. Đến cổng quay lại, mới biết là nhầm tay. Cô ta nói xin lỗi, còn tôi đáp cảm ơn.
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo Từ Ngọc Ánh không chỉ vì những kiến thức hóa học thầy dạy mà còn vì những truyện ngắn nước ngoài thầy dịch và thường kể lại cho cả lớp 10C trường cấp III Bến Tre Phúc Yên xưa.
Tôi xin cảm ơn vợ chồng Giáo sư Nguyễn Xuân Lạc và Tiến sỹ Đặng Kim Nhung đã luôn động viên, tin tưởng tôi trong Cuộc Sống, Khoa học và Nghệ Thuật.
Cảm ơn Tiến sỹ Vũ Như Lân và Thư ký tòa sọan tạp chí Khoa học và Công nghệ Lê Thị Thiên Hương cùng các đồng nghiệp ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam vì sự nhiệt tình lắng nghe những câu chuyện tôi kể, hứng thú theo dõi số phận những nhân vật của tôi.
Cảm ơn anh Phan Quý Bích và anh Đỗ Đình Khang, hai người bạn học thân thiết đã cùng chia sẻ những suy nghĩ, ấp ủ của tôi.
Cảm ơn Giáo sư Nguyễn Hoàng Nghị, một nhà khoa học nghiêm khắc khó tính đến khó chịu, đã chịu đọc xong các truyện ngắn của tôi với lời nhắn gửi ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa: “Congratulation”.
Cảm ơn những người đã dành tình cảm cho tôi, đã đọc những dòng bản thảo, đã động viên và chờ đợi.
Tôi cũng xin gửi tới gia đình vợ con lòng biết ơn vì những gì tôi đã có đến hôm nay.
Cuối cùng con xin cảm ơn Cha Mẹ đã cho con đến với thế giới kỳ diệu này.
Hà Nội, 2014
Trần Đức Trung
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét