Chủ Nhật, 23 tháng 5, 2021

SÓNG ĐƠN ĐỘC

LI TÁC GI

Tôi chân thành cảm ơn các bạn đọc đã đọc và theo dõi những nhân vật của tôi: Tùng, Chi, Nụ, Hằng, Nghị và Hưng. Nếu có dịp, đúng hơn là có duyên, chúng ta sẽ còn gặp lại họ nữa, có thể trong truyện tiếp, cũng có thể trong cuộc đời, đâu đấy " Những con sóng đơn độc " như vậy.

Ý định viết về " Những con sóng đơn độc " xuất hiện lên trong đầu tôi khi một lần nghe Giáo sư Tạ Quang Bửu đến nói chuyện ở Viện Cơ thuộc Viện khoa học Việt Nam về chủ đề " Các bài tóan phi tuyến ". Câu chuyện Giáo sư kể về một huân tước đi dạo trên xe ngựa buổi chiều dọc bờ sông Theme ở London. Mặt sông phẳng lặng. Một buổi chiều giống như những buổi chiều. Bỗng từ đâu một ngọn sóng đơn độc ( Soliton ) nhô cao lên mặt nước và chạy dọc cùng chiếc xe trên bờ, một lúc rồi biến mất như chưa hề có.

 Và tôi bắt đầu viết truyện này khi dịch bài thơ Tuyết của Evtusheko. Có câu thơ ở đó  về nước Nga nó lại nhắc tôi về ý định xưa

" Có con sông mặt đóng băng
 Mà dòng lũ vẫn dưới lòng sục sôi "

 Trn Đức Trung

Sóng Soliton là sóng đơn độc (in mathematics and physics, a soliton is a self-reinforcing solitary wave).

Không phải lúc nào nó cũng xuất hiện ... và cả khi nó xuất hiện không phải lúc nào ta cũng nhận ra.

Như một truyền thuyết.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Liên Xô quyết định giúp Việt Nam xây dựng một trường Đại Học Bách Khoa Kỹ Thuật ở phía Nam Hà Nội. Một kiến trúc sư Nga được cử sang để tìm hiểu và chọn ý tưởng thiết kế. Đến Hồ Gươm, được nghe chuyện kể về Lê Lợi hoàn kiếm cho rùa thần, hình ảnh về một trường Đại Học mang cái hồn từ ngàn xưa đó đã xuất hiện, ám ảnh người kiến trúc sư Nga.

Đó là sóng nước Hồ Gươm bắn lên từ lưỡi gươm thần chém xuống nước của Lê Lợi đã trào về phía Nam (theo hướng phố Tràng Thi bây giờ), cuộn dừng lại thành hồ Thuyền Quang (còn gọi là hồ Ha Le), rồi trào ập sang thành hồ Bảy Mẫu. Những đợt sóng nối tiếp nhau hình thành trường ĐHBK. Có thể thấy những ngọn sóng trên nóc tòa nhà chính C1. Các hành lang, tòa nhà C1, C2, C3, C4, C5 cũng lượn lên xuống theo nhịp sóng. Và chỉ có con sóng nào vượt lên, tách khỏi đám đông, bay lên trên những cái tầm thường của đời thường, chấp nhận sự thách thức cô đơn thì mới dám hiến dâng thật sự vào khoa học, con đường đầy chông gai. Đó là hình ảnh cổng Parabol, cái ngọn sóng Soliton đơn độc ...

Không biết có ai còn nhớ người kiến trúc sư Nga đó không. Xem các tài liệu lưu trữ về lịch sử trường chỉ thấy viết " Trường được thành lập ngày 6-3-1956 theo nghị định 147/NĐ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam Nguyễn Văn Huyên ký. Địa điểm của trường ở phía nam Hà Nội, đầu phố Đại Cồ Việt, nơi có khu Đông dương Học xá cũ trước đây với 6 ngôi nhà chính là A, B, C, D, E, F ". Khi xây xong trường rồi về sau người ta lại xây thêm C9, làm khuất thêm cái cổng Vòm. Ở phố Trần Nhân Tông cái cổng công viên cũng được xây cao lên. Từ trên cao nhìn xuống thấy tiếc.. "

1.                                             

Thành phố HCM cuối năm 2000. Người ta nói khác với người Hà Nội, người Huế, người Sài Gòn có tính cách có thể nói là tiêu biểu cho tính cách Nam Bộ nói chung, nghĩa là người Sài Gòn vời người Nam Bộ không có sự phân biệt mấy về tính cách. Có lẽ tính cách ít đố kỵ, nói là bao dung cũng được, nhưng thực ra là sự vô tư lự, ít để ý đến chuyện riêng người khác của người Sài Gòn cũng là cái nguyên nhân thu hút những con người với những số phận éo le khác nhau đến sống, mưu sinh, thay đổi, làm lại cuộc đời. Cuộc sống náo nhiệt giúp cho nhiều người khuây khoả quên được những gì họ đã mất, những ước mơ, những con người nữa mà họ để tuột. Và thành người Sài Gòn họ cũng thực tế hơn với " Nhìn những cái trong tầm mắt, làm những cái trong tầm tay " cho dễ sống.

Cũng có những người giải thích tính cách " Người Sài Gòn " có được một phần là do khí hậu. Ở Nam Bộ không có bốn mùa rõ rệt. Cũng có thể đúng. Hàng năm vào thời gian cuối thu đến trước tết cũng có nhiều người ở thành phố Hồ Chí Minh bay ra Bắc. Phần đông là người Hà Nội. Cũng có phụ nữ. Họ ra thăm người thân, thăm Hà Nội, nhớ Mùa Thu, nhớ cái lạnh. Nhớ những cái đó một phần. Họ nhớ họ nhiều hơn.

Đổi tên Sài Gòn sang là Thành phố Hồ Chí Minh, tính cách người Sài Gòn cũng chẳng thay đổi. Chỉ có bề ngoài " Hòn Ngọc Viễn Đông " tráng lệ xưa đã trở thành một thành phố đồ sộ, ồn ào với các Building, ô tô, siêu thị, nhà hát...với tất cả những gì cần cho một xã hội tiêu thụ.

Một buổi tối cuối năm 2000 ở thành phố hơn sáu triệu dân này. Nhìn từ trên cao xuống những con đường loang loáng ánh đèn, các cửa hiệu nhà hàng đầy màu sắc lung linh. Hòn ngọc Viễn Đông xưa hoa lệ, kiều diễm hơn về đêm. Những xô bồ vất vả lộn xộn, tắc nghẽn xe cộ ban ngày cũng đã không còn. Trong nhà hát lớn ở quân 10 thành phố đang có cuộc thi hoa hậu và trình diễn thời trang. Kết thúc cuộc thi, mọi người vỗ tay, tặng hoa. Xuất hiện thoáng qua trong số khán giả ngồi hàng trên có khuôn mặt một số người quen thuộc trên màn hình vô tuyến như Thành Lộc, Phương Thanh...

Bên dưới khán giả có một đôi trai gái. Người con trai bỗng dưng kéo tay người con gái lôi đi.

- Kìa anh.
- Nhanh ra trước lấy xe. Với lại mình còn một buổi trình diễn nữa cơ mà.

Chiếc xe máy phân khối lớn lao vun vút trên đường. Cô gái ôm chặt lấy người yêu:

- Kìa anh, đi xem ở đâu nữa, khuya quá rồi. Tối nay mẹ em gọi điện về không gặp em thì chết. 
- Xem ở nhà em chứ ở đâu, em quên là ở đó hôm nay có “ cuộc thi hoa hậu của những người yêu nhau “ , à, cuộc thi thật đặc biệt với một thí sinh và một vị giám khảo kiêm khán giả.
- Và không có giải thưởng?
- Sao lại không, cứ tham gia, chưa cần biểu diễn sẽ có được nhận trước đây. Giải thưởng mang tên “Nụ hôn tốc độ”.

Vẫn không giảm ga, anh quay đầu lại định hôn cô gái. Xe trượt, đổ. Các xe khác vút qua trong thành phố ban đêm đầy màu sắc và tiếng nhạc ...

Hai người dìu nhau tập tễnh leo lên cầu thang nhà cô gái, quần áo rách bẩn. Người con trai đứng lại thở, bóp chân kêu:

- Ôi, đau quá, nghỉ một tí.
- Sao, vị giám khảo kiêm khán giả khập khiễng ơi, thế liệu cuộc “thi hoa hậu của những người yêu nhau “có tổ chức hay hoãn lại.
- Vẫn cứ tổ chức chỉ có đổi tên thôi: “ cuộc thi hoa hậu của những người yêu nhau vừa bị ngã xe máy “.

Có tiếng chuông điện thoại réo trong phòng khách ở tầng trên, cô gái dứt tay khỏi bạn trai chạy vội hết cầu thang vào phòng. Anh con trai tập tễnh leo lên. Trong phòng cô gái nói chuyện qua điện thoại với mẹ, khuôn mặt rạng rỡ:

- Mẹ à, Cô Hằng khoẻ chứ, cả nhà khoẻ chứ, ngoài Hà nội có vui không, con chờ điện thoại của mẹ mãi suốt cả buổi không đi đâu chỉ ngồi xem vô tuyến với con Kít thôi - Con chó xù trắng bị bỏ đói nghe thấy nhắc tên mình bèn sủa “gâu gâu” và ném vào cô chủ nói dối một cái nhìn trách móc , giận dữ .- Có quà cho con chưa và cả cho em Kít nữa nhé. – cô gái nhìn con chó gật đầu, xoa tay thân thiện để nó nguôi cơn giận và đến dụi đầu vào chân cô.
- Cô Hằng bị mệt, thay đổi khí hậu không quen, con nhớ phải cẩn thận điện, nước, ga đấy nhé - tiếng người mẹ từ Hà nội vang qua điện thoại.
- Mẹ cứ ... con đã thấy khẩu hiệu và nội quy của mẹ rồi - cô ngoái nhìn, trên tường dán một tờ giấy đề các dòng chữ nắn nót: ra khỏi nhà CHÚ Ý: - điện - nước - ga - khoá cửa !!!

Người yêu cô với chiếc quần bị rách đang mải mê ngắm phòng khách bày biện một cách rất ấn tượng, lại có rất nhiều ảnh, sách vở, đĩa nhạc và kỷ niệm của nước Nga. Anh đến gần bàn điện thoại làm rơi một quyển sách, cúi lên nhặt rơi ra tấm ảnh một người con trai đang ở xứ phủ tuyết.

Cô gái gác điện thoại quay lại. Anh hỏi :

- Mẹ em trước học ở Nga à?
- Không, Mẹ em học ở trường ĐHBK Hà nội, tốt nghiệp khoa vô tuyến điện. Mẹ em có sang chơi Tiệp với qua mấy nước Đông Âu, đó là hồi còn bé, theo ông ngoại em. Nhưng mẹ em yêu nước Nga nhất, tiếng Nga, thơ Nga và nói chung những cái gi thuộc về nước Nga. 
- Và yêu người học ở Nga - cậu con trai chìa bức ảnh ra.
- Bác Tùng đấy, bác ấy dậy mẹ tiếng Nga hồi mẹ là sinh viên.

Hai người ngồi kề nhau trên divan uống cà phê, những quyển Album quyển thơ Puskin và các thư từ trên bàn, từ máy ghi âm tiếng hát Nga “Hát về tôi “ do Ala Pogutreva hát rồi nhẹ dần, cô gái bắt đầu:

- Mẹ em kể là hồi xưa mọi người yêu thích tiếng Nga và các bài hát Nga lắm. Mà hồi xưa mẹ nói người ta khác bây giờ lắm, yêu cũng khác. Cô Hằng bạn học của mẹ em cũng nói vậy. Mẹ em ra Hà nội gặp cô ấy đấy. Gia đình cô ấy bây giờ đang ở Nga, về thăm nhà được mấy hôm rồi. Cô ấy là em họ bác Tùng. Chuyện mẹ em và bác Tùng là do bác Hưng bạn bác Tùng kể cho em nghe đấy. Lãng mạn lắm. Bác Hưng là Phó giáo sư Tiến sỹ ĐHBK Hà Nội nhưng có cả thơ và truyện được in đấy....

Cô gái quay nghiêng người kể chuyện và anh bạn trai đặt cốc cà phê lên bàn, tay cầm tay cô. Anh muốn nghe kể câu chuyện về ngày xưa ấy. Thời ấy nghe nói họ yêu khác bây giờ lắm. Bài hát tiếng Nga vẫn da diết đệm theo câu chuyện của cô gái. " Bài ca về tôi " với tiếng hát Ala Pogucheva, thơ Debenev Leonid

" Em à.
Ai , tôi không hề quen biết
Đã buông tin tôi sướng lắm, giàu sang.
Luôn may mắn, chẳng có gì phiền muộn
Và thành công hơn tất cả mọi người.

Nhưng, như tất cả thôi, cũng vậy.
Tôi cũng đi trên mặt đất, lang thang.
Cầu mong sao số phận thương xót với.
Cho tôi xin chút hạnh phúc con người

em nghĩ có thiên đường dành riêng tôi đó,
nơi buồn đau sầu khổ chẳng còn đâu.
Em có biết, những chiều cô đơn lắm
Tôi lang thang rên rỉ, đôi khi.

Cũng đôi lúc cuộc sống này khó quá.
Cả không may, bất hạnh đến bất ngờ.
Tôi chỉ biết thở dài rồi nói
Không sao đâu, ai cũng thế mà thôi ".

Cô gái thay đĩa nhạc khác. Những bài Valse Nga. Có bài cây liễu xanh mà mẹ cô thích. Nó liên quan đến người con trai trong ảnh kia. 

2.

Những ai đi tàu hỏa từ phía Nam ra có lẽ đều có một cảm giác giống nhau, ít nhiều có chút bồi hồi khi đòan tầu về gần đến Hà Nội. Âm thanh những bài ca quen thuộc về Hà Nội từ các loa đang rộn ràng tràn ngập các toa tàu bỗng im bặt và thay vào là một giọng nói của con gái vang lên ngọt nhẹ trìu mến, giọng Hà Nội, chào đón hành khách như những người thân đã trở về nhà. Mọi người gọi nhau kiểm tra hành lý và đều ngồi dậy nhìn ra hai bên cửa sổ. Người, xe cộ, hàng cây, nhà cửa cũng như đã đợi chào khách từ bao giờ. Qua ga Giáp Bát rồi qua Ngã Tư Vọng là vào nội thành rồi. Tầu đi chậm lại, cất hồi còi to và hấu như tất cả hành khách đều nhìn sang các cửa sổ bên trái các toa. Hiện ra bệnh viện Bạch Mai với những tòa nhà từ thời Pháp, các hành lang. Với nhiều người bệnh viện này đã là một cái gì quen thuộc, có những kỷ niệm vui buồn xen lẫn. Xong rồi mọi người lại đều quay sang các cửa sổ bên phải tàu để nhìn cái cổng Vòm Parabol, đường đôi, những hàng cây, những tòa nhà, giảng đường, sinh viên, thày giáo, những người của Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Cũng có những học sinh trên tầu mơ ước một ngày nào đó sẽ bước vào cái thế giới ấy, cái thế giới sau cái cổng Parabol đó. Thường đó là các học sinh nam. Tất nhiên lẻ tẻ trong trường cũng có mấy khoa mà có con gái học như khoa Hóa, khoa Kinh tế, khoa Vô tuyến …

Khoa Chế tạo máy thì chủ yếu là nam.                

Một buổi chiều thứ 7 trong Trường ĐHBK Hà nội vào năm 1977, các sinh viên trên xe đạp lai nhau ra vào cổng parabol. Hai cô sinh viên lai nhau trên cái xe Babetta vội phóng đến sân bóng chuyền cổ vũ cho giải thi đấu liên khoa. Trên sân bóng đội khoa Chế Tạo Máy đấu với đội khoa Kinh Tế. Một vài tình huống cổ vũ quá khích và ngộ nghĩnh gây lên những tràng cười. Hai cô sinh viên vội dựng xe, khoá xe, chờ nhau. Bóng rơi đúng vạch. Trọng tài tính điểm. Mọi người ở khoa Kinh Tế phản đối. Một chị còn chạy ra chỉ rõ chỗ bóng ra ngoài:

- Đây, ngoài vạch đến nửa mét trọng tài ơi!

Trọng tài ngồi trên ghế cao lúng túng rồi cúi xuống, nói với người đứng dưới rồi thổi một hơi còi dài, giơ tay:

- Đánh lại quả ấy, bên trái giao bóng 9 -11.

Có tiếng nhao nhao phản đối:

- Trọng tài vườn quá, thay trọng tài thôi. Thầy chấm thi mà như thế thì chết con người ta rồi.

Trận bóng tiếp tục, khán giả say mê cổ vũ. Hai cô len chạy vào xem. Một cậu bị xô quay lại nhìn hai cô nhận ra nói:

- Bụt chùa nhà không thiêng, lúc nãy khoa Vô Tuyến chơi thua bét nhè chẳng thấy đến cổ vũ gì cả.

Hằng còn đang định hỏi thì Chi kéo cô đi tiếp, len vào. Hằng thì đầy vẻ hồn nhiên, Chi lại có vẻ mơ màng của một tiểu thư. Trận đấu đến hồi kết, trái bóng chuyền đi chuyền lại. Đội bên khoa Kinh Tế đánh trượt. Trọng tài giơ tay, còi:

- Đổi giao bóng 13–14.

Hằng bấm Chi:

- Khoa Kinh Tế họ chơi đều hơn nhưng bây giờ sẽ đến lượt ông Tùng giao bóng đây. Bóng bay đi bay lại rồi bên khoa Kinh Tế chuyền hỏng ra ngoài, rơi cạnh hai cô sinh viên khoa Vô Tuyến đứng xem. Tùng bước đến lấy bóng thì Hằng không đưa cho anh, lại đặt bóng vào tay Chi :

- Trả mày.

Có phải bóng đã được tay Chi trao cho không mà mấy quả phát bóng của anh nhanh mạnh đến kỳ lạ, đảo ngược và kết thúc luôn trận đấu. Mọi người vỗ tay hò reo rồi giải tán, đến giờ ăn cơm ở nhà ăn tập thể rồi . Tiếng người nọ gọi người kia:

- Vũ ơi, chiều nay Hùng và Thái chúng nó về nhà rồi, ủng hộ hai vé ăn bồi dưỡng cho đội bóng..

Tùng gọi Hằng, cô em họ anh:

- Hằng ơi, lại đây anh có việc nhờ cái.

Hằng đứng lại chờ đợi còn Chi ngập ngừng rồi đi ra chỗ lấy xe. Tùng ngừng nói nhìn nhanh theo Chi, cũng lúc cô nhìn lại, ánh mắt gặp nhau, dừng lại. Tùng nói tiếp với Hằng:

- Tối thứ bảy này sinh nhật thày Hải ở phòng anh. Hằng giúp bọn anh mua ít kẹo bánh hoa quả được không. Nói với chú thím là anh vừa về Nam Định tuần trước. Mẹ anh thích miếng vải lắm, nhưng kêu thôi, thím đừng mua cho quê gì nữa, tốn tiền.

Hà Nội luôn đông nghịt người ở các phố cũ, còn gọi là các phố “ Hàng “. Xưa đó là các phố nghề, nơi tụ tập của các thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình. Và chính sản phẩm làm ra hoặc được buôn bán trở thành tên phố, với chữ " Hàng " đằng trước cho mỗi phố. Những nhà cổ, những cửa hàng chủ yếu là nhà ống, mái ngói nghiêng, mặt tiền là cửa hàng buôn bán thò thụt không đều. Hình ảnh nhà cổ và mái ngói đã đi vào hội họa, thơ ca..Trong hội họa có những tranh của họa sỹ Bùi Xuân Phái vẽ các đường phố, vỉa hè, ngôi nhà phố cổ. Lại thêm một từ nghe rất thơ mộng gọi các phố cổ là “ Phố Phái “. Những ngõ nhà rất hẹp để cho khách đi bộ chạy vào trú những cơn mưa bất thình lình. Nhìn thấu vào bên trong là cái sân và không biết có bao nhiêu nhà gia đình sống ở đó nữa. Cũng chẳng ai nhìn theo hướng đó, chỉ nhìn ra phố mưa.                                         

Khu Phố cổ Hà nội nhìn từ phía Bắc là phố Hàng Đậu, phía Tây là phố Phùng Hưng; phía Nam là các phố Hàng BôngCầu Gỗ,  phía Đông là đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật

Những khu dân cư khác của Hà Nội ít thấy người nước ngòai lang thang thăm thú dù rằng nó cũng rất đông người. Người các tỉnh kéo lên đấy. Các sinh viên tốt nghiệp tìm việc ở lại Hà Nội. Các sinh viên tốt nghiệp ở nước ngòai về nước phần đông có nghĩa là về Hà Nội. 

Hà Nội càng đông đúc ở các khu nhà tập thể theo kiểu lắp ghép xuất hiện về sau ở những khu phố Kim LiênTrung TựGiảng Võ …

Hà Nội chật ních và nheo nhóc ở những ngôi nhà ổ chuột ngõ ngãch, bãi sông.

Nhưng có một phần Hà Nội khác, được du nhập theo văn hóa phương Tây của người Pháp. Ấy là năm 1883, người Pháp bắt đầu lên kế hoạch xây dựng lại thành phố. Dựa trên các khu phố Hà Nội vốn có, những kiến trúc sư người Pháp xây dựng các con đường mới, khu phố, công xở cho thích nghi với môi trường địa phương, tạo nên một phong cách ngày nay được gọi là kiến trúc thuộc địa. Khu vực đô thị do người Pháp quy hoạch và xây dựng gồm ba khu: nhượng địa, thành cũ và nam hồ Hoàn Kiếm, ngày nay mang tên chung là khu phố Pháp. Sau này mọi người quen gọi phần Hà Nội đó là khu thượng lưu, khu cao cấp, khu ông to…

Một buổi sáng yên tĩnh ở khu Ba Đình Hà Nội rợp bóng cây. Những ngôi nhà biệt thự thời Pháp có cổng, sân và cây to. Nơi đây không có những cửa hàng, vỉa hè rộng, vắng vẻ, không người bán rong. Giữa phố có ngôi nhà với cây hoa giấy. Ngôi nhà của ông thứ trưởng bố Chi. Cửa phòng khách mở ra, cậu con trai bước vào, vẻ mặt ranh mãnh. Chi đang xếp lại sách trên bàn, quay lại tay cầm quyển sổ gọi là bìa mua hàng cao cấp trong các cửa hàng dành riêng cho các cán bộ lãnh đạo thời bao cấp đó. Dương nói :

- Cô lại đi Tôn Đản đấy à. Anh cần 1 Sôcôla, 1 bánh xà phòng thơm, của Đức được thì tốt.
- Chắc gì, có khi một gói ô mai, một túm bồ kết lại hiệu quả hơn đấy, anh cứ thử xem - Chi ỡm ờ, mím môi nhìn anh, gật đầu.
- Nhưng không phải đối với cái Hà, ơ Chi, đợi đã nào.

Chi đã chạy ra ngoài. Dương lắc đầu nhìn xuống cửa sổ. Bà mẹ đang chơi với con chó to ở dưới sân. Ngoài phố Hằng đang lai Chi trên chiếc xe đạp, cười rúc rích. Chi nói:

- 2 cân kẹo, 1 tút tam đảo, 2 cân bánh nhện, à phải rẽ lên phố mua bánh ga tô cắm nến cho đúng sinh nhật chứ, không biết thầy ấy bao nhiêu tuổi
- Thôi, tốn tiền với lại sang quá ông Tùng không thích đâu, lại mắng tao. Ông ấy trông hiền thế nhưng dễ tự ái lắm.
- Thôi tuỳ mày, tao chỉ ăn theo thôi. Mà cũng đúng thật, các thầy đi học ở Liên xô về trông ai cũng quê quá vậy, chẳng bù cho ông Dương và hội bạn ở Đức, Bun về, có khi chỉ cao đẳng hay trung cấp thôi mà gi gỉ gì gi cái gì cũng biết, gì cũng sành, cũng thạo.
- Thế mới gọi là ngố I van hơn một ngàn ngố tàu. Tiếng cười khúc khích của hai cô gái vẫn chạy theo dãy phố đầy cây.

Chiều thứ bảy trong phòng đầu cạnh cầu thang tầng ba nhà tập thể A2 của các cán bộ độc thân mọi người đi ra đi vào kê dọn, sách vở. Chiếc đài Ri-gôn-đa cũ kê góc tường được mở nghiêng nắp ra như chiếc dương cầm nhỏ, đĩa hát cứ quay bồng bềnh, say sưa. Căn phòng rộn ràng tiếng hát bài dân ca Nga. Giai điệu Valse da diết, mênh mang của nước Nga và có cái gì mong đợi lại mong manh của người con gái:

" Vầng dương dần khuất sau đồi,
Lại mình cây liễu đơn côi bên dòng.
Từ đâu một nỗi nhớ mong, 
trào lên day dứt trong lòng khôn nguôi.

Lao xao cành lá đưa lời,
đung đưa bóng rủ lả lơi thầm thì.
Liễu ơi, em nói điều chi.
Người ta yêu đã ra đi không về.

Năm xưa hò hẹn ước thề.
Làm sao quên được những gì trao nhau.
Nghiêng nghiêng mặt nước sợi rầu,
Vẫn cây liễu ấy buổi đầu cùng ta

Một mình nhiều lúc chiều tà
Đi đâu quanh quẩn vẫn là liễu xanh
Bởi như có tiếng của anh,
Lẫn trong với tiếng lá cành gọi em. "

Chi vừa nghe hát vừa bày kẹo bánh lên những chiếc đĩa giấy, vẻ kiêu hãnh ( kẹo bánh cô dùng bìa nhà vào mua tận trong Tôn Đản, cửa hàng dành cho gia đình các vị lãnh đạo cao cấp ). Hằng loay hoay cắm hoa vào cái lọ bé cũ cứ chực đổ. Nghị, một thầy trẻ đeo kính cận, một bên má bị chàm lôi trên giá xuống mấy quyển sách bìa cứng xếp chặn giúp Hằng, nói lắp một cách khổ sở:

- Thôi thế này là chắc không đổ được đâu, Hằng ạ - anh ta nói lắp nhưng mắt lại liếc nhìn Chi – chứ..chù..chùm hoa và Pu..Pu..skin là chỗ dựa đặc biệt vững chãi đấy. 
- Thơ và hoa à - Hằng đáp - chú ruột của cái Chi cũng là nhà thơ đấy. Mỗi lần sinh nhật bố nó chú ấy lại đọc tặng một bài thơ, nếu đi vắng thì gửi thơ đến. Các bác, các chú khác cũng đọc thơ chúc mừng, ca ngợt bố. Chú Mùi thư ký của bố chép lưu cẩn thận tất cả thơ thành một tập dày. Anh Nghị thích thơ thì hôm nào em bảo nó cho xem, nhưng mà đọc một bài thôi thì được, chứ các bài đều na ná giống nhau.

Hằng bỗng im bặt, thấy Chi quay sang lườm cô. Chi cúi xuống nhìn tập thơ Puskin và nhớ lại chuyện ở nhà nói chuyện với anh trai về thơ và về những ước vọng riêng của người con gái….

Chi nhớ lại chuyện với anh trai mới đây. Trong phòng khách nhà Chi có tập thơ để trên bàn, dòng chữ " Huy Hoàng thơ " tô đậm. Dương lấy giấy, bơm mực, phong bì, tem rồi ngồi xuống định viết thư. nhìn quanh tìm vật để kê viết, cầm quyển thơ lên, nhìn dòng chữ đề tên nắn nót, lắc đầu kêu:

- Khiếp thật - Dương dở mấy trang kêu tiếp - may quá không có tên tôi ở đây, Chi này có bài cho cô đây đã đọc chưa.
- Ôi, em sợ quá, đọc thấy xấu hổ, cái gì cũng nói quá lên. Nhưng chú Mùi bảo rằng đã là thơ thì ý phải khái quát hoá, ngôn ngữ phải được chọn lọc, phải cường điệu, phải có tứ thơ, nghĩa là phải đúng luật. Anh cứ chê nhưng biết đâu sau này anh lại thích, lại mụ mẫm hết cả đi mà xem. Mà đừng có lấy tập thơ tặng bố và gia đình để kê không, đây lấy quyển sách này vậy.
- Thôi được, cô nói phải, được khen, con người đã mụ mẫm cả rồi, được khen bằng thơ thì còn gì nữa, à mà cái thằng học kiến trúc con ông đại sứ gì đó cũng gửi thơ cho cô thôi. Đây này - Dương lôi trên giá xuống một tấm bưu ảnh nổi của Tây in hình đôi trai gái khoả thân như thiên thần trên con ngựa có cánh, dưới viết đè nắn nót dòng thơ và đọc - Em nhắm mắt cho ḷng anh lặng gíó, cho trời sao êm rụng một đêm hoa. Sao, có thấy xao xuyến gi không.
- Em mà xao xuyến à, em có cho lặng luôn thì có ... - Chi mím môi rồi cười – thôi cho anh đấy, tặng sinh nhật bạn gái, có đứa thích. 
- Cô khó tính quá, cũng may, sinh nhật cái Hiên anh chưa có gì tặng. Khái quát mà, cho ai cũng được , tặng ai cũng được 
- Em không khó tính, nhưng em thích thơ...thơ của riêng cơ, phải toàn thật cơ, không lẫn với ai khác - Chi thở dài, bỗng im bặt.

Hai người yên lặng nhìn ra cửa sổ. Chi liếc nhìn trộm Dương. Dương vẫn đứng yên như tượng. Bên ngoài hàng cây rung rinh, như từ từ hiện lên hình ảnh một cô gái châu Âu xinh đẹp . Như có tiếng thở dài từ lòng Dương, tiếng gọi khe khẽ:

- Monica, wo bist tu ( Monica, em ở đâu - tiếng Đức ).

Mọi thứ như mờ đi. Chi đến sau đặt tay lên vai Dương:

- Sao anh không nghĩ đến chuyện chị ấy sang đây. Việt nam, nước mình nghèo nhưng đấy là xã hội chứ đâu phải nhà mình. 
- Monica cũng muốn vậy nhưng anh không muốn . Anh sợ cô ấy không vượt qua được, sợ thất vọng, sợ hẫng hụt, sợ mạo hiểm.
- Mạo hiểm gì cơ?
- Mạo hiểm với mối tình đầu.
- Em không hiểu, nếu chị ấy không sang, mỗi người ở một nước thì - Chi ngừng lại trong giây lát - thì cái anh gọi là mối tình đầu cũng sẽ mất, sẽ chết.
- Nó không chết, đã là mối tình đầu thì không thể chết, không bao giờ chết – Dương nói run lên, không kiềm chế nổi cảm xúc - Hồi bố biết anh yêu Monica sợ anh lưu vong, lại sợ hai đưa chạy sang Tây Đức ảnh hưởng gia đình đã điện sang cho sứ quán bắt đưa anh sang Liên xô rồi đi tàu về nước, đột ngột quá, không kịp gặp nhau.
- Bố có lý của bố.
- Anh biết, thậm chí còn biết là mình sai, rất sai nữa là khác, Nhưng anh không làm thế nào khác được. Anh không giống bố, cũng không giống mẹ, hình như trong anh lại có cái gen trội của dì Thư. Dì ấy không lấy được người yêu bỏ đi tu đấy. Cũng mong gen ấy truyền sang anh hết, không sang cô tí nào, rồi khổ. Đàn ông đã vậy, đàn bà con gái còn khổ hơn.
- Anh.

Khuôn mặt với đôi mắt Chi mơ màng lạc đi đâu, một lúc mới trở lại.

Trong phòng mọi thứ bày biện có vẻ đã sẵn sàng cho một buổi liên hoan ngọt của các thầy giáo độc thân. Tiếng Hằng kêu:

- Sao lại chẳng có kẹo dừa trong cái đĩa này, sao thế, san đều ra chứ.

Chi đang mơ màng, giật mình ngượng nghịu, trở lại thực tại, xếp lại kẹo bánh. Mọi người gọi nhau ngồi vào chỗ. Thày Hải, lý do chính của buổi chiều này, có cặp kính dày cộp, đầu đã hói, dáng dấp vụng về. Trong người thầy giáo dạy môn vật lý chất rắn đó thấp thoáng một đứa trẻ thơ. Hằng ngồi cạnh Chi chỉ trỏ, thầm thì:

- Ông Tùng nói thầy Hải giỏi lắm đấy, đã có mấy bài báo đăng ở Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên xô rồi, chỉ có cái tật thấy chị em nhìn là nói lắp, trông mày cứ như tiểu thư ấy, mày thử thánh thót với ông ấy mấy câu xem, khéo thầy sẽ đổ mồ hôi, rơi cặp kính đấy.
- Vớ vẩn, phải tội, mày.

Hằng biết hầu hết các thầy và cũng rất tự nhiên thoải mái với mọi người. Thỉnh thoảng Chi cũng bắt gặp những cái nhìn kín đáo, lại nghe loáng thoáng họ nói về cô, về gia đình cô . Ghét nhất là mấy cô cùng quê của các thầy nào đó, ngồi gần cửa sổ xa cứ thầm thì rồi lại liếc trộm Chi. Hình như họ không phải cán bộ hay sinh viên trong trường. Chắc lại sinh viên mấy trường sư phạm hay tổng hợp rồi.

Chi không nhìn ai cả, đôi mắt đăm đăm làm như đếm các cánh bông hoa trước mặt, cố giữ vẻ bơ, một chút kiêu xa. Có một bông hoa hồng nhỏ được cô nhấc lên ngắm. Góc xa Nghị đần người nhìn sang Chi, tưởng như mình hoá thành bông hoa nhỏ đó, đổi kiếp người lấy kiếp hoa, đổi cả mấy chục năm còn lại của cuộc đời lấy cái khoảnh khắc trên tay nàng.

Có các tiếng lào xào:

- Con bộ trưởng đấy - một cô nói nhỏ, mắt vẫn nhìn trộm sang Chi. 
- Xinh nhưng lạnh quá - cô bạn đáp .
- Có ông anh đẹp trai lắm, đang học năm cuối bên Đức không hiểu sao bị kỷ luật gọi về, hiện vẫn ở nhà, nghe nói chờ xin vào học nốt năm cuối Đại Học Xây Dựng. 
- Con bộ trưởng thì làm gì chả được - một cô nói nhỏ, mắt vẫn nhìn trộm sang Chi

Một anh lấy chai rượu lúa mới rót vào các chén nhỏ:

- Chuyền cho mọi người trừ ông Hải ra, ông ấy chỉ một tí cay là đã như người trúng gió rồi, ưu tiên bác uống nước ngọt với chị em. Nào Tùng, bắt đầu đi.
Tùng bắt đầu buổi vui với một quà tặng nhỏ - cây bút Hồng hà màu đỏ và một quyển vở ngoại bìa cứng xanh. Anh mở quyển vở mở ra:

- Hôm nay lại có một chiếc lá thu rơi. Nó bay một vòng - Tùng xoay tay một vòng - và nó rơi đúng chỗ này - tay chỉ vào Hải đang lúng túng. Mọi người vỗ tay 
- Tôi xin thay mặt cho anh em tặng anh Hải một chút quà nhỏ - Hải định đứng dậy giơ tay ra , mọi người ồn ào thì Tùng nói:
- Khoan đã để tôi đọc mấy dòng chúc tụng ghi đây trong quyển vở đã.

" Tuổi ba mươi 
vui như trẻ lên mười 
yêu như tuổi mười bảy 
buồn như sắp năm mươi "

Mọi người vỗ tay. Một anh mặc áo ca rô giơ tay xoa vẫy, nói:

- Thế là bí thư chi đoàn công khai thú nhận khuyết điểm rồi nhé. Mọi người nghe thấy không câu " yêu - như - tuổi - mười - bảy " vừa đọc. Anh em tôi có biết tình yêu 17 nó tròn méo thế nào đâu. Hồi đó 17 tuổi chúng ta đi sang Liên xô học, còn các bạn cùng lớp chúng ta lại ở lại, chiến tranh, rất nhiều người lại cầm súng vào nam chiến đấu, để rồi không bao giờ trở về nữa. Và ở nước ngoài chúng ta đã tự nguyện dành hết thời giờ cho học hành, coi đó cũng là mặt trận, đưa ra nội quy không yêu đương trong lưu học sinh. Thế nào, nhận khuyết điểm rồi thì khai tiếp đi, yêu thế nào, tóc đen hay vàng hay là uống thêm một 100 gram phạt nữa -tay anh lôi dưới gầm bàn ra một chai quốc lủi - Samogon (quốc lủi- tiếng Nga) chế bằng nồi áp suất Liên xô đấy, công nghệ Việt nam.
- Uống là chúc mừng anh Hải chứ phạt mình cái gì. Nội quy nói là không yêu đương trai gái chứ có nói là không yêu thơ, yêu khoa học, không yêu những chiếc lá vàng mùa thu và những bông tuyết trắng mùa đông đâu. Mà tình yêu nó nhiều cung bậc lắm, có cái yêu nào giống cái nào đâu. Thôi chạm cốc đã, nào...

Mọi người đứng dậy uống chúc mừng Hải rồi ngồi xuống nói chuyện. Anh mặc áo ca rô ngồi xuống, khà một tiếng, nghêu ngao:

- " Tim tôi lửa cháy như khêu 
vì tôi không thể không yêu người nào (thơ Puskin)." 

Quân ơi, hát một bài Nga đi, cái bài mà cô giáo tiếng Nga Irina dạy chúng mình rồi cậu hát rất hay ở Cung Sinh Viên nhân ngày cách mạng tháng mười năm ấy.
- Bài Giu ra vơ li (Đàn Sếu- tiếng Nga), cái ghi ta này là của Volodia nó tặng mình lúc tốt nghịêp đấy. Mình vừa nhận được thư nó, lớp mình bên ấy gặp nhau, họp mặt hỏi thăm chúng mình, các thầy cũng nhắc, nhất là Tùng, xem có làm tiếp cái đề tài đó không, thí nghiệm nó làm lúc tốt nghiệp được đưa vào và trích dẫn trong quyển sách mới viết của ông Bogomolov rồi.

Mọi người im lặng lắng nghe Quân cầm ghi ta hát. Như thấy các cảnh mờ đi xen kẽ giữa cảnh mọi người ngồi nghe hát là các cảnh chọn lọc khác, cảnh bầu trời, đàn sếu, chiến tranh. Mọi người lắng nghe bài hát Nga, lời thơ dịch đọc tiếng Việt:

" Có những lúc tôi vẩn vơ ý nghĩ,
những chàng trai sau chiến trận không về,
không nằm lại nơi đồng hoang lạnh giá,
mà hoá thân trong đàn sếu bay cao.

Tự bao giờ đàn sếu bay, bay mãi.
Trong không trung vang tiếng gọi xé lòng.
Để dừng bước nhiều lần, ta mê mải
ngước nhìn lên và suy nghĩ mông lung.

Cả đàn sếu, hai hàng chụm lại
lặng lẽ trôi, nhuốm ánh nắng chiều.
Vẫn còn khuyết trong hàng kia chỗ trống. 
Có thể chăng nó dành sẵn, chờ tôi.

Và có thể một ngày nào, cũng vậy,
Tôi sẽ bay cùng đàn sếu lưng trời.
Giang đôi cánh cất tiếng chim tìm gọi 
những người thân với nỗi nhớ khôn nguôi.

Có những lúc tôi vẩn vơ ý nghĩ,
những chàng trai sau chiến trận không về,
không nằm lại nơi đồng hoang lạnh giá,
mà hoá thân trong đàn sếu bay cao "

Có phải bài hát, câu thơ động đến tình cảm, nhớ nhung không mà mọi thứ như được cởi tung ra, mọi người hết trêu Hải rồi lại kể chuyện, lại hát các bài về tình yêu, nhắc lại những ngày tháng sinh viên ở nước ngoài của họ, về những người thầy, người bạn Liên Xô. Các thầy cũng nhanh chóng hết giữ kẽ, nói cười thoải mái lại pha, xen trộn lẫn tiếng Nga vào. Rồi họ hát những bài hát tiếng Nga...

Một lúc sau Hằng vô tư chạy sang đòi đổi chỗ cho anh Tùng, nói để anh sang dịch cho Chi nghe các bài tiếng Nga mọi người hát . Con ranh, Chi có nhờ nó đâu, cô nghe lõm bõm, nhìn dáng điệu của mọi người cũng đoán được cả,cũng có lúc phải bật cười thôi. Tùng sang nói ngay với Chi:

- Đã đặt được vào ngữ cảnh rồi thì ngôn ngữ không quan trọng quá như mình nghĩ đâu, cái chính là người ta có muốn hiểu nhau không, có biết chờ đợi để hiểu không. Hồi bọn anh mới sang học,không biết tiếng Nga, cô giáo không biết tiếng Việt, thế rồi cũng dạy được, học được. Hình như mọi người của các dân tộc khác nhau trên trái đất này ngoài tiếng mẹ đẻ của mình còn có một thứ tiếng nữa, tiếng nói của .. .ờ ...” - Túng đang say sưa bỗng dừng lại, một chút bối rối .
- Chắc là ông lại nhớ đến một cô tóc vàng nào rồi chứ nhỉ - một cậu nói chõ sang. Cô gái ngồi bên đánh vào tay anh ta.

Chi bỗng thích thú và nén, che giấu suy nghĩ của mình, thản nhiên bóc cam chờ anh nói tiếp. Tùng cũng hiểu, bật cười, hình như là cười với mình, diễu chính mình rồi tiện tay cầm quyển thơ cạnh lọ hoa trước mặt:

- Puskin đấy Chi ạ. Anh học tiếng Nga qua những bài thơ này, mà kẹo bánh Chi mua hộ sang, cầu kỳ quá. Lần sau mua kẹo giấy thường cũng được, bọn anh toàn nông dân Ivan thôi. -Tùng chuyển chủ đề rất nhanh, chắc Hằng đã mách lẻo với ông anh rồi.

Bên dãy bàn kia họ vừa tốp ca xong một bài hát “ Cây thuỳ dương ” và có người xin bên Tùng ngồi cho tiết mục :

- Đề nghị cựu bí thư chi đoàn Tasken đứng lên đi.
- Thôi nhà thơ bắt đầu đi, thơ tình nhé không Bút tre đâu.

Tùng cầm quyển thơ Puskin lên đọc thơ Nga, rồi anh lại dịch ra tiếng Việt nữa:

" Cái khỏanh khắc diệu kỳ tôi nhớ lại.
Em từ đâu xuất hiện trước tôi
như hư ảnh vụt qua chớp mắt
như linh thần của sắc đẹp trắng trong.

Trong day dứt sầu đau tuyệt vọng,
Giữa dòng đời xáo động ồn ào. 
Vẫn vẳng đâu giọng em trìu mến
và lại mơ thấy những nét thương yêu.

Bao năm qua, bụi mù bão tố
xóa tan đi mơ ước thuở nào.
Tôi đã quên giọng em trìu mến
và cả em rồi những đường nét thần tiên.

Trong hoang vu, tẻ buồn, đằng đẵng
Ngày dài sao đơn điệu im lìm
Không diệu huyền, không nguồn cảm hứng
không cuộc đời, nước mắt, tình yêu.

Rồi bỗng nhiên tất cả đều thức tỉnh
Em từ đâu xuất hiện trước tôi
như hư ảnh vụt qua chớp mắt
như linh thần của sắc đẹp trắng trong.

Trái tim lại rộn ràng thổn thức
đón nhận bao say đắm hồi sinh,
cả diệu huyền, cả nguồn cảm hứng,
cả cuộc đời, nước mắt, tình yêu."

- Đọc nốt bài " Ta yêu nàng " cậu dịch đi. Dịch thế mới đúng là một Puskin, một quý tộc kiêu hãnh, trọng danh dự hơn tính mạng mình chứ như bản dịch trong tập thơ in thì cứ như một anh Hà Nội mê gái ấy. Đọc đi Tùng, để thấy cái chất Puskin thật sự.

Tùng chấp nhận đứng lên. Mọi người im bặt chờ đợi. Anh đọc bài thơ tiếng Nga trước rồi đọc tiếng Việt:

" Ta đã yêu Nàng, tình yêu có lẽ
Trong lòng ta chưa tắt hẳn, vẫn còn
Nhưng vậy thôi, đừng làm em xáo động
Làm em buồn ta chẳng chút cầu mong

Ta đã yêu em âm thầm, vô vọng.
Khi rụt rè, lúc cháy bỏng, hờn ghen.
Ta đã yêu nàng thật chân thành, dịu ngọt,
Ước nàng được yêu thế bởi ai nào. "

Mọi người vỗ tay, tấm tắc khen dịch hay. Lúc câu chuyện, các bài hát được chuyển qua nhóm khác, Chi quay sang anh Tùng:

- Thơ Puskin hay mà đơn giản quá, cứ như mình nói vậy.
- Anh dịch cố đúng nghĩa từng từ chứ có trau chuốt gì đâu. Tự trong thơ Puskin có vần, có nhạc rồi. Phổ nhạc thành bài ca cũng dễ mà dịch sang cũng dễ – Tùng cười hiền. 

Mấy cô khách ngồi góc xa khá bạo dạn, hát đọc thơ, đối đáp thoải ái chứ không như Chi. Còn Chi chỉ đến tối về lên giường nằm lại nhớ lại tất cả, nhất là Tùng. Rồi khuôn mặt anh mờ đi, hiện lên tập thơ Puskin trên gối, Chi đang trằn trọc trên giường ở nhà cô, khó ngủ, tiếng cười nói của buổi sinh nhật lắng dần, tiếng nhạc du dương. Bên tai cô vẫn vẳng lên tiếng Tùng ấm áp tình cảm, buổi sinh nhật và Tùng vẫn theo cô trong giấc ngủ:

- Puskin gặp Anna lúc cô mới mười sáu tuổi. Anna yêu ông nhưng nhà thơ không để ý, còn quá nhiều việc bận bịu, tưởng là cần hơn. Sau này gặp lại thì muộn rồi, Anna đã có chồng. - hiện dần lên khuôn mặt Tùng - Anh thích vì bài thơ đó là bài thơ riêng, gửi cho một người. Có lẽ vì thế nó thật quá, thật đến đơn sơ, như bật từ lòng mình ra. Ở ta hay quen những câu thơ to tát ồn ào , cho muôn đời, đọc cho muôn người, quen ngộ nhận, nói thay người khác hoặc quen cầu kỳ chơi chữ, soạn câu, chắt vần, gọt giũa đến trơn bóng, tỉa tót như cây trong chậu cảnh, nhân công nhiều quá còn đâu cái hồn, cái hồn tự nhiên còn đâu cảm xúc của cái thật. Puskin không thế. Lúc anh đọc thơ của ông, anh như cứ thấy nhà thơ ở rất gần, cũng đang lắng nghe. Đã học tiếng Nga thì nên bắt đầu từ Puskin.
- Anh chép cho em bài thơ đó nhé - Chi ú ớ ôm gối nói, nhắc lại trong mơ và lại nghe thấy tiếng Tùng trìu mến, văng vẳng từ đâu - Lát nữa Chi cầm cả quyển thơ về và anh đưa cho Chi những bài anh dịch ra tiếng Việt, thế mà cũng gần hết đấy. Còn mấy bài nữa thôi, lúc đó vừa hết năm học tiếng rời khỏi Tasken lên Kharkov gặp một anh sinh viên năm trên. Anh ấy đưa cho anh tập thơ của Puskin dịch ra tiếng Việt mất rồi. Anh thấy cứ như bị hụt hẫng - hiện lên đôi mắt Tùng mơ màng - anh không phải là người đầu tiên. Sau thấy mình vô lý đến buồn cười, thử dịch tiếp không được nữa, cứ lạc vào cái thơ đã dịch của người .

3.
Trong sân nhà Chi buổi sang thấy Dương đang tập tạ tay, mặc áo ba lỗ có in chữ TU Dresden. Chi cầm bàn chải và khăn mặt đi qua, Dương bảo cô em gái:

- Đi đâu tối qua mà về muộn thế, làm mẹ cứ phải dối quanh, ra phòng khách mà xem cái hộp trang sức có nhạc người ta tặng chưa, mua tận Dubai đấy. Thằng con trông hãm những ông Đại sứ nói chuyện rất vui và thoải mái lắm, hơn đứt ông già nhà mình, thế cũng được, con rồi sẽ giống cha , khi tuổi cô bằng bà đại sứ thì ông chồng cô sẽ hết ý.
- Nghĩa là hai chục năm nữa anh cũng sẽ giống hệt bố chứ gì.
- Hết khôn dồn dại hai đứa này - mẹ Chi dẫn con chó xuất hiện - Có bánh cuốn Thanh Trì đấy, hai đứa nhanh vào ăn đi cho nóng, cho ít cà cuống vào cho thơm.

Hoá ra tối qua ông bà đại sứ và con trai đến chơi ngồi lâu, ý muốn chờ xem mặt. Chi nghe anh nói mà mắt để đi đâu, cũng chẳng buồn lên nhà ăn sáng nữa. Cô lên nhà chải đầu, lại mơ màng, tiếng nhạc “Liễu xanh “ lại dịu dịu. Chi dắt xeđi .

- Con đến nhà cái Hằng mượn bài làm đồ án , con đi ăn sáng với nó luôn.
- Đi đâu thì về sớm, trưa nhà có khách đấy - Bà lắc đầu.

Bà cưng con gái, không ngăn cản điều gì nhưng không thích Hằng lắm. Bố Hằng làm ở ban âm nhạc đài phát thanh, viết phối âm và chơi được đủ các loại đàn. Mẹ Hằng làm việc ở quầy tiết kiệm gần nhà. Nói chung họ thuộc tầng lớp dân thường.
   

Đường phố Hà nội sáng chủ nhật rộn ràng tiếng nhạc, Chi đạp xe lướt dãy phố đầy cây rồi rẽ vào khu tập thể đài phát thanh. Cô vừa xuống xe, đi vòng qua cái giếng của khu tập thể thì đã thấy Hà, em gái Hằng kêu mừng rỡ:

- Chị lai em đến bệnh viện mới. Chị Hằng và mẹ em đang ở trong đó rồi. Sáng nay bố em bị ngã, phải đi cấp cứu.

Hai chị em lai nhau. Hà lại nhảy xuống:

- Chị chờ em vào xem đã tắt bếp chưa đã. Hình như em quên, lần trước cũng suýt cháy nhà rồi - Hà chạy về mở khoá.

Buổi sáng trong phòng cấp cứu của bệnh viện các bác sỹ ðang chãm sóc bệnh nhân. Cửa phòng mở ra, Hà ló mặt vào, kêu:

- Bố!

Ở bệnh viện bố Hằng được tiêm thuốc đã tỉnh, đôi mắt lờ đờ, bàn tay phải co quắp lại, cái miệng méo mấp máy như muốn nói gì khi nhận ra đưa con gái út. Hà oà lên khóc khiến Hằng phải mắng em nhưng rồi cả ba mẹ con đều khóc. Cô bác sỹ nói với Chi:

- Cơn nguy hiểm đã qua nhưng áp huyết lên đột ngột buổi sáng dẫn đến tai biến mạch máu não. Cũng may ông bị khi vừa bước xuống giường chứ ra đến cầu thang ngã thì xong rồi. Thôi, phải bình tĩnh, cần nhất là bình tĩnh, yên lặng để ông cụ nghỉ, nhà toàn đàn bà cả, rối tinh - cô ấy chép miệng.
- Anh Tùng, phải rồi còn đàn ông - Chi kéo Hằng hỏi cô hỏi Hằng - Anh Tùng đã biết chuyện chưa Hằng lắc đầu, nước mắt vẫn giàn dụa:
- Từ năm giờ sáng đến giờ đều ở bệnh viện cả, có ai báo cho anh ấy đâu.
- Để mình đi tìm anh ấy. Chi ra khỏ phòng, lấy xe phóng ngay xuống trường tìm anh, nhân tiện mua mấy cái bánh cho mọi người ăn giữ sức, chuyện xẩy ra đột ngột quá.

Chi đạp xe hối hả trên phố, hình ảnh bố Hằng nằm trên giừơng bệnh vẫn không dứt khỏi đầu cô. Cô nhớ lại lúc ông mới hôm nào cô đến chơi, bố Hằng đang kéo vi ô lông, cả nhà ngồi nghe. Chi hỏi :

- Chú chơi mọi loại đàn, thế chú có sáng tác bài hát hay bản nhạc nào không ?
- Ngày xưa chú có viết dăm ba bài nhưng tặng mất rồi, không biết họ c̣n giữ không hay cả người cũng không còn nữa - ông để đàn xuống, nhìn ra xa ...
-Bài hát, bản nhạc mà cứ như là đã tặng xong là mình hết sạch, như tặng cái bánh vậy à bố -Hà hỏi .

Chỉ thấy đôi mắt ông buồn nhìn xa xa nói:

- Trời sắp mưa rồi!

Những giọt mưa bất chợt, Chi hối hả xuống xe, chạy vào hiên phố trú mưa. Cả thành phố trong mưa, nước xối, bong bóng nước cùng với lá, rác trôi, cuốn xoáy theo dòng. Có tiếng sấm nổ to rồi âm thanh chạy dồn. Gió bỗng cuốn tung tóe nước hắt vào đầu vai Chi. Chi đưa tay che, không biết nhích đi đâu .… Một lúc gió lặng dần, lác đác có người, xe chạy. Chi rũ người, ướt hết. Chếc áo trắng ướt dán vào vai lưng cô, hằn lên dây áo trong...

Buổi sáng chủ nhật, mọi người dậy muộn. Trong phòng Tùng vẫn còn ngổn ngang bàn ghế, cốc chén buổi sinh nhật tối qua. Hải, Tùng, Lịch, Hưng, Nghị và Quân đang ngồi chơi cờ vừa tranh luận về khoa học.

- Báo cáo về đề tài của ông Tùng chỉ là các vấn đề động học, thuần tuý lý thuyết. Quan trọng nhất vẫn là nó có ưu việt hơn, trong đó có cả về giá thành nữa thì chưa biết .
- Thì cũng phải làm đến cuối mới có thể có thử nghiệm và đánh giá.
- Và cuối cùng là học vị phó tiến sỹ, những báo cáo, những hội nghị khoa học và tất cả lại để xếp vào trong tủ, trong các thư viện. Lúc chết đi nhiều lắm để lại cái tên trên con rùa ở Văn miếu.
- Nhưng cũng cần có người làm việc nọ người việc kia chứ, ông Lịch cực đoan quá.
- Cái chính là người nọ nào, người kia nào. Những chất xám quý nhất, những đầu óc thông minh nhất, những người học giỏi nhất thì dồn hết vào làm những vấn đề của thế giới chưa làm. Bảo vệ luận án thì câu đầu tiên là vấn đề này cho đến nay là mới, chưa có ai làm mà không ai hỏi vì sao họ không làm chứ. Tôi có đọc qua tạp chí ASME của hội khoa học Mỹ tôi thấy người ta làm toàn những vấn đề mà cuộc sống và sản xuất yêu cầu, còn các ông thử lướt qua tạp chí MTT của Liên xô xem, toàn lý thuyết là lý thuyết.
- Lý thuyết cũng rất cần.
- Tất nhiên. Nhưng cái chính là ở mức độ nào chứ không thể như thế này được. Từ phổ thông những học sinh thông minh nhất đã được dồn hết vào các lớp chuyên chọn với toàn những bài toán khó, rặt lý thuyết với mục đích là được có tên trong các kỳ thi quốc tế, được giải. Mà tôi cũng chỉ biết là được giải thôi chứ không rõ cụ thể là bao nhiêu, các ông có nghĩ nếu giải thưởng mà là một triệu đô la hoặc kết quả thi được ứng dụng ra tiền thì mình sẽ không dễ dàng đoạt giải cao nhiều như bây giờ đâu, các nước khác họ sẽ xô vào. Họ quá thực dụng để lựa chọn sự đầu tư người.
- Ông Hưng nói có lý đấy, tôi vừa về quê ra, ông anh tôi có mấy đứa con rất thông minh cũng đang lo cho chúng vào các lớp chuyên chọn, cố điểm cao để vào bách khoa, tổng hợp, thế thì các ngành khác nông nghiệp, thuỷ lợi không cần người giỏi à, nhất là sư phạm nữa, các ông thử nghĩ xem, chỉ dành cho những người không thi được vào bách khoa à. Bố tôi cũng bảo tao chả biết các ông có tài nghiên cứu những cái gì, đâu đâu ấy, hạt điện tử, hạt cơ bản nọ hạt cơ bản kia, còn cái hạt cơ bản của người Việt nam là hạt gạo đấy các ông ạ. Đây, thứ hai họp bộ môn tôi đã làm đơn xin chuyển công tác về nhà máy cơ khí địa phương quê tôi, đến cái xẻng , cái cuốc bà con cũng thiếu nói chi đến cái xe đạp, cái máy , mà nếu có thì lại lọc xọc, không ra gì - Lịch lôi trong tờ báo cái cái đơn ra, mọi người lặng đi - Rồi tớ nếu về địa phương làm việc các cậu cũng phải hỗ trợ nhiều, sẽ có rất nhiều vấn đề cần nhờ đến khoa mình đấy.
- Ông Lịch bất ngờ quá. Nhưng đúng là đợt này ông Hải rồi ông Tùng đi được nghiên cứu sinh, bằng cấp là một chuyện, còn xem những cái gì hay, những công nghệ, cách làm nào cần thiết, có lợi ngay cho nước mình cố lấy được, học lỏm được mang về, cho bà con đỡ khổ. Dùng máy ảnh mà ghi lại. Xem bọn Nhật ấy, tuần trước mình dẫn chúng nó lên Thái nguyên thấy nó chụp lia lịa các máy cán, cả các xe của mình nữa. Còn chúng ta mở Album ra chỉ thấy toàn nụ cười xếp với lại chạm cốc. Pi-e đệ nhất đấy, cải trang sang Đức học mỏ, sang Hà lan học đóng tàu, xây cảng. Khoa học chúng ta cũng phải vì thực tế trước đã. Tuần trước tôi có đứa cháu đến chơi, nó khen các chú khoa học thật. Khoa học cái gì các ông biết không, cái hàng gạch để dắt xe đạp trong các cầu thang nhà tập thể ấy mà, đỡ công sức bao nhiêu.

Nghe Quân nói Nghị bỗng nhớ cảnh Chi dắt xe đạp theo hàng gạch lên cầu thang, lên đến tầng hai gặp Nghị đi xuống. Chi hỏi thăm, Nghị đỡ xe đứng coi cho Chi đi lên tầng trên khi cô đi khuất, anh để tay nắm xoa tay nắm ghi đông, mặt đần ra cứ tưởng đang nắm tay người yêu trong mộng.

- Khó nhất là phải thắng chính mình. Einstein đưa ra lý thuyết tương đối vĩ đại thế mà lúc chết còn thở dài cho rằng nó mang lại nhiều cái dở hơn là cái hay - Quân nói tiếp.
- Tại sao?
- Vì người ta sùng bái nó quá, nó hút vào đó quá nhiều người giỏi, quá nhiều tinh hoa của nhân loại, nếu không họ sẽ làm được nhiều hơn cho nhân loại.
- Thế mới là Einstein.

Có tiếng gõ cửa.

- Đa (Vào đi, tiếng Nga)
- Em hỏi thầy Tùng, ơ anh Tùng - Chi mở cửa chào hỏi mọi người rồi cùng Tùng đi xuống cầu thang.

Dưới sân thấy Tùng hối hả lai Chi, trên ban công Nghị vẫn im lặng nhìn theo, đờ đẫn. Lát sau anh đi vào phòng giúp Hải thu dọn cốc chén, lau bàn. Nghị dừng lại bên lọ hoa rồi tìm bông hoa nhỏ hôm qua nhấc lên ấp vào tay. Không hiểu sao trong đầu anh cứ hiện lên bàn tay của Chi lúc dọn bàn, cắm hoa hôm qua. Anh đã muốn ngắm Chi lắm nhưng không dám, chỉ dám nhìn trộm bàn tay cô. Bây giờ không có Chi anh thấy thoải mái hơn, thấy người mình yêu gần hơn. Chính điều tưởng như vô lý ấy làm khuôn mặt Nghị có vẻ tràn đầy hạnh phúc. Hình ảnh Chi lại hiện lên trong tiếng nhạc Nga với giai điệu day dứt.

" Nói đi em liễu ơi đừng ủ rũ
Tình yêu ta ở nơi nào ".

Trong phòng cấp cứu bệnh viện, trên giừơng, ông bố Hằng ú ớ, mở mắt ra, cái nhìn lờ đờ. Xung quanh là bác sỹ, những người thân. Một sự yên lặng bao trùm. Hằng đỡ mẹ đang nén cơn xúc động. Tùng bỗng nắm chặt lấy tay Chi đứng bên. Cả sau lúc ông chú đã được tiêm hồi sức, cơn nguy kịch đã qua, Chi vẫn để cho Tùng nắm chặt lấy tay, để ngón tay cái anh vuốt xoa, tìm dần từng ngón thon dài mềm mại của cô, để rồi cứ không buông vuốt mãi cái ngón tay trần gọi là ngón đeo nhẫn ấy. Chi cắn môi, nhắm mắt. Có phải khi đứng trước cái chết của người thân những cặp tình nhân tưởng như mình đang đứng trước bàn thờ Chúa vậy. Chi cắn môi, nhắm mắt tưởng thấy mình mặc bộ đồ cưới như trong phim nước ngoài, Tùng đeo nhẫn vào ngón tay Chi . Cô có biết đâu ở nơi khác Nghị tay đang dừng lại với bông hoa hồng nhỏ và quyển vở giấy trắng tinh. Anh chàng si tình ép đoá hoa vào quyển vở - thế giới của riêng anh trong tiếng nhạc Nga với giai điệu day dứt.

" Nói đi em liễu ơi đừng ủ rũ
Tình yêu ta ở nơi nào " …

Buổi sáng trong phòng khách nhà Chi. Mẹ chi giơ lên bàn tay đeo nhẫn khoe, rồi tháo ra nói với bà khách cùng ngồi ở divan:

- Đấy chị xem, cái nhẫn này ông ấy mua cho tôi ở Pa ri đấy, 300 đô la đấy. Vàng bên ấy nó xanh chứ không đỏ như vàng Nga đâu, quê lắm. Chỉ những người sống ở tư bản mới hiểu được giá trị thật của nó thôi.

Dương đang lúi húi mở đài ra chữa, ngoáy chỉnh, cắm mắt vào sơ đồ, ngước mắt lên. Chi xuất hiện:

- Con chào mẹ, cháu chào bác. Bác lại chơi ạ.
- Đây là bác Trâm, phu nhân đại sứ, con ngồi đây , bác muốn hỏi về vải may áo dài, con nhà bạn ở phố Phùng Khắc Khoan bán vải phải không?
- Dạ đấy là nhà bạn anh Dương. Bác với mẹ ngồi chơi, cháu xin phép phải đi học thêm buổi tối - Chi chạy đến ghé tai Dương thì thầm rồi bỏ chạy ra ngoài, dừng lại ở cửa - con đi ạ, cháu xin phép bác.

Mẹ và bà khách nhìn theo, Dương cầm tuốc nơ vít đang chọc vào cái đài điện bỗng dừng lại nghe, có tiếng mẹ Chi :

- Cháu nó học lớp ngoại ngữ buổi tối, học thêm một lúc hai ngoại ngữ , tiếng Nga với tiếng Anh, cả tiếng phe mình, cả tiếng tư bản.

Dương nhăn mặt kêu:

- Khiếp thật - anh lắc đầu rồi lại cúi xuống hí hoáy ngoáy cái đài ...

Buổi tối trong bệnh viện, Chi chạy vội lên cầu thang xuýt va phải Hà đỡ mẹ đi xuống. Hà đưa mẹ về nghỉ, có Tùng thức chăm, trực rồi. Bố Hằng đã nằm im trên giừơng bệnh. Tùng, Chi ngồi bên nhau cúi xuống. Bố Hằng ú ớ, Chi quay sang nhìn Tùng. Tùng nói:

- Không sao, chú nằm mơ đấy.
- Chú nói gì ấy, anh?
- Hình như chú mơ thấy - Tùng quay lại nhìn sau - may quá mợ về rồi. chú nhắc tên cô Thư, mối tình đầu của chú. Hai người yêu nhau lắm, từ hồi còn đi học cơ nhưng gia đình cô ấy cấm. Nghe đâu cô ấy đi tu.

Chi cắn môi sờ sững, để tay lên trái tim. Cô nhớ tới dì Thư ở chùa. Lần cuối Chi lên thăm dì, dì đang quét sân chùa. Những chiếc lá rơi khắp sân chùa Chi giơ tay đỡ lấy những chiếc lá quay tròn theo chiều gió....

Một lúc sau trong phòng tầng hai của bệnh viện bố Hằng đã ngủ say, Tùng đưa Chi xuống sân bệnh viện rồi ngồi chơi trên ghế đá. Tùng gỡ chiếc lá rơi trên tóc Chi và nói:

- Chi phải về đi, 9 giờ rồi, không bố mẹ mắng chết .
- Còn một tiếng nữa anh, em nói dối mẹ là đi học thêm buổi tối lớp tiếng Nga đấy.
- Không nên nói dối mẹ.
- Nhưng bố mẹ em không thích nhà Hằng, hình như có ngang trái gì trước đây giữa hai gia đình, từ hồi xưa ấy chứ không chỉ là vì nhà Hằng là dân thường còn . - Chi lúng túng rồi lái sang chuyện khác - Anh dạy em một chút tiếng Nga đi , thế thì anh sẽ không nghĩ là em nói dối mẹ nữa.
- Ngôi sao kia, Chi thấy không. Tiếng Nga ngôi sao là dờ ve dơ đa - Tùng chỉ lên bầu trời lấp lánh sao.
- Dơ ve dơ đa - tiếng Chi nhắc lại -hôm nay em sẽ học từ này, nhớ và sẽ không bao giờ quên dờ ve dơ đa của em. Mai a dờ ve dơ đa (tếng Nga - ngôi sao của tôi) - Khuôn mặt Chi mơ mộng.
- Kia là chòm sao Aphrodite Chi có thấy không, nó đang chăm chú nghe chòm sao Perseus kể chuyện gì đó.
- Sao anh biết được chúng, các vì sao đó?
- Anh đọc trong truyện “ Những vì sao “ của Alfonse Dode. Có người chăn cừu được số phận cho ngồi cạnh che chở một cô tiểu thư con ông chủ qua đêm trên núi cao, xung quanh chỉ có những vì sao. Người chăn cừu sống gần với bầu trời hơn những người đồng bằng nên quen hết với những vì sao trên trời. Người chăn cừu kể cho cô tiểu thư về cuộc sống của chúng, chúng cũng vui, buồn, ghen và cả yêu nhau nữa .
- Thế nào cơ, anh chăn cừu. Chúng cũng biết yêu vậy có lấy nhau không.
- Có chứ ạ, cô chủ tiểu thư. Có cả đám cưới, các ngôi sao cũng sẽ đẻ rất nhiều con.

Bầu trời đầy sao như quay tròn. Từ đâu trong không trung như vang giọng nói trầm ấm đọc nốt đoạn cuối của tác phẩm “ Những vì sao " của nhà văn lãng mạn người Pháp: “ Và trong khi anh chăn cừu cố giảng giải cho cô gái thế nào là đám cưới các vì sao thì có một cái gì mát rượi và mịn màng đã nhè nhẹ ngả xuống vai chàng.Quanh họ ngàn sao vẫn còn tiếp tục cuộc hành trình trầm lặng ngoan ngoãn như một đàn cừu lớn. Và đôi lúc tôi tưởng đâu một trong những ngôi sao kia, ngôi xao thanh tú nhất, ngời sáng nhất lạc mất đường đi đã đậu xuống vai tôi thiêm thíếp giấc nồng ...”

Trong sân chỉ còn hai người. Nhìn lên bầu trời sao quay tròn, chuyển xa ra chỉ còn Chi nhắm mắt, gục đầu lên vai Tùng trong vườn hoa của bệnh viện . Tùng mơ hay Chi mơ hay cả hai đang mơ về dải núi cao đầy sao, họ ngồi bên nhau đếm sao, đếm cừu ...

Cũng từ hôm đó có một người con gái hàng ngày bồn chồn mong buổi chiều đến để vào bệnh vịên thăm người ốm và gặp người yêu . Chi cũng không hoàn toàn nói dối mẹ, cô có đi học tiếng Nga thật lúc đến bệnh viện thăm người ốm và cả lúc trên đường được Tùng đưa về, lại học đâu nhớ đấy giống như cô tiểu thư nông dân trong truyện của Puskin. Trong thế giới của Chi bây giờ tràn ngập thơ và bài hát Nga trên những con đường đầy hàng cây của Hà nội xen lẫn những cảnh nước Nga qua Tùng kể, những cánh đồng, rừng bạch dương, những con đường mà cô chưa một lần đến.

4.

Một buổi sáng ở nhà Chi, ngôi nhà xây kiểu biệt thự Pháp xưa. Chi dắt xe khỏi nhà, ra đến cổng dừng lại mở thùng lấy thư, kêu với chú Mùi, thư ký riêng của bố:

- Chú Mùi ơi gọi anh Dương dậy, Anh Dương có thư nhé - Nói xong rồi thả lại vào hộp thư mở cổng đi.

Chú Mùi cầm thư đi vào. Quay lại đã thấy bố Dương :

- Thư của nó, anh đưa cho tôi.

Trong phòng ngủ Dương đang ườn mình trên giừơng. Bố Dương trong phòng riêng cẩn thận bóc thư ra. Có tấm hình cô gái Âu . Ông thản nhiên xé nhỏ cả thư và hình cho vào bồ công văn, sau nghĩ thế nào lại nhặt lên đốt đi. Còn phong bì ông cầm lên ngắm nghia rồi bóc tem ra cài vào quyển tem. Nhìn lại các con tem một cách thoả mãn rồi ông xách cặp ra xe. Ô tô chuyển bánh đưa ông và chú Mùi đi họp. Dương đang mơ màng bỗng tỉnh dậy, chạy ra cổng xem hộp thư rồi tần ngần đi vào. Chị phục vụ ăn mặc kiểu thanh niên xung phong đang tưới cây ngẩng lên nói:

- Thư đến từ sớm cơ, lúc tôi ra ngoài đi chợ. Hình như thư nước ngoài, phong bì tây.

Dương cắn môi, rồi lên phòng bố, cửa đóng không mở được. Anh ra ngoài nhìn quanh rồi trèo qua cửa sổ vào. Dương lục lọi sách vỏ, ngăn kéo, thùng rác. Anh mở quyển tem thấy những con tem Đức mới. Dương đấm bàn, mắt dại đi vì không nén được xúc động. Cuối cùng anh cắn môi mở các tủ lục tìm. Đến một ngăn tủ khoá không mở được, Dương ra cửa sổ bẻ đoạn dây thép, cho vào ổ ngoáy, lựa một lúc. Cánh cửa tủ bật ra, anh lục lọi rồi dừng lại ở một cái hộp gỗ, mở ra thấy những kỷ niệm linh tinh và một số tấm hình đen trắng cũ , có ảnh bố Chi, ông Tâm hồi còn thanh niên chụp chung với một người bạn, lật sau ảnh có dòng chữ " Minh - Tâm, Hà nội những ngày đầu thu 1956 ". Lại có tấm hình dì Thư lúc trẻ. Dương lật mặt sau đọc dòng chữ viết:” Minh ! 7 giừ chiều thứ năm vườn hoa Y ec xanh, đợi em. Em không thể thiếu anh, mối tình đầu và duy nhất của em. Anh Thư “. Dương sững sờ kêu trời, lặng đi . Một lúc anh như chợt không nén được cảm súc, nắm tay đập xuống đùi, khóc và kêu : ”Tại sao, tại sao ông lại ăn cắp như vậy “. Dương khóc đau đớn, mặt anh tái nhợt đi.

Mẹ Dương đang thử áo trước gương trong phòng khách thấy Dương vào kêu:

- Hôm nay rỗi sang nhà bác Khoa chơi , bác ấy cứ hỏi thăm con luôn đấy. Về Việt nam rồi phải biết quan hệ , đi lại những nơi đứng đắn, đừng như em con cứ suốt ngày dính với cái Hằng. Bố nó ốm thì bạn bè thăm hỏi, cần thì mua ít quà đến cho chứ đâu phải đến chăm sóc quá bố mình vậy.
- Mẹ biết bố Hằng à?
- Cái ông Minh đàn sáo ở đài phát thanh ấy á,thì xưa cùng học với bố và còn ở trọ nhờ nhà ông nội các con đấy. Nhà quê nghèo kiết xác, lên Hà nội may có ông nội thương hại gọi về cho ở, ngày đi học, tối phải đi bê vác rửa bát ở cửa hàng ngõ chợ. Cũng theo ông Tâm bố con đến nhà ông ngoại chơi, cũng đàn, hát, kèm dì Thư học rồi cũung tưởng bở, đũa mốc lại chòi mâm son . Chỉ có dì các con thì ...-Bà bỗng im bặt.
- Mẹ không phải kể nữa, ước gì con được đổi lấy người bố đó.
- Ơ cái thằng-Bà sững sờ, Dương đã bỏ đi ra ngoài…


Trong trường Đại Học Bách Khoa Chi đón Tùng ở dưới sân trường, sốt ruột cứ xem đồng hồ mãi, tay vẫn cầm quyển thơ. Tùng xuất hiện, nói:

- Lên xe đi em, khiếp mấy ông phát biểu dai quá. Đi lên ngay không cả nhà chờ. Chú được về điều trị tại nhà mừng quá. Không biết chú có kéo đàn lại được không.

Chi và Tùng sóng đôi xe đạp. Một chiếc lá rời cành bay theo chiều gió và rơi xuống vai người con trai đang đứng ngây ra sân trường bách khoa. Chi ngồi sau ngoái lại thấy Nghị gật đầu chào. Nghị vẫn im lặng đứng nhìn theo Chi và Tùng. Tình yêu một chiều thực lạ. Lại cái tiếng nhạc Nga với giai điệu day dứt

" Nói đi em liễu ơi đừng ủ rũ
Tình yêu ta ở noi nào "

Chi ngồi đằng sau Tùng nói:

- Em mong là được. Qua chợ mua mướp đắng, nghe nói ăn nó hạ huyết áp. Anh có ăn được không?
- Ở nhà quê anh cũng có một dàn, bao giờ về em sẽ xem canh mẹ nấu theo kiểu riêng
- Ôi, em rất thích, mà anh này, anh Dương hôm nay đi đâu về mặt tươi hớn hở là chắc lại nhận được thư từ nước ngoài gửi qua nhà bạn. Anh ấy cũng hay kể cho em về Monica. Chị ấy thấy anh mê bóng đá, mê đội Dinamo Dresden của thành phố anh ấy học, không thích bóng đá nhưng ngày nào cũng ngồi xem để viết thư tả lại cho anh. Tình yêu kỳ lạ thật, nó xui người ta làm bao điều không hiểu nổi. Anh à, lúc nãy em nhìn thấy cái thầy nói lắp đấy. Cái anh mà coi xe hộ hôm lần đầu em đến tìm anh. Nói lắp thế thì lên lớp thế nào.
- Lên lớp nó quen bài rồi nên không nói lắp đâu. Chỉ khi nào cậu ấy xúc động thì nói lắp đến khổ. Nhưng mà thầy Nghị hát quan họ hay lắm, chẳng có bị lắp gì cả. Nghe giọng hát khối cô chết nhưng gặp thì ...-Tùng lúng túng rồi im, nghĩ thầm : " Cũng thật khổ, không chỉ con giai mà con gái cũng chết về cái bề ngoài ".

Hai người đến nhà Hằng, Chi giúp mẹ Hằng làm mấy việc trong bếp còn Tùng kê lại bàn ghế và tủ cho gọn nhà đề Hà dìu bố tập đi. Lát sau Chi và Tùng đứng ở cửa sổ tay cầm sách nói chuyện:

- Tại sao động từ lại phải chia hở anh - Chi hỏi.
- Tất nhiên rồi, phải chia chứ. Em nh́n xem, chú đi có khác em Hà đi không, ai đi cũng khác nhau cả vì vậy phải chia động từ để chứng tỏ điều khác biệt ấy.
- Đấy là động từ chuyển động còn ...
- Động từ nào chả thế, ví dụ động từ liu bit (yêu-tiếng Nga), tôi yêu, nó yêu, sao lại yêu giống nhau được vậy tất nhiên phải chia để cho thấy rõ sự khác nhau chứ. I a thì liubơliu ( tôi yêu -tiếng Nga) còn Vư thì không thể yêu giống i a nghĩa là liu bi che (các anh yêu -tiếng Nga)
- Anh giải thích hay thế. Em yêu thì ..., chắc không thể giống mọi người yêu đâu. Vì đó là tình yêu của em.
- Chi ...

Thế rồi thời gian trôi qua như trong những bài ca - cái gì đến, sẽ đến. Bố Hằng về điều trị tại nhà, Chi đã hát cho ông nghe được những bài hát Nga có trong các đĩa hát của Tùng, đã nói chuyện với người yêu qua thứ tiếng âm dài, trầm bổng ấy.

                                    *
Thế là Chi và Tùng buổi tối thường xuyên đến nhà Hằng vừa để thăm ông chú ốm vừa để gặp nhau và học tiếng Nga. Chi đã đọc gần hết tập thơ Pu sơ kin.

- i a vac liu bil, liu bov e siô bưt môzet - Chi đọc.
- Chi dịch đi -Tùng nói.
- Tôi đã yêu em, tình yêu - có thể. Trong tâm hồn chưa tàn lụi hoàn toàn.
- Tuyệt vời.
- Chi giỏi thật đấy, cứ như cô tiểu thư nông dân trong truyện của Puskin ấy - Hằng đang là quần áo ngẩng lên xen vào.
- Hằng học cũng được thôi, cách học truyền khẩu này theo anh là cách nhanh nhất đấy
- Anh phát minh ra cách dạy học này – Hà nói - nhưng tên gọi thì phải đổi cho nó đúng Việt nam hơn , gọi là phương pháp học “ Mớm ” một thầy một trò , thày Tùng trò Chi.
- Cái con ranh này - Tùng mắng Hà, cả nhà cười.
- Thứ năm tuần này 20 tháng 11 có liên hoan văn nghệ ở hội trường C2 đấy. Hà có thích đi xem thì phải học bài đi và đừng xen vào chuyện người lớn nhé - Chi nói.

Ngày Nhà giáo Quốc tế 20 -11 Hà được Chi và Hằng cho đi dự liên hoan ở trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Hội trường chật ních sinh viên, lác đác các thầy giáo có tuổi. Hà thích quá. Khuôn mặt cô bé tràn trề sự thoả mãn. Trên sân khấu đang hát hát về trường Bách Khoa. Hải ngồi cạnh Hằng nói:

- Tôi đi nghiên cứu sinh Hằng viết thư cho tôi nhé .
- Để xem đã.
- Xem gì cơ ?
- Xem biểu diễn ạ, thầy có thích bài hát này không, của một thày tự sáng tác đấy.

Không khí liên hoan say sưa tràn ngập hội trường. Thầy Tuấn, chủ nhiệm khoa Chế Tạo Máy ngồi hàng ghế trên bỗng quay lại hỏi thầy giáo trẻ ngồi ở hàng dưới :

- Không có tiết mục dân ca nào cả à Quân?
- Dạ , năm kia có mấy sinh viên quê Bắc ninh có được tiết mục quan họ. Năm nay họ tốt nghiệp ra trường rồi. Có Nghị hát hay lắm nhưng phải có cô Mỵ Nương nào thì mới bắt cậu Trương Chi ta lên biểu diễn được. Mà không
thấy Nghị ngồi đâu cả nhỉ.
- Nghị về thăm mẹ bị ốm - Lịch ngồi bên nói.

Thời gian trôi nhanh một cách dễ nhất và kỳ lạ trong thơ, cái thế giới huyền ảo không câu nệ, đầy những buồn vui bất ngờ đến vô lý ấy. Tình yêu Tùng - Chi là tình yêu trong thơ. Mà thơ thì không phải là cuộc đời. Cuộc đời là vô thường, là tương đối, là chấp nhận. Tình yêu thì lại luôn hướng tới cái tuyệt đối. Cái xung đột đó nó có sẵn trong Tình Yêu. Tùng và Chi lúc hẹn hò cũng rất hay nói chuyện về Tình Yêu. Cả hai cũng đôi lúc cảm thấy sự mong manh. Tùng thấy nhiều hơn :

- Tượng thần Cupidon là đứa trẻ không mặc gì. Nó không có gì để giấu, trong trắng và vô tội. Nó không có mắt, nó mù quáng em ạ. Và nó đeo cung tên lại có đôi cánh chập chờn nữa. Cậu Minh xưa ra Hà Nội cũng yêu một cô Hầ Nội, nghe đâu cũng kiểu mối tình gia sư và tiểu thư như trong truyện Puskin. Chỉ kết không có hậu như trong truyện.

- Thế mẹ Hằng có biết không anh.

- Biết làm gì. Chuyện xưa mà. Mấy hôm nay cậu đỡ nhiều. Cậu chịu khó luyện tập phục hồi chức năng thật đấy. Đi lại sinh hoạt chắc không sao, chỉ tiếc tay bị co quắp, có duỗi được ra cậu cũng sẽ khó chơi đàn được như xưa. Những lúc buồn anh thấy cậu hay chơi một bản nhạc. Hình như đó là bản nhạc cậu viết riêng cho người tình xưa ấy. Không chơi được bản nhạc ấy nữa chắc cậu anh sẽ buồn.

- Cậu sẽ chơi trong lòng mà. - Chi buột miệng nói rồi mắt bỗng hoe đỏ.

Chi nhớ tới anh Dương tối qua khó ngủ, ra sân hút thuốc, nhớ người yêu bên Đức. Cô nhớ cả dì Thư, ni cô Thư ở chùa đang đọc kinh. Cô chỉ không nhớ Nghị, cái thầy giáo xấu trai nói lắp mà mỗi lần cô chạy lên tìm Tùng đều coi xe hộ để kín đáo vuốt xoa ghi đông như còn hơi tay người con gái.

Rồi ngày sinh nhật Hà, trong nhà Hằng, Chi hát bài Su li cô bằng tiếng Nga(***), mọi người ngồi quanh nghe. Bỗng dưng bố Hằng cất tiếng hát lời Việt nam. Tùng vẫn đệm đàn:

Anh đi tìm em khắp nơi ...
... Su li cô .

5.

Tết đến, mọi người đang tấp nập đón Tết. Hoa Mai hoa Đào đã thấy khắp trên phố xuân. Không khí Tết bao giờ cũng sôi động nhộn nhịp, khiến lòng người không khỏi xốn xang. Tết đến cũng là dịp để mọi người sắm sửa, mặc đồ mới thật đẹp, để đi thăm hỏi họ hàng, chúc tụng mọi người. Tết đến ngoài đường phố, trong mọi nhà. Khắp nơi nhộn nhịp. Nhà Hằng đông khách khứa đến thăm, toàn văn nghệ sỹ uỷ ban phát thanh và vô tuyến. Ông Minh đã hồi phục, tươi tắn trong bộ quần áo vest bắt tay chào hỏi khách. Hằng bước vào dắt theo một đứa bé gái xinh xắn con hàng xóm:

- Cháu chào các chú ạ, cháu chúc các chú mạnh khoẻ ạ.
- Chà cái Hằng năm nay lớn quá, sinh viên ĐHBK có khác. Bọn chú sẽ phải khoẻ, cả bố cháu cũng vậy, còn phải chờ ăn cỗ và uống rượu của cháu chứ.
- Chú cứ - Hằng cười rồi nói lảng, cầm lắc tay em bé - kìa Tún Tin, em vào mà chưa chào người lớn rồi.
- Cháu chào ông bà ạ.
- Phải nói là các ông chứ, có 5 ông cơ mà - một ông mặc com lê trêu.
- Cháu chào 5 ông, 1 bà ạ.

Tất cả cười rộ, rồi chuyển sang nói chuyện mùa màng quê quán .

- Bố cho con ngày kia về quê Nam định chơi đi, con đi với chị Chi. Năm ngoái chị Hằng được về rồi, năm nay đến lượt con thăm bác đi. - Hà kéo tay bố.
- Sao - mẹ Hằng ngạc nhiên hỏi cô con gái út.
- Con nghe thấy chị Chi hẹn anh Tùng mồng 4 đón ở bến ô tô Nam định, chị ấy bảo chị Hằng là sẽ nói dối bố mẹ đi lên Bắc ninh thăm chùa, ở lại nhà bạn dự hội làng, xem thi đua thuyền. Về Nam định có đua thuyền không hở bố.
- Trẻ con, ra tết thanh minh bố khoẻ cả nhà mình về không thích hơn sao, mấy ngày tết ở nhà mình Hà nội có hơn không, tối nay vô tuyến có phim họat hình Liên xô đấy . Nhà quê làm gì có vô tuyến - Hằng dỗ em.

Ngoài sân có tiếng pháo nổ giòn, tiếng trẻ con gọi :”Hà ơi” . Hà chạy vụt ra xem. Mẹ Hà nhìn theo cười, lắc đầu rồi quay sang tiếp khách .
                                 *

Hà Nội trong mấy ngày tết quang hẳn. Tết như trả đường phố, vỉa hè cho những người dân Hà Nội. Ngày tết, nhưng cuộc sống lại có một cái gì bình thản, êm dịu hơn, không hối hả ồn ào như trong năm. Những hàng cây trên đường cũng vậy, như được nghỉ ngơi lại sau một năm. Dân tỉnh lẻ đến mưu sinh, các sinh viên về quê ăn tết .

Mồng bốn Tết, Chi nói dối mẹ về Bắc Ninh thăm bạn rồi đi nhờ xe về Nam Định. Tùng đón cô ở bến ô tô thành phố. Chi mang nhiều quà quá thành ra phải để túi buộc đằng sau, ngồi lên dóng xe cuốc để Tùng lai về làng. Nhà Tùng ở hướng đi Thái Bình, gần bến phà Tân Đệ. Dù sao Chi cũng được thấm thía cái cảm giác ê mỏi ngồi trên dóng xe trong vòng tay người yêu. Lúc đầu thấy mỏi nhưng cứ ngồi mãi cái mỏi lại thành quen thuộc, chịu được, cô lại thầm mơ giá cứ thế, đi mãi trên con đê này, hai người. Nhưng qua cái trạm canh đê là dốc lối rẽ xuống làng. Tùng dừng xe, đỡ Chi. Mấy đứa trẻ làng từ đâu đã xúm lại mừng rỡ rồi đỡ xe  cùng Tùng xuống dốc đê. Chi mỏi dừ người đi sau. Tất cả kéo nhau dắt xe vào làng. Chi đi sau thấy có cô gái ở đầu làng đứng tựa vào gốc cây nhìn theo, đôi mắt lá dăm buồn, vô hồn. Chi bỗng bị hẫng trẹo guốc. Xúyt xoa xong ngẩng lên, cô gái đã biến mất.
                                     *
Nhà Tùng lợp lá, sân nền đất vẫn còn vết chổi vừa quét xong. Năm xưa bố Tùng bị tai nạn gãy chân, về mất sức, chăm vườn, lợn gà và nhận lạc bóc thêm, mẹ bán hàng vải gánh. Dăm ba ông khách đến chơi ngồi nói chuyện, đám trẻ con bế em thập thò ngó nhìn cô gái Hà Nội về cùng Tùng. Chi đẹp quá trong cái áo len đen ấy, tôn nét cái làn da trắng mịn, đôi mắt đen huyền và mái tóc xoã cũng đen. Mấy đứa thì thầm về người yêu anh Tùng đẹp quá. Tùng lấy kẹo chia cho chúng rồi bảo lũ trẻ giải tán đi chơi.

Khác hẳn ở thành phố, ngày tết ở vùng quê ven sông thật êm ả, không ồn ào. Lác đác có người đi qua gặp nhau chào hỏi mời mọc. Lũ trẻ con vẫn chơi các trò chơi xưa, chơi chuyền, nhảy dây lò cò...Chi cởi áo ngoài rồi chạy xuống bếp giúp mẹ Tùng nấu cơm. Cô lúng túng với bếp đun rạ . Mẹ Tùng dạy cô cách cời bếp. Cô tìm thấy sự ân cần và vun đắp hy vọng rất nhanh ở người mẹ đó. Cô chăm chú thổi lửa, mặt đỏ phừng phừng, mồ hôi lấm tấm còn bà mải mê ngắm cô như nhớ đến cảnh mình hồi xưa trẻ tuổi. Hồi đó bà là một cô bán vải có nhan sắc ở chợ quê. Bà còn nhớ mãi cái lần ấy. Cô hàng vải đặt gánh xuống dưới gốc cây đa làng, lấy khăn lau mồ hôi. Có tiếng gọi từ sau cây:

- Xoan ơi, về sớm nhé, tối nay bên làng Đặng có hội chèo đấy. Tôi lại chờ Xoan ở bờ đê như lần trước nhé . Về sớm đi , coi như hôm nay bán được thêm hai sấp vải rồi, tôi mua. Xoan chọn vải hộ tôi nhé, nhớ đủ một cái chăn đôi.

Bà bỗng thần người ra. Cảnh làng quê một thời, những kỷ niệm con gái lại hiện lên trong tâm trí bà. 

- Ngày mai cháu phải về rồi. Lần sau cháu đúng phiên chợ về, bác cho cháu ra bán vải với nhé . - Chi quay lại nhìn mẹ Tùng.
- Con gái Hà nội lại muốn thử làm cô hàng vải chợ quê sao. Thế cháu biết gì về cô hàng vải rồi.
- Cháu chỉ đọc truyện thôi, nhưng trong truyện người ta viết cô hàng vải lấy chồng thầy giáo rồi ai cũng đông con. 
- Tôi chỉ có mỗi một thằng Tùng. Thế cũng là may, không phải ai trời cũng cho đẻ nhiều. Nhưng thày bói nói bù lại trời sẽ cho tôi bốn đứa cháu, hai trai hai gái đấy . - Đôi mắt bà nhìn khắp người Chi rồi ngừng ở bộ ngực đầy đặn của cô - Thằng Tùng là cũng tinh mắt lắm đấy.

Cơm chiều xong, Chi bê rổ bát đi rửa. Tùng ra sửa lại cái vườn. Chi đang sát xà phòng vào tay thì xuất hiện Tùng đến, chìa hai bàn tay lấm. Chi né ra cho anh rửa tay rồi đưa xà phòng cho anh. Tùng lắc đầu thèm thuồng nhìn đôi bàn tay Chi đầy bọt xà phòng. Bánh xà phòng rơi xuống đất trôi đi đến bên con cóc. Nó mở to đôi mắt nhìn, hai đôi bàn tay đầy bọt xà phòng vẫn đang quấn quýt xoa cho nhau. Gió thổi bay mấy cái bong bóng xà phòng, lấp lánh muôn màu trước khi bị vỡ tung ra.

Buổi tối trên cái chõng tre lạ khó ngủ Chi bỗng ứa nước mắt ra, trong lòng cô trào lên một niềm yêu thương vô hạn dành cho Tùng và bố mẹ anh. Ngày mai phải về Hà Nội rồi chứ không Chi sẽ bảo cho cô sang ngủ với mẹ. Có lẽ phải ở đây, trong mái nhà gianh vách đất vùng quê Vụ Bản này, nghe tiếng côn trùng kêu, tiếng gió lùa đuổi nhau bên ngoài Chi mới thấy thấm thía các chữ gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng và hai chữ chân quê.

Cô thiếp đi trong giấc mơ thấy mình đi dạo cùng Tùng trên con đê, bắt đền anh để cỏ may găm đầy áo. Họ qua ruộng lúa rồi đến vườn chanh, Tùng chạy lại hái một quả chanh to cười tung cho cô. Chi giơ tay bắt, bỗng dưng quả chanh tuột khỏi tay cô, bay bổng lên qua đầu. Đằng sau lưng Chi, quả chanh đã nằm trong tay một người con gái mặc áo len hồng có đôi mắt lá dăm. Quay lại, không thấy Tùng đâu, quay đi, người con gái cũng bíến mất. Chi khóc, lạc mãi trong vườn chanh đòi quả chanh, đòi người yêu. Sáng hôm sau Chi định hỏi Tùng về người con gái mắt lá dăm nhưng lại thôi, cái người con gái họ gặp lúc về đến đầu làng đó.
                                      *
Trong phòng Tùng, một buổi sáng. Tùng ăn mặc chỉnh tề, đến xé tờ lịch đỏ chủ nhật, viết mấy chữ rồi gấp cất đi, dắt xe ra. Quân đang rán bánh trên bếp dầu nói:

- Không chờ ăn miếng bánh chưng cho chắc bụng đã Tùng, bánh mẹ mình gói riêng đấy.
- Thế thì phải để phần cho mình, về mình ăn. Chào.
- Chúc may mắn - Quân nói với theo rồi lắc đầu, quay lại nói với bạn đang ngồi đọc báo tết trên giường -Người ta có thể giấu mọi thứ trừ hai điều: say rượu và yêu.

Anh bạn cười gấp báo đứng dậy nói :

- Đố ai định nghĩa được tình yêu. Có khó gì đâu một phút liều. Sao, ăn được rồi chứ. Ăn xong sang bên kinh tế kế hoạch thăm bọn cái Dung đi.

                                     *
Tùng đến nhà Chi. Lần đầu tiên. Xưa anh cũng chỉ tiễn Chi đến bên ngoài. Biệt thự kín cổng cao tường lại có chó to. Nhà đang đông khách, người ra, người vào. Bố mẹ Tùng vừa tiễn khách sang ra ngoài thì Chi đưa Tùng vào.

- Cháu chào bác ạ, chào các bác ạ.
- Anh Tùng bạn cháu - Chi giới thiệu rồi kéo tay Tùng - Vào nhà đi anh, không phải cởi giày đâu, có dì Thư em đang ngồi trong đó đấy.
- Cháu xin phép - Tùng theo Chi, ngoài cửa ông bà đại sứ và cậu con trai nhìn theo đôi trai gái. Bố mẹ Chi lúng túng.

Khi bố Chi xuất hiện ở cửa, Tùng đang ngồi nói chuyện với dì Thư. Dì trong bộ áo nhà chùa. Chi nhanh nhẩu giới thiệu với bố:

- Anh Tùng dạy ở khoa chế tạo máy trường Bách khoa, trước học ở Liên xô, anh ấy cũng biết chú Ân ở phòng kế hoạch của bộ đấy.
- Thế à - Bố Chi ngồi xuống châm thuốc hút.

Chú thư ký ngồi chơi đang dở xem các tờ báo tết cũng dừng tay lại, ngẩng lên chờ đợi. Tùng bất ngờ nghe câu đầu tiên bố Chi nói với anh:

- Bố mẹ anh làm gì?
- Bố mẹ cháu ... ờ ! -Tùng lúng túng rồi cắn môi thản nhiên mỉm cười - thưa bác bố mẹ cháu ở quê, làm ruộng ạ.

Câu chuyện diễn ra với khách không được dễ chịu lắm. Bố Chi cũng quen biết nhiều vùng quê Tùng và những người lãnh đạo tỉnh Nam Định cũng như trường Bách Khoa. Ông cũng chẳng cần tế nhị bộc lộ cho Tùng thấy anh và Chi là hai người ở hai tầng lớp xã hội khác nhau. Tùng kiên nhẫn ngồi nghe. Một người nữa cũng kiên nhẫn nghe ông nói, đó là dì Thư. Chỉ có Chi là không giấu được cảm xúc, bồn chồn.

R ồi câu chuyện cũng kết thúc. Cậu lái xe đến đón bố Chi đi có việc. Tùng cũng chào ra về. Chi đưa Tùng ra đến cổng, đôi mắt mở to , bồn chồn. Tùng cầm tay cô nói khẽ:

- Em vào đi, nhà còn nhiều khách, anh yêu em nhiều hơn bao giờ hết.

6.

Sau lần theo Tùng về thăm gia đình anh ở Nam Định hồi tết, Chi bị ốm phải nghỉ học. Hằng và các thầy Hưng, Quân đến thăm. Chi đang nằm mơ màng trên giường tại phòng riêng thì nghe tiếng mẹ gọi từ ngoài vọng vào:

- Chi ơi con có bạn đến thăm đây này. Mời các cháu vào phòng trong, từ sáng đến giờ em nó chả chịu ăn tí gì vào bụng, mai lấy sức đâu mà đi học cơ chứ.

Ba người bạn bước vào phòng. Chi nhổm dậy, Hằng chạy tới ôm chầm lấy bạn ấn Chi nằm xuống giường. Hằng ghé tai Chi thầm thì:

- Thế nào, tưong tư phải không?

Chi im lặng chỉ ôm ghì bạn vào lòng rồi cũng tự gỡ ra để chào hai thầy:

- Em chào các anh, em làm phiền các anh quá.

Cô đảo mắt nhìn quanh, Quân hiểu ý:

- Tùng phải họp với ban chủ nhiệm khoa, nghe nói có việc gì đó quan trọng lắm, họp xong cậu ấy sẽ đến đây.

Chi quay sang Hằng:

- Thế nào ở lớp có gì mới không?

Cãc bạn người đứng người ngồi quanh giường Chi. Quân đứng tần ngần một lúc không có chỗ ngồi bèn đi ra phòng ngoài. Anh muốn hút thuốc, loanh quanh tìm bao diêm để châm điếu thuốc trên tay thì chợt nhìn thấy một tập thơ trên bàn. Trong phòng đang vang lên nhè nhẹ tiếng nhạc bài hát Đôi Bờ. Quân cầm tập thơ lật được mấy trang thì có tiếng bước chân người từ trên gác đi xuống. Quân ngửng đầu lên:

- Cháu chào bác ạ !

Ông Tâm nhìn Quân như dò xét , lại nhìn thấy chiếc túi lưới Liên Xô đựng cam để trên bàn. Ông Tâm hỏi:

- Anh là?
- Thưa bác cháu dạy ở trường Bách Khoa ạ!
- À , tôi dã nói với con Chi là không được chơi bời quan hệ gì trong những năm còn đi học, mà anh cũng đừng rủ rê nó nhiều quá. Tuổi trẻ các anh cần tập trung phấn đấu dạy tốt, học tốt.
- Dạ thưa bác cháu không phải là ...

Ông Tâm quyết đoán cắt ngang lời Quân:

- Tôi biết các anh ảnh hưởng nhiều lối sống bên Tây, anh hãy khuyên con Chi tập trung tư tưởng học, đọc nhiều tiểu thuyết Nga quá, lãng mạn sách vở không phải lối.

Chưa nói dứt câu cuối cùng ông đã tiến tới tẵt luôn chiếc đài quay đĩa đang dở bài hát Nga. Quân lại cố thanh minh:

- Dạ thưa bác, cháu không phải .

Ông Tâm cương quyết:

- Thôi anh về đi, con Chi nó phải nghỉ ngơi, bình phục để còn đi học.

Tiện tay ông xách luôn túi cam đưa cho Quân và đẩy nhẹ anh ra phía cửa. Quân lắp bắp định thanh minh mình không phải là Tùng nhưng ông Tâm xua xua tay như không muốn nghe, hai người dùng dằng túi cam rơi xuống đất, những quả cam rơi ra tung toé. Vừa lúc đó vang lên tiêng chuông điện thọai réo từ phòng tầng trên. Ông thứ trưởng ném vào quân một cái nhìn khó hiểu rồi bỏ đi.

Phòng trong Hằng đang dỗ dành Chi:

- Nghe mẹ nói không chịu ăn phài không? Ăn cam nhé! Hằng bóc cho, các thầy mua nhiều lắm. - nói rồi cô chạy ra phòng ngoài lấy cam, nhìn thấy Quân đang lúi húi ngoài sân nhặt từng quả cam cho vào túi. Hằng sửng sốt:

- Sao vậy?

Quân không trả lời đưa mắt ra hiệu về phía tầng trên. Hằng hình như hiểu ý, cô gật đầu.

Mấy người lủi thủi ra về với túi cam trên tay Quân, ra đến cổng thì gặp Tùng đến. Tùng nhìn thấy ba người với túi cam quay ra ngạc nhiên:

- Sao vậy, Chi đi vắng à?

Chẳng ai trả, buồn thiu, Quân tần ngần xách túi cam định nói với Tùng điều gì, bỗng Hằng nghĩ ra một mẹo:

- Thôi được, các anh đứng đây chờ em nhé!

Cô giành lấy túi cam từ tay Quân quay vào nhà.
                                     
Trong phòng Chi vẫn còn mệt nhưng nằm ngồi không yên trên giường. Dương vào ghé tai Chi nói nhỏ điều gì đó. Chi sững sờ:

- Tại sao bố lại làm thế.

Cô vùng vằng đứng dậy với vội chiếc áo treo trên mắc khoác lên người. Dương nói:

- Cô định đi đâu thế ? Tình hình này Tùng cũng chẳng dám đến nữa đâu.
- Em sẽ đi gặp để nói các anh ấy thông cảm.
- Ngay bây giờ ư? Vào lúc gần 10 giờ đêm này à?
- Cô không thể chờ được đến mai.
- Em đang ốm kia mà, thôi được để anh đưa em đi.

Dương mở cửa phòng bước ra nhà ngoài lấy chiếc áo khoác, mẹ nhìn thấy ngạc nhiên:

- Con định đi đâu vào giờ này thế?
- Dạ, con sang nhà anh bạn mượn quyển sách thiết kế.
- Khuya rồi sáng mai đi không được à?
- Con đang cần cho đồ án ngay đêm nay.
- Con Chi đâu rồi?
- Dạ, em con đang ngủ ạ.

Từ phòng trong Chi nghe tiếng mẹ bèn nhảy vội lên giường bỏ màn, đắp chăn. mẹ Chi mở cửa nhìn vào thấy Chi đã ngủ yên, bà tắt đèn phòng con gái rồi nhẹ nhàng khép cửa, nhìn thấy Dương dắt xe đạp ra sân rồi đi lên gác.

Dương vào nhà nhìn theo bóng mẹ đã đi khuất, mở cánh cửa buồng em gái gọi khẽ:

- Chi, Chi khẩn trương.

Chi nhẹ nhàng chui ra khỏi chăn xềp lại cái chăn theo hình người nằm rồi cứ để màn buông như vậy theo Dương nhẹ nhàng ra khỏi nhà. Hai anh em đèo nhau đi trên đường phố Hà nội về đêm đã thưa thớt bóng người, thỉnh thoảng có bóng dáng một vài chị lao công cần mẫn làm việc trên đường. Có tiếng rao quà đêm, xôi, bánh khúc. Tiếng rao ngân rồi tắt, tan ngấm vào không trung. Mọi thứ như đã đi tìm giấc ngủ xong, chỉ hàng cây to trên phố vẫn như thức, nhìn dõi hai anh em đó.

Dưới ký túc xá cán bộ của trường ĐHBK không có ai ngoài Chi đứng bồn chồn chờ đợi bên chiếc xe đạp nhìn lên, phòng tầng ba đèn vẫn tối. Một lát sau, Dương từ cầu thang đi xuống:

- Đèn tắt, cửa khoá, chứng tỏ các anh ấy chưa về .
- Lạ nhỉ, vậy thì các anh ấy đi đâu?
- Hay là anh em mình cứ chờ thêm lúc nữa vậy, cô có lạnh không?

Dương cởi chiếc áo ngoài khoác lên người em gái. Cả hai cùng ngồi xuống chiếc ghế dài cạnh sân bóng chuyền. Một lát sau Tùng, Hưng, Quân về, cả 3 cùng ngạc nhiên thấy Dương, Chi đang đợi. Quân sửng sốt:

- Tại sao hai anh em đến đây vào giờ này thế? Chi vẫn còn mệt cơ mà?

Chi nói:

- Em định đến nói để các anh thông cảm, tính bố em là như thế đó, ngay cả chuyện riêng của anh Dương bố cũng không dung hoà. Dương chen lời:

- Ông ấy vẫn cực đoan như vậy đấy, mình định khuyên Chi mai khoẻ hãy đến đây nhưng nó không chịu, chuyện xảy ra tối nay mình đã chứng kiến hết nhưng không dám can thiệp câu nào, sợ bố mình làm to chuyện lên.

Tùng, Chi đã tiến đến sát bên nhau tự bao giờ , Chi nép sát vào người anh. Tùng:

- Thôi hai anh em đừng băn khoăn nữa chúng mình đã hiểu cả rồi, chỉ thương Quân hôm nay bị trận mắng oan.

Tất cả cùng cười chua chát.

Hưng khuyên:

- Thôi hai bạn hãy về đi, khuya rồi, Chi cứ nghỉ đi cho khoẻ, chuyện này rắc rối đấy. Chúng mình vừa qua thầy Tiến, mỗi khi có gì trục trặc chúng mình thường đến nhờ sự cố vấn của thầy. Riêng chuyện này của Tùng và Chi thầy cũng thấy cần bình tĩnh, nó còn liên quan đến chuyện nghiên cứu sinh của Tùng nữa chứ. Rồi chúng ta sẽ nghĩ ra đối sách. Thôi về đi.

Cả bọn chia tay nhau, riêng Tùng và Chi vẫn tần ngần chưa muốn rời xa. Chi nói:

- Em buồn lắm, nhất định em không chịu đâu .
- Thôi em hãy về đi nghỉ cho khoẻ đã rồi tính sau, em.

Hai người chia tay nhau. Chi chạy vội ra chỗ Dương đang dắt xe chờ.
               

Một buổi chiều yên tĩnh trong vườn Bách Thảo . Có những đôi trai gái đi dạo. Có đôi ngồi ôm nhau. Cô gái đứng chờ ven hồ với chiếc xe đạp. Có tiếng gọi :

- Chi ơi .
- Anh Tùng .- cô gái quay lại mừng rỡ, hoá ra lại là Hằng, cô cũng ngạc nhiên khi nhận ra Hải. Hải thở, hỏi:

- Chi đâu?
- Anh Tùng đâu anh?
- Tùng tối nay phải làm việc với thầy Tuấn gấp để hoàn thành đề cương nghiên cứu, mai phải thông qua hội đồng rồi. Nhờ mình đến tìm Chi xin lỗi lỡ hẹn vậy.
- Chi bị gia đình cấm không cho gặp anh Tùng rồi, cấm cả đến nhà em nữa. Em cũng không đến thăm, gặp Chi được nữa. Đây là thư nó gửi anh Tùng, anh Dương nó mang đến lúc chiều đấy. - Hằng đưa cho Hải .
- Cám ơn Hằng nhiều .- Hải cầm lấy thư rồi đứng ngẩn ra.
- Em có làm gì cho anh đâu mà cám ơn với xin lỗi , lại còn nhiều với ít. -Hằng giận . - thôi chào anh , chúc anh lên đường may mắn với những lời chúc tốt đẹp nhất. Việt Nam mà nói cứ như Tây nói vậy. - Hằng dỗi dắt xe đạp đi. -Thôi em về, cho em gửi lời chào lớn đến anh Tùng và các anh ở trường.
- Hằng chờ đã, tôi về cùng Hằng. Tùng còn gửi đề thi toán cho em Hà với nhờ tôi đến phụ đạo họ cho Hà môn lý. - Ơ , Hằng đi đâu, cổng ra lối này cơ mà

Hải dắt xe chạy theo Hằng. Hai người đi xa dần vào phía sâu vườn. Một lúc sau thấy chiếc xe cuốc ôm lấy chiếc xe mi pha, cạnh đó Hằng đang ngả vào vai Hải.

Trong công viên vắng lặng, chỉ có cây và tiếng chim hót thánh thót. Bỗng Hằng vùng ra sửa tóc rồi ôm mặt:

- Thôi em sợ lắm . Em sợ như cái Chi rồi khổ. Người ta bảo mối tình đầu nào cũng tan vỡ.
- Sao Hằng nói thế, do mình chứ, Thầy Tuấn chủ nhiệm khoa anh yêu cô Hương là sinh viên của thầy và bây giờ hai con rồi, họ sống rất hạnh phúc.
- Em không biết, nói Yêu lại là một chuyện, làm được cho Tình yêu lại là chuyện khác. Em cứ nghĩ đến cái Chi mà chỉ muốn khóc. Mối tình đầu, không chút kinh nghiệm, càng đẹp lại càng mỏng manh dễ vỡ, lấy cái gì để che chở cho nó ? Các nhà văn, nhà thơ cứ nói, họ mất gì đâu: "Tình yêu là sức mạnh ,tình yêu luôn chiến thắng , cùng lắm thì như chàng Rô-mê-ô và nàng Ju-li-et chết đi để lại niềm cảm hứng cho muôn đời sau “. Bọn con gái em không điên đến như vậy. Cái Chi cần có anh Tùng trong kiếp này, cái muôn đời sau ai muốn xin nhường, nó cũng không muốn bó tay chịu thua như anh Dương nó. Mọi cái bây giờ tuỳ thuộc anh Tùng . Mà anh Tùng thì ...
- Tùng cũng có cái khó riêng Hằng ạ. Tuần qua một cú điện thoại trên bộ gọi xuống trường và tiếp đó cũng qua điện thọai, khoa nhận được một lời khuyên ngắn gọn của của lãnh đạo trường là phải làm gì chứ, sao để tình trạng thầy giáo trẻ trong khoa quyến rũ sinh viên thế này.                  

Trong văn phòng khoa Chế Tạo Máy ĐHBK Hà Nội, thày Tuấn chủ nhiệm khoa tay cầm điện thoại, tay đấm xuống bàn, cắn môi đến chảy máu. Một lúc thầy bước vào phòng bên dự cuộc họp khoa. Cuộc họp bắt đầu. Thày phó chủ nhiệm khoa kiêm bí thư Đảng phụ trách tổ chức cán bộ đứng lên phổ biến:

- Các đồng chí, hôm nay cuộc họp lãnh đạo khoa mở rộng có mời đại diện đoàn thanh niên là đồng chí Tùng bí thư liên chi với nội dung chính là là vấn đề thông qua danh sách các bộ trẻ đi nghiên cứu sinh sắp tới. Thưa các đồng chí, ban giám hiệu cũng đã nhắc nhở, và chúng ta cũng tự biết cần chọn những người có đức, có tài. Cái gọi là tài thì dễ, nhưng cái đức mà chúng ta đặt lên trên thì chúng ra phải xem xét lại rất kỹ, nhất là chúng ta không chỉ là những nhà khoa học, chúng ta là những người thầy. Tôi nhắc lại, những người thầy khoa ta, không phải tất cả cán bộ giảng dạy nào cũng nhớ được chữ Thầy cao quý đó đâu. Chúng ta phải để cho sinh viên nhìn lên, bên ngoài xã hội nhìn vào. Ở đây tôi muốn nói về đạo đức tác phong sinh hoạt và quan hệ với các nữ sinh viên của một số cán bộ trẻ...

Mọi người nhìn trộm sang Tùng. Tùng cúi đầu.

Sau khi cuộc họp khoa buổi tối Tùng gần như suy sụp. Anh ôm đầu ngồi trong phòng. Hưng bước vào nói:

- Đừng làm rối tinh lên, Tùng. Cậu phải đi thi và thi đỗ, đừng phụ lòng tin mọi người . Và từ nay đến lúc thi gác mọi chuyện sang bên. Cậu được vào danh sách đi thi là là nhờ uy tín riêng của thầy Tuấn và anh em trẻ ủng hộ, không phải ai cũng thông cảm cho cậu cả đâu, mọi thứ phải rất cẩn thận, cậu quá hiểu rồi đó. Mà đi thi để trượt thi không xong đâu nhé. Cũng gác thơ với thẩn lại nhé. Mình nói vì biết cậu không giận.

Trong phòng ở của cán bộ giảng dậy chỉ có Quân và Hưng đang chơi cờ vua và trò chuyện về cuộc đời:

- Chiều nay thấy cậu Tùng sau cuộc họp khoa đi vào nhà ăn ăn cơm trông suy sụp, tội nghiệp quá. Mình chẳng dám hỏi gì.
- Tình yêu như hạt sương, đằng xa tưởng là viên kim cương, lại gần thấy là một giọt lệ. Nhưng mấy ai thoát được chữ tình.
- Hồi hè năm thứ ba bọn mình có đi thăm Leningrad và đến viện bảo tàng Ermintage. Ở đó ở có tượng tình yêu đấy.
- Cậu bé mù cởi truồng có cánh chứ gì, thần Cupidon trong chuyện cổ Hy lạp.
- Và lưng đeo cung tên nữa chứ. Cô Irina giải thích lúc ấy ông có đứng nghe không nhỉ, chắc là lại chạy xem các ảnh con gái khoả thân rồi.
- Cô ấy nói thế nào?
- Có bốn ý mà. Nhà thơ Sỹ Kháng của chúng ta tối về khách sạn có phổ nhạc cho các ý đó đấy

" Không có mắt - tình yêu là mù quáng .
Đôi cánh mang nó chạy trốn có trời tìm .
Đứa trẻ không áo quần - sự trắng trong vô tội.
Và cung tên xuyên đau những trái tim " .

- Hay đấy. Vậy đôi cánh tình yêu sẽ mang cậu Tùng và cô bạn đi trốn. Tại sao không nhỉ. Có gì mà phải đắn đo . Nghe cái Hằng nó nói cô con bộ trưởng định nổi loạn rồi, định xin về xí nghiệp điện địa phương ở Nam định gần quê cậu Tùng . Lá ngọc cành vàng chán rồi, muốn làm bông hoa chanh nở gữa vườn chanh.
- Xin được không ?
- Lúc đầu người ta nhận, kỹ sư bách khoa, trẻ đẹp, tốt nghiệp loại giỏi . Ông Kha tốt nghiệp khoá 6, giờ là giám đốc cũng chưa vợ, đang hy vọng thì bị một phen hú vía, có điện thoại từ Hà nội xuống đe.
- Ông Kha ấy thì cầu toàn số một. Chắc vì thế mà đến nay vẫn phòng không, ở tỉnh lẻ thì càng phải nhìn trước nhìn sau, đánh vỡ một cái bát là cả phố biết, càng phải rón rén. Thôi thông cảm. Thế theo ý ông phải đi nước cờ nào tiếp nữa .
- Đi xa hẳn đi , bỏ đi Sài gòn, cùng nữa thì lên vùng kinh tế mới Tây nguyên, một mái nhà tranh hai trái tim vàng trong tay mình , hạnh phúc do mình. Đừng có tự xây nhà tù bằng những quan niệm để nhốt mình trong đó. Hai người còn trẻ khỏe lại có học, cái chính là cậu Tùng đắn đo quá, chẳng lẽ cái củ cà rốt nghiên cứu sinh nó biến một người như cậu ta thành con thỏ dễ thế . Mình cứ thấy tội cho cô bạn câu ấy. Còn nhớ ngày xưa cậu ấy từng đọc cho chúng ta những câu thơ của Puskin viết cho “Những Người Tháng Chạp”, thơ Lermontov và cả Heine nữa:

" Con thường ngẩng cao đầu mẹ ạ.
Tính tình con ngang bướng kiêu kỳ.
Mọi khó khăn con sẵn sàng đối mặt
và chẳng bao giờ cúi trước uy nghi. "

- Tùng còn bố mẹ, bỏ đi tính sao.
- Có phải đi di tản đâu , vẫn trong nước Việt Nam mình cơ mà, rồi vợ chồng lập nghiệp xong đón ông bà vào chăm sóc, bế cháu. Bây giờ ông ấy cũng có sống với bố mẹ mình được đâu, vẫn cơm tập thể, hai ông bà ở quê thì lọ mọ với nhau.
- Còn những cái khác nữa, ông không hiểu đâu.Hồi đi coi thi ở Nghệ an Tùngnkể cho tôi, nhưng ông phải hứa là không kể ra ngoài nhé.
- Nói đi, chúng mình cần hiểu Tùng hơn, có gì còn giúp được nó.
- Tùng được đi học ở Liên xô năm ấy cùng chúng mình là do một sự nhầm lẫn. Chiến tranh, vội vàng - Hưng kể lại chuyện về Tùng cứ như lời thuyết minh trong một bộ phim trắng đen xưa....

Năm 1966 máy bay Mỹ bay ra ném bom mìền Bắc nước ta. Chiến tranh đã leo thang, bom đạn đã rơi xuống thành phố dệt, mọi việc đều vội vã cũng như cái giấy báo gọi Văn Tùng đi lưu học Liên xô đến lúc anh còn đang cuốc dở luống khoai .

Một cô bé 10 tuổi chạy ra kêu thở hổn hển:

- Anh Tùng ơi về ngay, có họ mang giấy báo anh đi học Liên xô đấy.

Tùng vứt ngay cuốc chạy lên thì cô bé chạy xuống trượt chân ngã xuống ruộng. Tùng đỡ cô bé dậy:

- Nụ ơi, em có sao không, xước tay, chảy máu rồi. Để anh buộc lại nhé - Tùng lấy trong túi cái khăn buộc tạm vết thương cho cô bé . - sao bị trẹo chân nữa à, lên vai anh cõng.
- Không, anh về đi đã, để em ngồi đây, lát nữa em về, đừng nói với bố em là em bị ngã nhé . - Nụ khóc mếu máo.

Tùng bế xốc Nụ lên rồi đặt xuống gốc cây:

- Em ngồi chờ anh nhé, anh về lấy xe đạp ra đón em, không được đi đâu đấy nhé, hứa đi.
- Em không đi đâu đâu, chờ anh đến lúc anh đi học Liên xô về đón em . - Cô bé nói, đôi mắt lá dăm ướt nhìn theo Tùng da diết.

Đôi mắt cô bé như mờ dần, hiện hình đoàn tàu rời ga Nam định mang theo anh Tùng của cô. Mẹ Nụ mất sớm, mẹ kế làm ruộng, chân chất. Từ lúc nhận giấy báo đến lúc lên tàu liên vận rời Hà Nội vẻn vẹn không đầy một tuần.

Khi ban tuyển sinh tỉnh phát hiện ra giấy báo đánh nhầm tên Vân Tùng sang Văn Tùng đến báo cho bố Vân Tùng là phó bí thư tỉnh uỷ và định lấy xe của ông chở Vân Tùng lên Hà Nội thay cho Văn Tùng ngày mai đã lên đường đi lưu học thì thật bất ngờ, cậu học sinh này nói:

- Không nhầm đâu, bạn Văn Tùng đi mới là xứng đáng, Văn Tùng học giỏi và toàn diện hơn con. Đất nước cần những người như bạn ấy về xây dựng lại sau này.

Ông bố nghe con nói quay lại bảo anh cán bộ phụ trách tuyển sinh:

- Anh nghe thấy cháu nói rõ rồi chứ, các anh hiểu được suy nghĩ của cháu chứ..
                                       *  
Cạnh bàn cờ ngổn ngang, Hưng kể tiếp chuyện cho Quân nghe:

- Số là năm cuối phổ thông cậu Tùng chúng ta, Văn Tùng ngồi cạnh Vân Tùng, một học sinh miền nam chuyển đến học, bố là cán bộ lãnh đạo tỉnh. Văn Tùng nhà mình rất thân và hay kèm bài cho Vân Tùng. Sau đó ít lâu Vân Tùng nhập ngũ, hình như hy sinh trước bố mấy tháng. Mộ hai bố con đều được đưa về quê , nằm cạnh nhau tại một nghĩa trang liệt sỹ nhỏ tỉnh Bến Tre. Chiến tranh ác liệt quá, lớp Tùng hy sinh hơn nửa .

Hai người vừa nói chuyện về Tùng xong thì cũng kết thúc ván cờ. Thật tình cờ trong phòng Sỹ Kháng xuất hiện khi nào. Anh bạn học Vật lý cùng trường bên Nga xưa nay là sỹ quan quân đội ở trong Nam. Hưng kêu:

-Thiêng thật đấy, vừa mới nhắc tới Tào Tháo thì Tào Tháo đến. Ông ra bao giờ đấy, ra công tác hay thăm nhà.


- Thăm em.- Kháng trả lời - Nhớ Hà Nội quá. Với tôi Hà Nội là một cô gái. Hà Nội cũng giống một cô gái quá, lại còn chưa đầy đặn, không tự tin, cố giấu kín những run rẩy thèm khát, đam mê dưới cái vẻ kiêu xa, tinh tế của người Hà Thành mà - Kháng nổi hứng say sưa - nhưng thực quyến rũ, cô đơn như không biết tựa vào đâu. Đi xa nhớ lại mới phát hiện ra cái cảm giác đó ở mình. Các ông có rỗi không, gọi mọi người lên Hô Tây đi, ăm bánh tôm. Tôi vừa mới lĩnh nhuận bút.

Kháng rút tờ báo có in bài thơ về Hà Nội và ngân nga:

" Trăng thanh tao hao gầy
Tây hồ sóng mờ say
Tóc mây buông gió lạnh
Mảnh mòn đâu bờ vai...

Nàng mơ màng thương ai
Tràng An còn xa ngái
Lệ thầm trên Phố Phái
Cổ thành nhớ chiều tàn

Nàng đợi ta chờ ai
Xa hoài sâm cầm bóng
Liễu hồ biếng gương soi
Thổn thức tình thu phố

Ta đi tìm Thị lộ
Để em chờ Ức Trai
Không hay còn hy vọng
Tràng an mộng mơ này..."

Ngoài khung cửa sổ, lá cây rung động dưới làn gió nhẹ. Thời tiết này ngồi nhà thật phí. Ba chàng phóng xe đi.
        

Đã quá trưa, nhưng làng quê vẫn như trong giấc ngủ lười biếng, im ắng. Hai cô gái dắt xe vào làng, vừa đi vừa nói chuyện:

- Anh Hải đi rồi, trở về trường cũ. Anh Tùng thi xong rồi, chắc là qua nhưng còn khâu xét cử nữa cơ. Cũng có người nhận hộ chiếu xong còn bị gọi ở lại đấy.
-Tốt nhất là nên đừng gặp anh ấy trong thời gian này. Nhà trường họ để ý lắm . – Hằng nói.
- Tao cứ như là người phạm tội ấy, chỉ còn mày chứ mấy đứa bạn đều xa lánh cả, sợ bị liên luỵ chắc.
- Mọi người đang chờ công việc lo lắng, cho ổn cái đã. Mấy ai như mày, bố xin ngay cho vào bưu điện bờ hồ. Cháu ơi, có phải nhà bà Huệ đi lối này không.- Hằng hỏi một tốp trẻ em bồng bế nhau.
- Các cô cứ đi thẳng rồi qua là gạch rẽ trái, đi một tí nữa thấy nhà có cái cây hoa giấy ấy.- Chờ các cô đi quá lên chúng thầm thì bảo nhau - xinh quá, chắc lại đến bói lấy chồng rồi.

Cây hoa giấy, nhà bà Huệ đây rồi. Hai cô bước vào sân, lấy túi ra rồi kêu:

- Bà Huệ ơi, có khách .
- Vào đi - tiếng trong nhà vọng ra.

Trong nhà bà Huệ thắp hương, Chi lấy một một quả cau, một lá trầu và một cái phong bì trong túi mang theo xếp lên đĩa rồi kính cẩn đặt lên bàn. Cô cúi đầu khấn. Bà Huệ ra khấn sau. Bà nhắm mắt niệm một lúc. Xong rồi bà lấy con dao, cắt đôi lá trầu ra rồi bổ cau làm đôi. Bà nhìn lá trầu quả cau bị cắt, nhìn kỹ những lát cắt, thấy nhân cau không khớp, lát cắt màu không đều. Bà lẩm bẩm lắc đầu rồi bảo Chi đang căng thẳng lo lắng:

- Không thuận đâu theo ý mình con ạ. Trong héo, ngoài tươi, nếu con cứ cố sẽ không đi đến đâu mà còn mất hết.
- Mất gi cơ hở bà.
- Mất cả những cái bên trong lòng. -Bà nhìn thêm lá trầu rồi nói - Nhưng con phải lấy chồng, nếu không muốn đến nương nhờ cửa phật. Lấy người yêu mình chứ đừng chỉ vì là mình yêu. Chỉ bổn phận làm mẹ mới che chở cho con qua khỏi những tai hoạ, cho con những điều tốt lành và sẽ phải một mình nuôi con.

Bà Huệ cầm phong bì đưa cho hai cô:

- Hai con cầm về đi. Ta không lấy tiền trong những trường hợp này. - Bà nhìn hai cô đăm đăm.

Hai cô gái lủi thủi đạp xe trên bờ đê, đoạn đường rải đá đang làm, đường xấu quá. Hằng dừng xe lại lấy trong túi quả cau, lá trầu vứt vào bụi:

- Chi ơi, chờ với. - Hằng vội đạp đuổi theo - Cũng không nên tin hẳn vào bói trầu cau đâu. Tao cũng mang đi định bói nhưng thôi vứt quách đi rồi. Chi ơi, mày sao thế.

Chi vẫn tiếp tục đạp xe loạng choạng như đi trên mây. Bờ đê chiều vắng vẻ. Bóng hai cô gái nhỏ mờ dần. Khuôn mặt Chi lại hiện lên, cô nghĩ gì, đến Tùng, đến tình yêu đầy ngang trái của mình hay đến những lời bói của bà Huệ. Bầu trời chiều đỏ ối, cảnh quê, thiên nhiên bao la mà hình hai cô gái hiện lên lại như nhỏ bé, mong manh quá.

Trong nhà Tùng, bố đang nằm trên giường ho. Tùng mặc quần áo nghiêm chỉnh xong nói:

- Bố mẹ không phải lo cho con.- Tùng lấy trong cặp ra ít tiền - Mẹ cầm lấy chỗ này phòng cần mua thuốc thêm. Bố ốm, mẹ cũng đừng ham việc quá và cũng phải giữ sức khoẻ. Sang bên ấy con sẽ tìm thuốc gửi về cho bố. Thôi con đi bố nhé.

Ngoài sân một cậu đang nổ cái xe máy Minsk, khói ầm ĩ .

Xe lai Tùng phóng qua đầu làng. Tùng đang mải mê nghĩ gì không biết ở bên cây đa có người con gái mắt lá dăm đứng tựa nhìn theo xe .
                                      *
Nhà Hằng trong khu tập thể đài phát thanh. Ngoài sân có bà đang phơi quần áo. Khẽ chào xong Chi bước vào nhà ở cuối dãy:

- Cháu chào chú, chú đã chơi đàn như xưa rồi, chú khoẻ chứ ạ ?
- Không sao, chú đỡ nhiều rồi, bây giờ chú đi dạo một chút, không thuốc nào bằng đi dạo tập thở cả. Hằng ơi, cái Chi nó đến. - Ông cất đàn xong trước khi đi còn bảo Chi - Cháu cũng phải luyện tập giữ sức khoẻ nhé,trông cháu ốm quá. Thanh niên có hai cái: công việc rồi gia đình. Cháu đã xong một nửa rồi, lại làm việc ở ngay trung tâm chứ như cái Hằng không đâu vào đâu cả.
- Tại con học dốt thế thì con chịu thôi , bố cứ .- Hằng xuất hiện kéo Chi vào nửa phòng được ngăn đôi bởi cái tủ - Anh Tùng gửi cho mày quyển các bài hát Nga và các đĩa hát này.
- Anh ấy đi thế nào?
- Cứ như người đi trốn, quần áo cũng không dám lĩnh. Sang đấy chắc lạnh lắm, tuyết đã rơi. Đợt trước đi hết, chỉ có anh ấy bị đình lại để xét, có đơn tố giác là anh ấy khai man lý lịch từ lần đi học Liên xô trước kia cơ. Còn có đơn nói anh ấy đi học kỹ thuật sao mà lại giỏi tiếng Nga, thơ Nga thế, chắc là có yêu đương với gái Nga hồi sinh viên. Nói chung là cốt để chậm và lỡ chuyện đi nghiên cứu sinh của anh ấy. Khi đợt đầu đi hết, họ tưởng đã xong mới thôi. Anh ấy sang đấy khối kẻ tức tối. Nghĩ cũng tội. Sang đến Mat tuyết rơi mà không có áo ấm. Lúc đi cũng chỉ mang cái túi xách và ba lô. Không chuẩn bị va ly va leo gì không có họ lại biết, sinh chuyện. Đi nghiên cứu sinh mà cứ như đi trốn ấy.
- Cũng chưa xong đâu, anh Tùng hồi xưa kể có người bạn học rất giỏi. Đang học rồi đùng cái cũng bị gọi về. Thiếu gì cớ.
- Thì anh Dương nhà cậu đấy thôi.

Chi im. Hằng cũng im không nói. Hai người con gái lặng đi nghe. Nhà ai mở nhạc. Lại giai điệu Nga, gợi buồn, gợi nhớ, gợi cảnh nước Nga tràn ra sân nắng sớm.

7.

Thế là cuối cùng Tùng đã trở lại trường cũ, cặm cụi nghiên cứu và vùi đầu vào sách vở. Tùng luôn nghĩ anh là người may mắn. Ông thầy hướng dẫn anh, giáo sư Kirilenko nghe nói hồi xưa bị đi tù oan vì có thư tố cáo ông đã vi phạm điều gì đấy khi đi công tác ở phương Tây. Lúc người ta xác minh được đó chỉ là lầm lẫn và quyết định thả ông thì ông xin ở lại thêm một tuần để hoàn thành nốt các tính toán trong tù, sợ ra ngoài sẽ lẫn lộn. Các nhà khoa học Soviet thật kỳ lạ. Đối với họ được nghiên cứu khoa học là một hạnh phúc lớn lao, đôi khi là tất cả trong cuộc đời. Họ sống đơn giản, không đòi hỏi gì. Họ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống và bình an tâm hồn trong các phòng thí nghiệm, trong thư viện. Khoa học đối với họ là cái Tháp Ngà để an trú, đôi khi trốn tránh những vấn đề của cuộc sống và cả tình yêu nữa. Thầy giáo của Tùng lại là người độc thân. Cũng có lần đến chơi nhà thầy Tùng vô tình quệt rơi quyển sách thầy để trên bàn, thấy rơi ra cái ảnh xưa thầy chụp hồi trẻ với một cô gái tóc vàng xinh xắn. Có phải vì tình yêu với khoa học nhiều người đã phải bỏ lại sau những giấc mơ về điều gì đó với ai đó.

Trở lại Liên Xô học và nghiên cứu lần này Tùng thay đổi nhiều quá. Có thể vì anh sang một cách lặng lẽ nếu không muốn nói là chui lủi. Cứ nghĩ đến lúc ra sân bay một mình với cái túi xách, không người đưa tiễn, không nhận quần áo ấm của bộ Đại Học phát để tránh ồn ào Tùng lại thấy nghẹn lòng, nhục nhã muốn trào nước mắt. Cái cảm giác hụt hẫng về con người, về quê hương như một vết thương đau xót. Có thể vì anh đã quá mơ mộng, sách vở và thi ca. Và còn mối tình dang dở ngang trái với Chi vẫn đè nặng trong lòng, còn bố mẹ ngày một già yếu. Cũng có thể vì đất nước Soviet mà anh yêu quý như quê hương thứ hai của mình, một chỗ dựa tinh thần để sống cũng đã thay đổi, bộc lộ những tha hóa của một xã hội trì trệ, bao cấp. Những va vấp với cái giả dối thấp hèn trong cuộc sống mà anh và các bạn nếm trải ở quê hương sau khi tốt nghiệp trở về, những lẫn lộn giữa ước mơ người sống vì người và thực tại đố kỵ ghen ghét hại nhau, tất cả vẫn còn muốn bấu víu vào những gì đã có trong anh thời sinh viên ở nước Nga. Tuy mong manh nhưng nó cho anh một lòng tin, một khát khao là con người quê hương anh sẽ sống thật hơn, tốt hơn. Dần rồi cái thiện sẽ nhiều hơn, cái ác sẽ bớt đi. Anh vẫn cố chấp một cách bướng bỉnh với ý nghĩ ước mơ đó về một " thiên đàng trần gian là có thực ", không chỉ là một ảo tưởng của lòai người. Nước Nga không chỉ như một tổ quốc thứ hai. nó như một tôn giáo của anh  Nhưng khi trở lại nước Nga, mới có sáu năm qua, thiên nhiên, hàng cây, mặt trời và tuyết vẫn thế chỉ con người đã khác quá. Cái điểm tựa mong manh của Tùng như bị chao đảo. Anh hay chia sẻ những điều đó với Hưng và thấy mình vô lý vì. nếu xong được cái " Thiên đàng trần gian " này thì con người sẽ biết làm gì nhỉ. Hết việc. Không, còn một việc lo giữ sợ mất. cái đó còn tệ hơn là chưa có. Chưa có còn có ước mơ sẽ có. Chẳng lẽ có lọai " Ước mơ là không mất cái đang có " à.

Trich đoạn trong thư  Tùng viết cho Hưng:

 " ....Cậu biết không, giá cả vẫn thế, như thời bọn mình học in ngay vào hàng hoá. Cái bàn là 5 rup 80 kopec. Cái áo bay 10 rup. Chỉ có không có bán nhiều. Người bán hàng ngại bán hàng vì sợ hết. Khắp nơi là xếp hàng vì thế mà nhiều người mang theo sách, truyện, báo tranh thủ đọc, học trong lúc chờ cho đỡ sốt ruột. Mãi rồi thành quen, mọi người cứ ì ra. Cả một dân tộc trở nên trì trệ. Họ mở thêm những cửa hàng dành cho một số tầng lớp cũng như ở ta vậy.

Còn say rượu thì khủng khiếp. Say rượu được Gorki kể khá rõ trong truyện " Người Mẹ " cho thời Nga Hoàng thì thời nay cũng thế, thấy say rượu khắp nơi trong nhà máy, trong trường học và ngoài đường. Sau những ngày lễ ô tô cảnh sát lại đi hót các cậu say khướt nằm lăn vỉa hè, dưới gốc cây, trên tuyết. Họ say để không nghĩ đến ngày mai của họ ra sao. Số người tìm đến rượu để khuây khỏa, quên đi những vô lý, giả dối của cuộc sống nhiều hơn. Minh cũng gặp lại mấy đứa bạn học cùng thời sinh viên xưa. Không phải ai cũng ổn, gặp may cả. Marina lấy chồng rồi bỏ, nuôi một đứa con. Nó nhớ cậu đấy.

Nhiều cái mình xưa cứ nghĩ mình đúng, cố chấp. Bây giờ mình mới hiểu. Cậu nhớ Iura và Vova sống cùng phòng với chúng mình chứ. Mình vừa gặp lại Vova. Tình cờ thôi, ở ga. Chỉ kịp bắt tay ôm nhau rồi mỗi đứa một đường. Thằng Iura tính hiền, thích học tiếng Việt không như thằng Vova. Hồi đó chúng mình đến khổ vì tiếng ghi ta của nó. Cứ bập bùng, hát cả một số bài ca của Vysotxki (*). Nó lại thổi kèn trong đội nhạc của trường. Nó sợ nghe bài hát Việt Nam lắm. Cậu mở " Bài ca 5 tấn " với giọng Bích Liên là mặt nó biến sắc. Lúc nghe ca sỹ lên cao lạc giọng đi, nó bảo có cảm giác rơi xuống vực, sắp tắt thở. Bài " Xa Khơi " hay thế mà nó không nhận ra đó là hát về Tình Yêu mà lại cho là về chủ đề sản xuất. Chỉ có hai bài nó thích đó là " Trống Cơm " và " Tiếng Chày Bom Bo " . Nó lại còn nhún nhảy theo. Thằng này hay bỏ học, nhưng đọc sách suốt ngày. Đầu giường là một chồng sách đủ các loại, môn học, Yoga, Tôn giáo, thơ và tiểu thuyết.

Chúng mình xưa hay cãi nhau với Vova vì nó toàn khen phương Tây tư bản và bọn quý tộc Nga xưa. Thảo nào trong lớp mọi người gọi nó là tên Mensevich còn chúng mình gọi nó lịch sự hơn " Ngài Bạch Vệ ". Nó nói rằng nếu không có CM tháng 10 thì nước Nga giờ sẽ hùng mạnh lắm vì lúc đó Nga đã đứng thứ 5 trong các đế quốc và là trẻ nhất, nhiều tài nguyên thiên nhiên và con người, trí tuệ nhất, đà tăng mạnh nhất. Chỉ cần CM dân chủ tư sản nữa để giải phóng sức lao động. Nó còn nói nhiều về nước Nga khác của nó, về nhà tù Siberi, về Đại chiến thế giới II. Vova cứ cho rằng sự ngu xuẩn nhất trên thế gian này là trong hơn tháng Liên Xô nướng luôn Ucraina, Belarusia to rộng, giàu có vào tay người Đức vì còn lo bắn vào lưng nhau hơn. Cãi nhau, nó lại cùn trích lời Erenbourg : " Nếu mỗi người lính Nga giết được một thằng Ðức thì chiến tranh kết thúc lâu rồi " hay là :" Trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào nhân dân luôn là thua " ấy...."

Qua thư Hưng, Tùng cũng nắm được tình hình ở nhà. Anh còn hay nhận được thư Hằng và Hải nữa. Nhưng anh mong nhất vẫn là thư của với dòng chữ trên phong bì đề tên người nhận Nguyễn Văn Tùng rất nắn nót. Chữ viết thân quen đầy trìu mến và thương yêu của Chi.

Trích từ thư Chi gửi Tùng:

” ... Bên ấy chắc lạnh lắm. Anh nhớ mặc ấm nhé. Em mới gửi tay cái áo len cho anh qua chỗ anh Hải ở Mat đấy. Hằng gửi hộ. Anh Hải viết thư và gửi cả ảnh cho Hằng. Trông anh ấy to lắm, nói lên được bốn cân. Em đan hơi rộng để anh có mập lên vẫn vừa. Tại anh không gửi ảnh cho em. Em vẫn không có cái ảnh nào của anh. Em nhớ…

Em hiện đi làm tạm ở bưu điện ngay Bờ Hồ. Cũng không đúng chuyên môn. Nhưng cần ra khỏi nhà anh ạ, ít nhất là một lần trong ngày. Có mấy nơi em nộp đơn xin nhưng chưa có trả lời. Em vẫn đi học thêm tiếng Anh nữa buổi tối. Trong Sài Gòn nhiều công việc phù hợp nhưng họ cần tiếng Anh. Ông thầy dạy tiếng Anh cũng biết anh đấy. Ông ấy cũng học ở Liên Xô thời anh. Ông ấy hay đọc thơ ở lớp. Hình như ai đi học ở bên đó về cũng yêu thơ, làm thơ. Thơ ông ấy dịch của Byron, John Donne. Ông ấy cũng hay đọc thơ của ông ấy viết nữa. Toàn thể thơ năm chữ. Lúc đầu nghe là lạ, buồn cười, sau cũng thấy quen. Ông ấy dậy cả lớp làm thơ kiểu đó, dạy dịch ra tiếng Anh, vui lắm. En thử gửi cho anh bài thơ em viết nhé. Anh đừng cười nhé.

Con phố một chiều mưa

Tiếng mưa nhòa tiếng nhạc

Tôi thích đi dưới mưa

Nước mưa nhòa ướt mắt

Để không ai thấy được

Em đang khóc, nhớ anh

Thôi em không viết được nữa, em khóc thật rồi. Anh ơi…”

Cũng đôi khi lâu không có thư. Tùng bồn chồn, khó ngủ. Mà ngủ được thì anh lại nằm mơ. Anh hay mơ thấy mình của những năm xưa.

Giấc mơ của Tùng.

" ...Cậu bé ngồi cầm que ngồi vẽ hình trên cát . Bọn trẻ con chăn trâu cầm súng chuối đến vây úp, reo hò:

- A lê , đầu hàng đi , bắt được tên Ac si met rồi .
- Ấy, đừng xoá những hình của tôi...

Tùng lại mơ thấy ngồi giảng bài cho Vân Tùng. Vân Tùng nói:

- Sao dễ thế mà mình không thể tự hiểu ngay được mà lần sau lại quên ngay, những hoá trị đó. Cậu giỏi thật . Không biết mình phải ăn cái gì cho nó vỡ đầu ra, bớt ngu đi.
- Cậu chưa quen cách học đó. Phải tìm ra cách học thôi chứ. Cậu kể Lục vân Tiên thuộc lòng hay thế thôi . Hay là cậu tìm cách đặt vần lục bát cho bài hoá này.
- Đi thi chép luôn cả hoá học diễn ca vào thì các thầy chấm thi tưởng mình điên. Mình thuộc Lục vân Tiên vì đó là của ông Đồ Chiểu quê mình. Bao giờ thống nhất Bắc Nam cậu về Bến Tre sẽ thấy ai ai, cụ già, con nít đều kể Lục vân Tiên được cả. Quê mình mà, ba cù lao bên cửa sông Hàm luông .- Mắt Vân Tùng bỗng nhoè đi, giọt nước mắt rơi xuống trang vở. - Mình phải trở về - Vân Tùng nghẹn ngào. “

Có tiếng gõ cửa đánh thức Tùng dậy. Một anh nghiên cứu sinh bước vào:

- Hôm nay cậu có đi dự bảo vệ luận án của Iura không . Mình qua thấy cậu có thư mang lên cho cậu, sướng thật, một lúc hai thư.

Tùng cầm thư của Chi và thư của Nụ.

Thư Chi viết về tình yêu, thư Nụ viết về bố Tùng đang ốm, áp huyết, mạch không đều, dặn anh mua thuốc trợ tim cho bố. Những hình ảnh kỷ niệm tình yêu với Chi lại như trào lên, lại giai điệu bài hát Nga, cái giai điệu vẫn theo suốt chuyện tình của họ.

Tùng đạt lá thư của Chi xuống bóc lá thư của Nụ ra. Những hình ảnh làng quê, lũy tre, cái sân và ngôi nhà của bố mẹ anh lại hiện lên. Lại thấy Nụ đang chăm ông bố Tùng và đọc thư của Tùng cho ông nghe. Lại thấy hình ảnh cô bé Nụ lúc lên mười chờ anh ở gốc cây với cái chân bong gân và cả hình ảnh của chính anh nữa, hồi mười bảy tuổi. Và cả những câu nói của hai người nữa. Anh biết nó in đậm trong tim Nụ và cả trong tim anh.

"...- Em ngồi chờ anh nhé, anh về lấy xe đạp ra đón em, không được đi đâu đấy nhé, hứa đi.
- Em không đi đâu đâu, chờ anh đến lúc anh đi học Liên xô về đón em . - Cô bé nói, đôi mắt ướt nhìn theo Tùng da diết..."

Tùng đặt hai thư lên nhau rồi nhìn lên bức ảnh Vân Tùng trong khung kính con để trên bàn học, thốt lên:

- Vân Tùng ơi, nói cho mình với, mình phải làm sao cho đúng đây.

8.
Bố Tùng ốm. Hằng rủ Chi về Nam Định thăm. Về đến bến xe Nam Định hai cô thuê một chiếc xích lô đi tiếp về hướng Thái Bình. Lên đường đê có nhiều chỗ đang sửa họ phải xuông đi bộ cùng xe. Chi bỗng nhớ Tùng da diết. Mới ngày nào trên dóng xe đua, trong vòng tay người yêu.

Đến nhà Tùng. Mọi người đang xúm xít bên ngoài sân, hiên. Trong nhà Nụ đang tiêm cho ông thuốc trợ tim. Hằng hỏi:

- Thím cháu vẫn đi chợ à?

- Bà ấy nghỉ suốt chăm ông, hôm nay phiên mới đi thì ông ấy lại bị ngất, nhưng may có con Nụ nó qua luôn, với lại nó bảo anh Tùng gửi kịp thuốc về, thuốc tốt lắm. Cả cái bộ đồ khám đo kia cũng mới nhận được hôm qua đấy, đẹp không, con Nụ nó sướng quá. - Một ông cán bộ nói, mắt liếc nhìn Chi.

Mặt Chi tái đi, cúi đầu.

Nụ tỏ vẻ chăm chú với người ốm, không để ý đến sự có mặt của hai khách từ Hà Nội xuống, cô em họ và cô bạn. Cô lại chạy ra mời bác bách xich lô để gọn xe rồi vào nhà nghỉ, xong rồi cô xuống bếp đun nước, pha chè, mời mọi người, nấu cháo cho người ốm rồi đi giặt cho bố mẹ Tùng cứ như chủ nhà. Phơi phóng xong cô còn lấy ảnh Tùng ra giới thiệu cho mọi người:

- Anh Tùng đi nghỉ đông trượt tuyết đấy. Lạnh lắm, anh ấy viết thư chỉ nhớ cái nắng ở Việt nam thôi.

Chi nghe Nụ nói cứ muốn khóc. Mấy ông khách còn cứ vun vào cho Nụ nữa chứ. Hằng mang quà đến đưa mợ và thì thầm. Thấy Mẹ Tùng liếc mắt nhìn Chi đang ngồi với mấy đứa trẻ ở ghế xa. Chúng nhận ra cái cô gái Hà Nội mà Tùng đưa về hồi tết trước khi đi nghiên cứu sinh.

Về Hà nội bị trời mưa ướt, khuôn mặt Chi ướt sẫm, mắt lẫn nước mưa lúc chờ ở bến ô tô tối. Hằng vẫy cái xe xích lô. Mưa vẫn không ngớt. Hai cô lên xe.

Ngôi chùa cổ nơi dì Thư tu hành toạ lạc trên vùng đất bán sơn địa, không xa Hà Nội bao nhiêu. Chùa có mái uốn cong từng lớp ngói rêu phong cổ kính, sân chùa râm mát quanh năm bởi một vài cây cổ thụ có tuổi trăm năm. Buổi sáng cảnh chùa tĩnh lặng chỉ nghe thấy tiếng tụng kinh đều đều, nhè nhẹ như vừa xa vừa gần .

Chi xuống xe, tắt máy, dừng lại ở cổng chùa nhìn vào sân không có bóng áo nâu nào. Bây giờ đang buổi kinh sáng, đàn chim sẻ nhảy nhót trên sân thấy tiếng xe máy chúng bay tót lên mái chùa và mấy cành cây to rồi vẫn ngó xuống theo dõi cô gái. Chi tiến tới cửa chùa nơi đang vọng ra tiếng mõ nhìn vào trong khói hương nghi ngút, dì Thư cầu kinh trước bàn thờ Phật tổ. Chi muốn gọi dì nhưng lại không muốn phá tan không khí thâm nghiêm nơi cửa phật. Cô cứ ngập ngừng và bồn chồn đứng chờ ngoài cửa. Một lúc sau, tiếng mõ được chấm dứt bằng ba tiếng chuông kết thúc buổi cầu kinh.

Bà Thư đứng dậy khoan thai vái ba vái trước bàn thờ rồi nhẹ nhàng quay gót ra phía cửa. Vẫn còn là dàng đi nhẹ lướt quyễn rũ của một cô nữ sinh trường Trưng Vương xưa . Chợt thấy bóng người thấp thoáng ngoài sân, bà Thư nói :

- A di đà phật!

Chi chạy ào tới ôm chầm lấy dì nức nở:

- Dì ơi cháu chết mất, dì bảo cháu phải làm gì bây giờ?
- A di đà phật, nơi cửa từ bi con chớ nói điều tử biệt. Thôi! Thôi nào. qua thư của mẹ con ta đã biết hết cả rồi, đi với dì xuống nhà tổ rồi con sẽ bình tĩnh lại thôi.

Hai dì cháu dìu nhau xuống phía nhà tổ nơi nghỉ của bà Thư. Một căn phòng nhỏ chừng 15 mét vuông, ở chính giữa sát tường là bàn thờ có treo bức ảnh Phật tổ đang toạ trên đài sen. Mùi hương trầm phảng phất quyện với mùi hoa huệ cắm trên ban thờ. Điều Chi không bao giờ quên là trên ban thờ phòng dì Thư bao giờ cũng có hoa tươi nhưng chỉ có 2 loại đó là hoa huệ hoặc hoa hồng bạch. Dì Thư dẫn cháu đến bên chiếc giường một kê ở góc phòng, Chi thấy trên giường từ cái gối, cái màn đến vỏ chăn bông đều mầu nâu được xếp ngay ngắn ở đầu giường, duy chỉ có chiếc khăn bông phủ trên mặt gối là có mầu trắng tinh. Chi vừa ngồi xuống giường vừa bám tay dì nài nỉ :

- Dì ơi! Dì cho con đi tu với dì nhé ! Con như thấy bơ vơ lạc lõng trong cuộc đời này quá .
- Rồi mọi thứ sẽ qua, con cứ bình tâm lại đi. Con hãy nằm nghỉ một lát, ta đi chuẩn bị cơm cho con ăn, đi từ sáng đến giờ, trưa rồi còn gì.

Chi mệt mỏi nằm một lát là thiếp đi ngay. Dì Thư xuống bếp xới cơm vào cái bát to, lấy một ít rau muống luộc, một vài miếng đậu phụ, rót một ít tương vào cái bát con, hai cái bát, hai đôi đũa tất cả đặt vào một cái mâm gỗ, đậy lồng bàn rồi đem lên nhà. Thấy Chi đang ngủ, dì đặt mâm cơm lên chiếc bàn con cạnh giường rồi nhìn Chi âu yếm, dì rút chiếc khăn mặt trên dây màn lau nhẹ mấy giọt nước mắt vẫn còn đọng trên má cháu.

Bà Thư thủ thỉ với cháu như nói với chính mình:

- Cửa từ bi luôn rộng mở với mọi chúng sinh, nhưng con không thể theo gót dì vì con còn nặng kiếp trần ai. Con đã yêu, được yêu. Thế cũng là điều nhiều người không có được. Còn nên duyên lại là một chuyện khác. Còn cả một cuộc đời dài phía trước, còn nhiều việc phải làm. Con phải làm vợ, làm mẹ, làm các nghĩa vụ khác. Đừng cố chấp, nên theo chữ thuận con ạ. Nhiều người sinh ra đã không được toàn vẹn, đầy đủ như con nhưng họ dă được chuẩn bị, vừa là giành lấy những cái đúng của mình, vừa là chấp nhận số phận. Dì đã từng nói với con: mọi thứ do quan niệm mà thôi. Con đừng u mê bướng bỉnh thế, bố mẹ lo lắm. Không được làm liều nhé nghe con .

Dì Thư vuốt nhẹ mái tóc cô cháu gái buông xoã bồng bềnh trên gối, mái tóc đen dầy, dài uốn cong ba lớp sóng. Chi nhớ hồi cô còn nhỏ, lâu rồi, hồi bố cô chưa lên chức thứ trưởng, mẹ hay âu yếm cô, cũng đôi khi vuốt mái tóc con gái thở dài:

- Tóc đen dài cong ba lớp thế này rồi nhân duyên lại trắc trở như dì Thư đó con ơi.
- Con ứ chịu như dì Thư đâu.

Bà Thư đứng dậy đến bên chiếc hòm gỗ nhỏ kê dưới ban thờ, mở hòm lấy ra một gói nhỏ bọc ngoài bằng chiếc khăn mầu nâu, bà mở gói ra, bên trong là món tóc bà cắt ngày xuống tóc đi tu, một mảnh giấy có hai câu thơ:

Thôi từ đây nhé duyên ơi
Cửa từ bi đã khép lời nguyền xưa.

Và lại như cảnh trong phim hiện lại trong tâm trí bà sư. Cảnh bà Thư xuống tóc đi tu trên sân chùa, cảnh đôi Minh và Thư tuổi trẻ dạo chơi trong vườn Bách Thảo, cảnh ông bà ngoại của Chi mắng Thư, ngăn cấm cuộc tình của cô với Minh, cảnh Thư chạy đến chùa ngày đầu tiên, mệt mỏi ngã trên sân chùa được mấy chú tiểu dìu vào nhà tổ...

Bà Thư ngồi bên giường cháu gái cứ mân mê mãi món tóc suy nghĩ mông lung, hai hàng nước mắt tuôn rơi lã chã. Bỗng Chi cựa mình tỉnh giấc, cô nhìn dì như tỉnh như mơ:

- Dì khóc à?
- Đâu nào dì có khóc đâu.

Bà Thư lén quay mặt đi lau vội hai dòng nước mắt.

- Con dậy đi, ăn chút cơm chay cho đỡ mệt.
- Con chẳng muốn ăn, dì cho con hớp nước.

Bà Thư đưa cho cháu cốc nước vối để trên bàn. Chi đỡ lấy uống hết nửa cốc. Bà Thư nói:

- Vậy dì tụng một bài kinh cầu trời phật phù hộ độ trì cho con vượt qua cửa ài trầm luân.

Bà Thư đứng dậy tiến đến bàn thờ thắp ba nén hương, lấy mõ và chuông ngồi xuống chiếc chiếu trước bàn thờ, gõ ba tiếng chuông lầm rầm tụng niệm luông tay gõ mõ:

- Nam vô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm quan thế âm bồ tát, nam vô phật, nam vô pháp, nam vô tăng, thường ở khắp mươi phương ra tay cứu giúp hết thảy mọi chúng sinh....Nam vô a di đà phật, thí chủ Kim Chi... Tiếng đọc kinh gõ mõ chùa không to nhưng âm thanh rõ một cách kỳ lạ để làng quê mờ ảo trong tiếng mõ tụng kinh.

Ngoài trời lại lấm tấm mưa lạnh rơi xuống đất...

Sau khi đi chùa về, Chi cảm, ốm đến cả tuần không ra khỏi nhà. Dì Thư đến chăm cô. Có dì ở bên Chi thấy bình an trong lòng hơn, có người tâm sự. Dì cũng giảng cho Chi một số giáo lý Đạo Phật cho lòng cô nhẹ đi. Tuy vậy hình ảnh cây bạch dương ngạo nghễ, đứng riêng bên dòng, cô đơn, vươn thẳng lên bầu trời cao xanh trong bức tranh Thu của Levitan đọng trong lòng Chi cũng chưa tan đi được để nhường chỗ cho những hình ảnh khóm tre làng chi chít nhằng nhịt đan xen chen chúc nghiêng ngả nhau. Hàng ngày Lâm đến chơi, có lúc cả mẹ anh, bà Trâm cũng đến thăm Chi.

Một buổi sáng Hằng xuất hiện :

- Chi ơi, ho lâu dữ vậy sao, cẩn thận viêm phổi . Mình đến thăm cậu, chiều nay mình đi Quảng ninh , được phân về xí nghiệp ở đó. Có lẽ tháng sau mình mới về được, cố giữ sức khoẻ. 
- Hằng ơi, mình thấy trống trải quá .- Chi gục vào vai Hằng.

Có tiếng gõ mõ, dì Thư mặc áo nâu nhà tu đang gõ mõ đọc kinh ở phòng bên. Chi lau nước mắt, bịt tai nói với Hằng:

- Mình sợ quá, cậu bật cho mình bài liễu xanh đi . Hằng lấy cái đĩa Nga đặt lên máy hát, tiếng nhạc lại bồng bềnh, da diết như ngày nào Chi nghe thấy lần đầu trong buổi sinh nhật anh Hải.

Vì sao thế liễu xanh ơi

Bên dòng vắng cứ một mình

Phải chăng có cây thông kia

Xuống đứng bên liễu hết buồn

9.

 Tháng năm đến, Moscva mới đẹp làm sao. Tuyết băng đã tan đi lâu tự bao giờ, không còn chút dấu vết. Mùa Xuân gió mát rượi, mặt đất lộ ra những thảm xanh, ánh biếc dưới ánh nắng vàng trong. Những bụi hoa Syren tím rực đầy trên con đường nhỏ đến ký túc xá của Hải. Loại hoa này tiếng Việt gọi là Tử đinh hương luôn về cùng mùa xuân và như luôn gợi lên xúc cảm đầu tiên của tình yêu, mơ mộng và e lệ, gợi lên những lời thơ.

Tùng rất thích ngâm nga bài thơ về loài hoa đó của nữ thi sỹ Nga Ekaterina Beketova.

" Cứ bình minh mỗi sáng
Cỏ vẫn còn đẫm sương
Tôi hít dài đi dạo
Dưới hàng cây ngát hương
Thấy giản đơn hạnh phúc
Trên chùm hoa bên đường…

Trong đời tôi hạnh phúc
Chỉ là thật đơn sơ
Như loài hoa dại ấy
Hạnh phúc nghèo của tôi
Tử đinh hương như gọi
Muốn nói điều gì đây…"


Vẫn lời thơ buồn đó thôi nhưng trong giai điệu của Rachmaninov, bản Romance có vẻ đơn giản, nhưng lại du dương đến thế. Và không hiểu vì sao âm nhạc lại đưa đến ấn tượng lạc quan, yêu đời, khác với lời…Trên mộ của Rachmaninov có một bụi Tử đinh hương, nhắc rằng ở quê hương xa xôi người ta vẫn nhớ tới nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano. Tùng mê nhạc Rachmaninov. Ngày mai vào thư viện trung tâm đọc sách phải tranh thủ ghé qua cửa hàng Melodia tìm mua mấy đĩa nhạc nữa.

Tùng dừng lại hỏi thăm đường. Cô gái Nga cũng đi về phia nhà Hải. Thấy tay anh cầm cành hoa dại tím ngắt bên đường đó cô gái bảo vứt đi, lẽ ra không nên ngắt hoa đó. Ngạn ngữ cổ có câu: “Cô gái nào cầm hoa Tử đinh hương sẽ không bao giờ được mang nhẫn cưới”. Đã từng có tục lệ trao tặng một cành Tử đinh hương cho người yêu, như một cách nói tế nhị rằng mối quan hệ của hai người đã chấm dứt. Tục lệ này có lẽ xuất phát từ câu chuyện xa xưa về một nhà quý tộc người Anh, dụ dỗ một cô gái trẻ ngây thơ rồi sau đó ruồng bỏ nàng khiến nàng chết vì đau buồn. Những người bạn của nàng đã đặt một vòng hoa Tử đinh hương lên ngôi mộ, kì lạ thay chỉ trong một đêm vòng hoa đã hóa thành màu trắng và chẳng mấy chốc hoá thành một bụi cây lớn. Tùng để cành hoa lên bụi cây trước ký túc xá nghiên cứu sinh.

Lên đến phòng Hải. Hải mừng rỡ nhưng kêu:

-Cậu sao thế, có đánh mất gì không. Trông cứ như mất sổ gạo ấy.

Tùng cười. Anh giấu cái xốn xang trong lòng. Lúc ngắt cành hoa đó anh nghĩ tới Chi, nghĩ có cô trước mặt và nghĩ đưa cho cô cành hoa tím đó....
                                 

Buổi tối ở Moscva, có Tùng lên, Hải làm cơm kiểu Việt Nam, mời Thạch và Xuyên, hai nghiên cứu sinh cùng ký túc xá đến. Có cả nem rán, nem cuốn thịt gà, rượu lúa mới. Trên Mat không thiếu gì. Nó như cái kho hàng, kho chợ của toàn Liên Xô, như cái tủ kính trưng bầy mà ra khỏi ngoại ô mới là cuộc sống thực . Hàng ngày từng đoàn người đi vào thành phố mua hàng và trớ trêu thay lại là những đoàn người nông dân xếp hàng ở cửa hiệu trong các thành phố lớn để mua khoai tây, những củ khoai do chính họ dỡ từ đất ruộng quê lên, xơ xác bơ vơ từ trong tâm hồn không biết tin vào đâu. Trong bữa cơm Tùng kể chuyện xảy ra trên tàu:

- Mình nghiên cứu sinh nên có thể dễ dàng xin Visa đi thành phố khác. Với lại cũng chẳng vất vả gì, chỉ cần đưa hộ chiếu cho bà thư ký bộ môn là bà ấy lo xong. Mấy đứa sinh viên biết mình đi hay đi ghé cùng vì bọn nó không có Visa rời khỏi thành phố cư trú học. Lần này mình đi cùng một đứa. Nó lên cất quần bò và kính ở sứ quán về bán. Hai anh em đang ngủ thì nó gọi mình bảo thấy một bọc tiền trong nhà vệ sinh. Mình bảo cho xuống gối ngủ đi, sáng tính sau. Một lúc thấy hai cô gái cứ đi đi lại lại. Mình hỏi họ tìm gì hở và nói tả đồ bị mất. Hoá ra hai cô ở tỉnh xa, cầm tiền của cả lớp lên Mat mua đồ cho ngày lễ tốt nghiệp. Thấy tả đúng cái khăn bọc tiền, Hùng rút nó dưới gối ra nói là còn nguyên đấy, nhớ cẩn thận.

Mọi người nói nhiều chuyện rồi lại quay về chuyện yêu đương. Đến đây thì có tiếng gõ cửa. Một ông hơi mập trắng, mặt thô tròn với vầng trán cao xuất hiện. Anh Loan sang công tác đến tìm Thạch đưa quà của gia đình gửi sang. Ở Việt Nam nhiều lần trên thư viện khoa học trung ương Tùng có gặp người giáo sư Điều khiển học nổi tiếng này nhưng không quen. Lần này may quá lại có cả một tối hai người ngủ chung phòng. Hải sang phòng bên làm việc với Xuyên cả đêm chuẩn bị cho báo cáo khoa học ngày mai ở trường. Tùng vốn nghe nhiều về nhà khoa học " Dị biệt " này. Nhiều người nói về anh là ông giáo sư " Loan nặng " nghĩa là ông Loạn. Tâm sự với anh mới vỡ nhẽ ra không phải anh như vậy. Bi kịch ở chỗ là nhà khoa học quen làm vịệc với những mô hình điều khiển xa lạ với nước ta, với con người Việt. Anh thất bại với hệ thống " không quan sát được " được đó, một hệ thống Fuzzy với những nhằng nhịt đan xen như bụi tre làng, không sao bóc tách được kiểu " nói thế nhưng không phải thế ". Cái cây bạch dương, cây sồi không trồng ở chỗ các bụi tre được. Anh Loan lại lang thang đi giảng bài ở các nước, báo cáo ở các hội nghị quốc tế thôi.

Nói chuyện về công việc khoa học ở nhà thì cũng đến thế. Nhưng sang chuyện về đề tài nghiên cứu sinh của Tùng thì thật bất ngờ. Nghe Tùng giới thiệu về vấn đề nghiên cứu, anh Loan đặt mấy câu hỏi để làm rõ thêm vấn đề rồi anh cho Tùng những góp ý thật kỳ lạ nếu không nói là kỳ diệu. Mà là hai anh em khác ngành nhau đấy. Tùng vội dậy lấy giấy bút ghi lại để về bàn với thầy hướng dẫn.

Cuối cùng sang vấn đề vợ con thì chán quá. Giáo sư theo lý thuyết ngẫu nhiên, giao phó số phận cho đồng xu nếu chỉ có hai cô mà cần chọn một. Nếu là sáu thì tiện nhất là con súc sắc. " Trường hợp của cậu thì nên dùng đồng 5 kopec " - Anh Loan khuyên Tùng rồi quay ra ngủ như chết. Mới bay từ Việt Nam sang, đồng hồ sinh học con người thay đổi. Buồn ngủ.

Chỉ có Tùng trằn trọc mãi. Nụ Chi, Chi Nụ, sấp ngửa. Chao ôi, chuyện nhân duyên sao khó vậy. Mối tình đầu, không chút kinh nghiệm, càng đẹp lại càng mỏng manh dễ vỡ, che chở cho nó thế nào đây? Các nhà văn, nhà thơ cứ nói, họ mất gì đâu :" Tình yêu là sức mạnh, tình yêu luôn chiến thắng, cùng lắm thì như chàng Romeo và nàng Juliete chết đi để lại niềm cảm hứng cho muôn đời sau “. Đấy là khi anh nghĩ về Chi. Thế mà đêm anh lại mơ thấy Nụ. Anh là mối tình đầu của cô lúc cô mới mười tuổi, cứ như có hẹn từ kiếp trước hay sao ấy.

10.

Thế là hơn một tuần lên Mat đọc sách, tìm tài liệu, nhận thư và quà cũng xong Tùng trở về thành phố Kharkov của mình. Nằm trên tàu Tùng ngủ chập chờn theo tiếng gõ xình xịch của đoàn tàu rồi nửa đêm anh thức hẳn. Lên Mat cảm giác quê hương gần hơn. Còn nhiều cảm giác khác nữa xen vào như những ám ảnh cảm bất an, hụt hẫng và tất cả đều gắn với một loạt câu hỏi về cái đất nước to lớn thân yêu này. Nó sẽ ra sao, nó đi về đâu.

Khi ở Việt Nam anh đã phải đối mặt với những giả dối đó kỵ của con người và cả cái tủi nhục lúc ra sân bay đi nghiên cứu sinh như một cuộc chui lủi, giấu diếm không cho ai biết, thì anh vẫn nghĩ rằng mọi đen tối cuộc sống đó nó sẽ qua, anh cho qua. Anh có phần giống ông " Lão ngồi mơ nước Nga ", cần có một cái gì đó để tựa, để tiến đến.

Không chỉ riêng anh, mấy cậu châu Mỹ La tinh học thời sinh viên xưa cùng anh trở lại nghiên cứu hay thực tập cũng không giấu được nỗi thất vọng. Một sự trì trệ khó hiểu. Khi ở thành phố Kharkov anh sống, thiếu đủ mọi thứ cho cuộc sống và công việc, thậm chí những bìa đục lỗ của máy tính M220 anh cũng phải khéo léo có được nhờ những món quà nhỏ cho cô gái làm việc ở trung tâm máy tính của trường. Không sao, anh nghĩ khó khăn đó cũng chỉ là tạm thời, nó sẽ qua, anh lại cho qua. Nhưng khi lên Mat thấy mọi thứ được cung cấp đầy đủ, thậm chí thực phẩm nhiều thứ nhập từ nước ngoài anh lại thấy lo lắng và cảm thấy khó cho qua được cái tồn tại này. Sẽ được bao lâu nữa khi một đất nước tồn tại chủ yếu bằng bán vàng, tài nguyên, khí đốt dầu mỏ. Một đất nước đồng ruộng rộng mênh mông mà phải luôn phải hàng năm đi nhập lương thực. Một nền sản xuất lạc hậu, cũ rích, một sự quản lý giả vờ. Trong nhà máy kéo ở Kharkov mà Tùng vào thực tập, anh giật mình khi thấy gần một lượng đáng kể chi tiết sản xuất ra có thể coi là phế phẩm theo thước đo của kỹ thuật. Bẩn thỉu, ô nhiễm, chỉ có khắp nơi là khẩu hiệu treo từ ngày nọ sang ngày kia, năm nọ sang năm kia. Sẽ ra sao khi chỉ có những người nói dối và nghe nói dối mãi thành quen. Còn bây giờ người ta chán nản, chán nhau, chán từ " đồng chí " rồi. Tùng mang theo tờ báo Nga " Zarubezom " có bài viết về nề sự lạc hậu và bệnh hoạn của nề kinh tế Soviet và dự báo sự xụp đổ của nó không xa khi số nợ đạt ngưỡng 100 tỉ Đô La. Khi đó, bài báo viết thêm: " Khả năng Liên bang Soviet tan rã hoặc họ gây Thế Chiến Ba. Họ tích quá nhiều vũ khí hủy diệt ".

Trở về trường, lại vùi đầu vào công việc nghiên cứu, những bài báo, nhũng báo cáo khoa học, thư viện và những quyển sách đã chiếm phần lớn thời gian của anh. Có thể không phải nó cần thiết và ý nghĩa đến như thế mà là anh cần nó để trốn vào để tránh phải đối diện trả lời những câu hỏi xuất hiện và đeo bám anh sau chuyến đi Mat đó. Anh cũng trốn luôn cái đồng xu sấp ngửa đó. Lắm lúc anh tự khinh bỉ mình sao có thể một lúc nghĩ tới hai người con gái. Nhưng quả thật, nghĩ tới Chi anh lại không quên được hình ảnh ông bố cô, vị quan chức cấp cao đó với những cách nhìn xa lạ với anh và nỗi buồn là xã hội ngày càng nhìn theo cách đó. Như anh sẽ là hâm, gàn. Còn nghĩ tới Nụ là anh nghĩ tới bố mẹ, tới lần đầu đi học Liên Xô, tới Vân Tùng, người bạn đã hy sinh.

Tùng vẫn viết thư cho Chi. Không đều, có thể giải thích do bận. Chỉ có hai cái không giấu được. Đó là say rượu và yêu. Cái đầu trong thư giấu được. Chi thấy bơ vơ. Khóc và cô đơn. Lâm đến đúng lúc. Lâm tốt nghiệp ở Ba lan, rất tâm lý, rất galant và kiên nhẫn một cách tự tin.

Còn Tùng, anh hay chia sẻ mọi thứ với Hưng. Mọi chuyện, những chuyện không thể nói với Chi hay Nụ. Chuyện đàn ông.

11

Trích thư Tùng gửi Hưng:

"...Dạo này công việc nghiên cứu cũng khá hơn. Mình đã có ba bài báo khoa học, tạm ổn. Chuẩn bị thêm số liệu cho hội nghị khoa học sắp tới ở Crimea. Thời giờ rỗi mình dành đọc sách. Không như thời xưa cứ chiều xuống là sinh viên Việt Nam gọi nhau xuống chơi bóng dưới sân rất vui, tối về nói chuyện quê hương, nghe đài tiếng nói Việt Nam, trao đổi chia sẻ, kèm nhau kiến thức học hành. Bây giờ cả trường có hơn chục sinh viên, cũng chẳng gặp nhau mấy, chẳng có họp hành gì. Mà có gặp nhau là chỉ chuyện đi buôn, nhảy nhót, rượu chơi gái. Gái công nhân lao động Việt Nam, gái Nga. Khác xưa lắm rồi. Chẳng ai nói chuyện học hành.

Cũng đôi khi có chút cái xưa lại đến. Cậu có nhớ cái bảng treo ảnh những thầy cô tham gia Chiến tranh Ái quốc xưa không ở hành lang đến thư viện trung tâm của trường không. Thầy chủ nhiệm khoa của chúng mình, giáo sư Galaskokov là lính xe tăng, lon trung uý, còn thua cả bà giáo khoa hoá tên là Nadezda mà giờ mình quên mất họ của bà rồi thì trong quân phục đeo lon đại uý. Hồi đó bà đẹp quá, cứ như diễn viên trong phim " Vùng trời Baltic " ấy.

Tuần trước mình ở trường về thấy có một bà già đến tìm và ngồi chờ ở sảnh ký túc xá. Qua mấy câu nói mình nhận ra bà giáo khoa hoá, cô đại uý bộ binh trên bảng danh dự. Bà ấy hẹn đi thăm mộ một cậu sinh viên của bà thời mình học tên là Năm, học trò bà ấy, chết bệnh. Cậu còn nhớ Năm không, khoa hóa ấy, dân Nghệ. Có lần văn nghệ nó hát đôi cùng cái Hồng khoa hóa mà cậu thich ấy. Khi nó ốm chết khi chúng mình năm thứ ba. Hôm đó có giờ học nên chúng mình không đưa tiễn nó.

Hôm qua chủ nhật mình dắt tay người mẹ già Nga đó đi thăm đứa con Việt Nam. Xa, phải đi ô tô qua ngoại ô, rừng. Nghĩa trang đẹp quá, như những bài thơ. Mộ Năm được xây, có hàng rào xung quanh trong đó có dành một phần mộ không bên cạnh. Bà Nadia nói là chỗ nghỉ của bà sau này. Không có hương, mình thắp nến. Mình có mang theo sơn để sơn lại, nhưng không cần. Ai đó đã sơn, ai đó đã cắm hoa vừa xong, chắc chỉ mới hôm trước... "

12.

Thời gian trôi nhanh có lẽ vì đề tài nghiên cứu sinh đã cuốn hút hết tâm trí Tùng. Sự đam mê khoa học, sách vở cùng khả năng và kiến thức vốn có đã để cho Tùng hòan thành xong phần lý thuyết  với ba bài báo khoa học ngay trong năm đầu. Luận án Phó tiến sỹ kỹ thuật của anh chỉ còn là vấn đề bổ xung các ví dụ số và thí nghiệm kiểm chứng. Nó chưa hòan thành nhưng đã được hình dung thô trong đầu nhà khoa học trẻ. Hè đến, Tùng không về thăm nhà. Một phần là Tùng muốn tranh thủ mùa hè thực hiện nốt phần tính tóan. Trung tâm máy tính của trường với chiếc máy tính đồ sộ chiếm hết một tòa nhà. Trong năm học các chương trình mọi người mang đến  phải đặt xếp hàng để đánh máy vào các bìa đục lỗ rồi các chồng bìa đó lại phải xếp hàng chuyển cho máy đọc. Xếp hàng là một điều quen thuộc nếu không nói là truyền thống ở đây. Tuy nhiên hè thì lại vắng, mọi người đi nghỉ nên anh quyết định tranh thủ cơ hội đó để thực hiện các chương trình máy tính đã viết. Còn một lý do nữa anh không về thăm nhà vì anh đã thấy sự phức tạp và khó khăn để thóat sang nghiên cứu sinh rồi. Hưng viết thư cũng nói là ý thầy Tuấn khuyên Tùng nên tranh thủ làm xong sớm luận án để về giải quyết các công việc ở nhà. Không mạo hiểm. Tùng tranh thủ ở lại để chạy chương trình máy tính vì trong năm xếp hàng ở trung tâm máy tính lâu quá. Anh muốn kết thúc nhanh đề tài để bảo vệ sớm, để về Việt Nam. Bố cũng già ốm, người con gái yêu anh đang bơ vơ,cần anh về và hơn nữa anh phần nào thấy lạc lõng trong cái xã hội Liên Xô này quá. Nó không như xưa, thời sinh viên ấy. Nhìn khuôn mặt của những người dân thấy rõ. Họ mệt mỏi và mất hết lòng tin vào những khẩu hiệu, nhưng lời nói tốt đẹp có cánh rồi.

Mùa hè ngày lâu hơn gấp ba bốn lần mùa đông. Tùng cũng có nhiều thời gian hơn. Bây giờ thành phố Kharkov như vắng hẳn. Các sinh viên về nghỉ hè hay đi lao động kiếm tiền. Ký túc xá cũng chỉ còn mỗi anh. Nhìn xuống dưới sân vắng ngắt. Trường Bách Khoa Kharkov những năm Tùng học đại học có đến hàng trăm sinh viên Việt Nam thì bây giờ ngót nghét chỉ chục cậu và sống rải rác các ký túc xá khác nhau. Ai hợp với ai thì chơi, đến với nhau và đi buôn với nhau. 

Tùng tranh thủ ở lại để chạy chương trình máy tính vì trong năm xếp hàng ở trung tâm máy tính lâu quá. Anh muốn kết thúc nhanh đề tài để bảo vệ sớm, để về Việt Nam. Bố ốm nặng, người con gái yêu anh đang bơ vơ,cần anh về và hơn nữa anh phần nào thấy lạc lõng trong cái xã hội Liên Xô này quá. Nó không như xưa, thời sinh viên ấy. Nhìn khuôn mặt của những người dân thấy rõ. Họ mệt mỏi và mất hết lòng tin vào những lời nói tốt đẹp có cánh rồi

Khi Tùng sang vội vã và kín đáo nên ngòai túi xách đựng mấy đồ thiết yếu anh cũng không có hành lý hàng họ gì. Lúc đến sân bay Moscva anh còn xách hộ mấy túi đồ và một cái đài Sterio cho một cô sang công tác về phép ngồi bên. Cô ấy biếu anh luôn 50 rup, hơn cả học bổng một tháng của một nghiên cứu sinh. Anh xin địa chỉ và hứa sẽ trả lại. Cô ấy cười nói số hàng qua lọt qua gấp 30 lần số tiền ấy. Cô ấy đã để sẵn gấp đôi để lót tay hải quan và còn sợ không đủ. Sang đây với số học bổng ít ỏi và giá cả leo thang của xã hội Soviet trì trệ này anh  cũng không có tiền để mua quà, thuốc hay hàng gửi về nhà cho bố mẹ.

Vừa qua Hải đóng hàng gửi về có gửi thêm cho Tùng một ít đồ có giá trị kinh tế để Hằng chuyển cho bố mẹ Tùng. Cái đó thực ra là nhỏ với các nghiên cứu sinh khác nhưng cũng mất đứt hai tháng học bổng của Tùng. Anh quyết định tranh thủ tháng hè đi lao động kiếm tiền. Có điều chuyện xảy ra ngòai ý muốn lại là chuyện tình ái, cái chuyện mà anh không thể viết thư kể cho Hưng hay cho ai khác. Con người cứ tưởng hiểu hết mình khi chưa đến ngã ba. Tùng cũng vậy.

Trường Đại Học Bách Khoa Kharkov là một trường Đại học lâu đời với 17 tòa nhà nằm trong một khuôn viên với những hàng cây, ghế tựa và các bức tượng. Mỗi tòa nhà sơn một mầu. Tất nhiên “ Nhà Trắng “ là của ban giám đốc và thư viện. Khoa của Tùng là tòa nhà mầu nâu vàng. Phía sau tòa nhà mầu nâu của khoa Hóa là một rừng cây, lại có con đường con rất dốc mà tiếng Nga gọi là “ đường chó chạy” xuống một con đường to có tầu điện chạy dọc và các nhà máy. Đất nước Soviet to lớn với một nền công nghiệp công kềnh, cũ kỹ luôn thiếu lao động thô sơ. Khắp nơi treo biển cần người làm việc. Tùng chọn ngay cái xí nghiệp gần trường nhất, xí nghiệp dược. Đứng chờ ở phòng bảo vệ một lúc thì có một ông đầu hói ra gặp anh vỗ vai, ngắm nghía trước sau rồi nói: “ Được, về với tớ, đội bốc vác, lương công nhật cao “.

Xí nghiệp dược cũng nhỏ. Ở đây chủ yếu là phụ nữ. Đội bốc vác có bẩy cậu, thêm Tùng là tám. Tùng làm quen thân rất nhanh với mọi người trong đội qua chai Vodka, mấy quả dưa chuột muối và miếng bánh mì của cậu đội trưởng. Tùng khá to cao, cũng còn hơn cả mấy cậu Tây trong đội. Họ lên ô tô tải đi xa đến nhà kho tận ngọai ô thành phố bốc các bao tải nguyên liệu về rồi chất vào kho. Anh nào anh ấy miệng cũng sặc mùi rượu chua. Lúc xe đỗ Tùng tranh thủ chạy mua thêm rượu bánh mì, giò, dưa chuột để làm lễ ra mắt buổi trưa. Buổi trưa mỗi người chọn một chỗ trong nhà kho. Do uống rượu và bê vác đã mệt Tùng ngủ say đến lúc được gọi bật dậy để làm chiều, đi bê dọn sắt thép. Có điều anh bỗng  cảm giác có cái gì khác, hẫng hụt. Tùng bỗng sờ các túi, rồi nói đi vệ sinh và chạy lại nhà kho, ngẩn người ra tìm quanh. Chiếc ví tiền còn mấy chục Rup và cái ảnh chụp chung với Chi đã mất từ hồi nào. Anh nhớ mình đã cho vào túi ngực và cài cúc cẩn thận rồi, lúc vào hiệu mua đồ ăn thì đi cùng Vanhia. Con mắt tay này nhìn anh có cái gì là lạ khi đó.

Chiều hôm đó Tùng không về nhà ngay. Anh đi bộ ra chợ trung tâm. Trong túi không còn đồng nào mua vé để đi tàu điện nữa. Ở cuối chợ có cửa hiệu nhỏ chữa đồng hồ. Cậu béo có chiếc răng vàng trong bộ quần áo bò đang định đóng cửa hàng. Anh đến chơi bọn sinh viên nghe chúng nhắc đến cậu Petka đồng hồ ở chợ này, là mối tiêu quần bò, đài, đồng hồ, hàng họ. Tùng  tháo chiếc Rado Nụ mới gửi sang cho anh và nhận tiền, không mặc cả. Cũng hơn ba tháng học bổng của anh.

Giải quyết xong chuyện tiền nong anh cũng không lên tàu điện và lại đi dạo bộ trên phố Sumski rợp bóng cây về nhà. Có chiếc xe bus đi qua. Một bàn tay vẫy anh. Một đôi mắt biếc. Một nụ cười thân quen. Hôm nay anh đã nhìn thấy cô nàng này trong sân nhà máy, trong cái áo blouse trắng với đôi chân đẹp tuyệt. Anh bỗng thấy cái thành phố này thân quen quá. Nó cơ nhỡ cũng như anh. Có người cơ nhỡ, sẽ có người cảm thương. Người cơ nhỡ có thương nhau không nhỉ. Anh thì có và thấy mình cũng lạ. Cũng không trách ghét gì Vanhia cả. Một phần tại mình không cẩn thận thôi. “ Người tốt là người không cơ nhỡ, không cần, không  có cơ hội hoặc quá bận để làm điều xấu mà “. Hồi còn sinh viên Vova sống cùng hay nói vậy. Có thể nó có lý. Hình như Vova đi làm tận Viễn Đông sau khi tốt nghiệp rồi.

Anh cũng không thấy áy náy về tấm ảnh chụp cùng Chi bị mất. Có lẽ một phần do bán xong chiếc đồng hồ Nụ gửi. Thực ra đằng nào cũng bán vì Nụ gửi sang nói để anh bán lấy tiền mua thuốc cho bố. Ngòai ra Nụ còn ghi thêm một số tên thuốc có giá trị kinh tế cao có thể bán ở Việt Nam để anh tìm mua. Anh nhận được thư và chiếc đồng hồ đó mà mãi chưa  bán. Đeo trên tay anh cảm thấy như có cô bé ngày nào vẫn còn ngồi dưới gốc đa đợi mình, vẫn thấy quê hương, bố mẹ ở bên và hơn nữa thấy chính mình, cái cậu con trai 17 tuổi đó. Lúc đó cậu bé chỉ thèm ăn no, ăn bao nhiêu cũng thấy đói. Lúc đó mọi việc thật đơn giản như những bức ảnh đen trắng. Thế giới con người cũng vậy. Chỉ có hai mầu trắng và đen. Và cũng lạ, vừa mất ảnh Chi, hôm nay bán xong chiếc Rado đi anh lại thấy lòng nhẹ bỗng. Đến gần nhà có hiệu thuốc anh rẽ vào mua luôn mấy lọai thuốc có theo thư của Nụ.

Tối hôm đó Tùng ăn tạm hộp mì sợi nấu xuông với cà chua. Sao anh lại ăn rất ngon miệng. Tùng lấy số Vitamin B6 vừa mua xếp vào vừa khớp hộp mì, dán miếng giấy trắng có địa chỉ và tên người nhận với ba dấu chấm nặng nắn nót Đặng Thị Nụ. Sáng mai ra gửi bưu điện. Xong rồi anh lấy chương trình máy tính ra và xem lại cái vòng lặp trong đó. Thuật tóan có gì không ổn định. Tâm trí anh lại dành hết vào chuyên môn. “ Người ta sống không băn khoăn, buồn lo vì không có cơ hội hoặc quá bận để dành cho những cái băn khoăn buồn lo đó “ . Anh sực nhớ đến bài giảng của thầy Vật lý khi nhắc đến công thức của một nhà bác học Thụy Sỹ với câu nói: “ Tôi tự hào là công dân của đất nước nhỏ bé để không làm ra những ngu ngốc lớn “ 

13.

Một tuần làm việc tuần trôi qua trong xí nghiệp cũng nhanh. Anh cũng không để ý đến cậu Vanhia nữa, coi như không có chuyện gì. Anh nói dối là sinh viên thôi chứ không lộ ra là nghiên cứu sinh và phần nào cũng được mọi người trong đội kính trọng. Tất cả trừ ông đội trưởng không gọi anh là Tùng mà gọi là ông sinh viên. Sasa phát hiện ra là cái cô dược sỹ ở tầng hai rất hay ra tựa cửa sổ nhìn xuống sân, xuống Tùng khi ô tô đến dỡ hay khuân hàng. Thế là họ thông qua rất nhanh ý kiến cử Tùng lên xin cô gái cồn về pha uống cho đỡ rượu và nhiều việc bốc vác họ sẽ làm hộ phần ông sinh viên. Cái đó Tùng làm không khó. Cô gái tên là Liuba, cái cô nhìn anh từ xe bus ấy.

Công việc của đội khuân vác cũng có tùy lúc. Nếu không ra kho xa bốc hàng, nguyên liệu về thì công việc chính cũng chỉ là dọn dẹp chỗ nọ ra chỗ kia, chuyển đồ từ xưởng nọ sang xưởng kia và dỡ hàng từ ô tô vào kho trong xí nghịệp hay xếp các kiện thuốc vào các Conteiner. Trong những lúc rỗi không có việc thì cả đội ngồi chờ trong phòng. Tùng thì hay đọc truyện còn mấy cậu thì tán gẫu, ngủ, hút thuốc và chơi cờ. Đội trưởng Valerie thì luôn chúi đầu vào tờ báo “ Bóng đá “ và bình luận tin tức với Sasa.

Đột nhiên một buổi trưa đầu tuần có tin ban thanh tra xí nghiệp vùng xuống kiểm tra. Ông đội trưởng lại vắng vì lý do đi thi. Chẳng là ông đang theo học một lớp Đại Học Tại Chức về luật. Sasa thay ông ta cùng mọi người bỏ giờ nghỉ trưa đi thu dọn gấp những đống gỗ, hòm, sắt thép ở sân cho nó đỡ chướng. Trừ Tùng ra còn ngay cả Sasa cũng nồng nặc mùi rượu. Nhìn cảnh Vanhia vác cái hòm gỗ vừa đi vừa múa như trong phim của hề Charle chị em chạy hết ra các cửa sổ đứng xem, cười ngặt nghẽo. Tùng càng thấm thía câu tiếu lâm “ Người Do thái khuân vác “ mà anh được nghe lúc mới đến học ở thành phố Kharkov này năm xưa. Thành phố Kharkov rất nhiều người Do Thái. Trong tiểu thuyết “ Thép đã tôi thế đấy “ nổi tiếng một thời nhà văn Nicolai Ostrovski đã kể về trận càn Do thái ở thành phố này. Trong đội khuân vác mọi người rất hay chửi bậy, nói tục và một trong những câu chửi thường trực của họ là “ Đồ Do thái “. Với những người ít học, lao động chân tay kiếm sống thì hình ảnh Do Thái gợi lên những ghen ghét đố kỵ. Dân Do thái đi đâu họ cũng dựa vào trí thông minh, tính tóan và đặt ra mục tiêu, thích làm những việc nhẹ nhàng trí óc mà mang lại nhiều lợi lộc nên bị người ta ghét. Nghe những câu chửi đó anh có chút chạnh lòng. Các thầy giáo của anh nhiều người gốc Do thái. Trước hè anh tình cờ gặp giáo sư Steivolf trong lúc đi dạo ở vườn hoa trong trường. Ông là người đã dậy anh thời sinh viên năm thứ ba. Người thầy gốc Do Thái khuyên Tùng mỗi ngày viết 1 trang. Viết gì cũng được, càng có yếu tố ngẫu nhiên nhiều càng tốt, một cách học, một cách Thiền, một thói quen của một dân tộc kỳ diệu. Sau một tháng bỏ một ngày xem lại, vứt đi gần hết, giữ lại hai trang thôi. Cái đọng lại sẽ là kho báu tri thức của riêng mình. GS cũng nói về cách biến mọi thứ phức tạp về đơn giản bằng cách quy mọi thứ về ba điều và việc học sẽ tự nhiên như nó đúng ra phải như vậy, tự nhiên như hơi thở. Bằng cách đó sau hai ba năm sẽ có được một cái tương đương một luận án Phó Tiến sỹ. Tùng đã cố gắng làm theo lời khuyên của Giáo sư. Chắc là hôm nay anh sẽ viết được hai trang ba ý về trí tuệ và cơ bắp. Mỗi dân tộc, mỗi con người có một cách tồn tại khác nhau. Dân Zigan ngược lại với dân Do thái thì lại không có chữ viết, không cần. Họ tồn tại qua các bài ca, điệu nhảy, lòng tin và tôn giáo. Nhiều người lao động ở Liên xô tồn tại qua rượu. Rượu làm người ta quên đi những lo âu trăn trở trong cuộc cuộc sống, những câu hỏi cho tương lai, làm người ta dễ gần nhau hơn, dễ bỏ qua cho nhau.

Tùng cũng lúi húi khuân dọn và có cảm giác là đôi mắt của Liuba từ trên cửa sổ đang dõi nhìn anh. Bỗng dưng có chiếc Lada màu đỏ phóng vụt đến và một người trẻ tuổi bước ra. Ông kỹ sư phó giám đốc kỹ thuật. Ông ta ngắn gọn đưa ra các mệnh lệnh cho đội khuân vác để không bê chỗ nọ ra chỗ kia rồi bê chỗ kia ra chỗ nọ lại nữa. Chỗ nào vẫn để nguyên đấy và chỉ xếp lại cho gọn vào rồi dồn cả đội khuân vác kiêm nghệ sỹ xiếc đó lên tầng thượng, nhốt lại cho khuất mắt đòan kiểm tra. Ông trưởng phòng tổ chức giới thiệu Tùng. Ông phó giám đốc bắt tay anh và nói : “ Chào anh bạn Việt Nam, tôi cũng tốt nghiệp KPI ( Viết tắt của Đại học Bách khoa Kharkov ), bảo trọng nhé và đứng đây chờ nhé “, rồi bỏ đi lo đối phó với đòan thanh tra sắp đến. Một lát ông trưởng phòng tổ chức quay lại đến tìm Tùng, dẫn anh lên kho sản phẩm dược ở trên gác và nói: ” Từ hôm nay anh sẽ ở đây do cô này phụ trách. Giúp họ xếp các hộp thuốc theo ô, theo lọai và thả theo máng xuống các xe nhận thuốc. Tiền lương vẫn thế “. Cô này chính lại là cái cô Liuba.

Liuba đến từ Lvov, miền Tây Ucraina giáp Ba lan. Các cô gái ở vùng đó lại nhỏ nhắn xinh đẹp chứ không như người Nga, nhiều cô to cao. Tất nhiên cô Nga nào mà đẹp thì rõ đẹp. Liuba đứng chỉ đến vai Tùng. Mái tóc vàng bồng bềnh với đôi mắt biếc, má bầu, các đường cong rõ như các cô nàng trong chuyện cổ tích xưa. Tùng làm thân rất nhanh với các chị em ở xưởng dược trên đó và vẫn duy trì được lượng cồn cung cấp cho đội khuân vác của mình. Liuba mỗi ngày rót cho anh một lọ con để đưa cho Sasa. Cô gái nói:

- Hồi xưa nước Nga hoang dã mê muội lắm anh ạ. Đến vua Pie Đệ nhất thì mới khác đi. Vua quyết định cho người đi sang Tây Âu học hỏi và bắt chước. Có người về bảo ở Tây ban nha trong cung đình họ uống Cafe mang từ châu Mỹ về. Thế là vua cho mua Cafe từ xứ sở bò tót mang về xay pha đun nấu rồi bắt mọi người uống từng vại cái nước đen đó, lại không có cho đường. Đắng mà ai cũng phải khen ngon, không được kêu và sau đó vua quan đều mất ngủ. Còn nữa, thấy họ chê người Nga ăn tỏi nhiều quá, hôi miêng. Thế là vua họp triều cho một người đứng ngửi miệng các quan. Ai có mùi tỏi bị phạt nặng. Rồi thấy bảo trong triều đình Tây Âu các quý bà mặc váy dài 1mét quét đất, vua bắt dự triều các quý bà phải mặc váy dài 2 mét. Kỷ lục là 10 m đấy. Riêng nghe thấy nói là ở phương Tây họ chê người Nga uống rượu say bét nhè thì vua lờ đi.

-Anh cũng đi nhiều nơi ở nước Nga và cả ở những nước cộng hòa của Liên bang và thấy nhiều dấu ấn của vua Pie. Nhưng kính phục nhất chiến thắng của vua trước Thụy điển để nước Nga có được cửa ngõ ra biển Bắc và sau đó là chiến thắng quân Thổ ở Crimea để có được cửa ngõ ra Địa Trung hải, để nước Nga thông thương với thế giới văn minh.

-Vua còn bắt các quan lại, quý tộc học nhảy Valse để có những dạ hội cung đình xa hoa anh ạ. À anh có thích nhảy Valse không. Cuối năm có nhiều dạ hội nhảy Cổ điển ở các nhà máy chúng mình đến chơi nhảy Valse nhé.

- Ký túc xá của anh tối thứ bảy, chủ nhật nào cũng nhảy Disco, nhún nhảy theo nhịp mà. Anh cũng xuống chơi vui, cũng chỉ biết lắc lư thế này.- Tùng rời cái xe đẩy và nhấc một chân lên nhún nhảy, lắc vai. Một lúc anh lại giơ chân lảo đảo bắt chước điệu nhảy hề Charle của đội bốc vác say rượu hôm nọ, cái điệu nhảy mà nhờ nó anh được lên đây, làm nhàn lại gần cái cô gái xinh đẹp này.

Liuba sung sướng cười vỗ tay. Má cô ửng hồng, mắt long lanh. Cô gái nói:

-Em cũng thích Disco, nhưng Valse nó khác lắm. Nhảy xong nhớ mãi, nhớ giai điệu, nhớ người. Chiều nay không phải ngày xuất thuốc. Lúc rỗi mình ra góc vắng này em dạy anh nhé, có 3 bước tiến, 3 bước lùi theo nhịp 3 là 123. Một lát là xong mà.

Và buổi chiều trong góc nhà, sau các hàng chồng thùng thuốc dán mark Penecillin, Filatov là đôi trai gái đang trốn học Valse. Trong phòng còn một phụ nữ trung niên nhưng bà ta hiền lành và đối với Liuba rất chiều. Lúc rỗi việc bà hay ngồi đọc truyện. Nghe Sasa nói bà xưa là cô giáo bị sa thải.

-Anh nghe nhé. - Liuba bắt Tùng ngồi và đi lại khoa tay, dáng rất nghiêm túc - Đầu tiên là Vũ điệu Valse Vienne này thịnh hành ở Áo Hung cùng với các bản nhạc nổi tiếng của Strauss mà anh chắc nghe rồi ……Từ " Valse " trong tiếng Đức cổ nghĩa là " uốn chao ", " xoay " hoặc " lướt đi ", là một điệu nhảy cổ điển theo nhịp 3/4. Đến cuối thế kỷ 18, điệu nhảy này mới được tầng lớp quý tộc châu Âu chấp nhận dù có gặp sự chống đối của các vũ sư chuyên nghiệp. Các ông thầy dậy nhảy nhận thấy sự đe doạ của nó đối với nghề nghiệp của họ; vì nó quá đơn giản, chỉ có quay 123, rất dễ học và vui chơi không như các điệu nhảy quý tộc khác có quá nhiều bước lẫn việc thay đổi khoảng cách và cách di chuyển của người nhảy. Có ít bước thế thì làm sao kiếm được tiền. Họ lấy cớ là Valse xét trên phương diện đạo đức thì không đứng đắn vì hai người cứ ôm nhau mãi không rời. Tất nhiên họ thua vì như thế thì nhiều người càng thích kể cả nữ hòang Victoria nước Anh.

Cô nàng nói say sưa về Valse còn cậu học trò thì đần ra ngắm cô. Cô bắt đầu dướn người đếm nhịp và quay. Mỗi lúc cô nàng quay dướn lên chiếc blouse trắng lại bung vạt ra khoe thêm một chút đùi tròn trắng nuột. Thế rồi cũng đến lúc Tùng phải đứng dậy làm theo lời cô gái:

-Đứng thẳng, vươn thân, tay phải thế này, sau lưng em, chỗ này, áp vào anh. Tay trái cầm tay phải em, co lại khi đông người còn vắng duỗi ra nhé. Đừng nắm chặt thế em đau. Nói chung phải linh họat. Chỗ nhảy đông người tốt nhất đừng khuỵu đầu gối mà cứ thẳng chân cho đỡ nhấp nhổm, sẽ để thân dẫn chân mà. Chúng ta sẽ không nhảy bằng chân mà bằng trái tim, nó sẽ đưa ta đi – Liuba lại gỡ buông tay Tùng rồi đi lại quanh ngắm nghía anh – Anh cứ đứng thế nhé. Nào nhìn em.

Valse cũng như bất kỳ điệu khiêu vũ nào trừ Tango ra đều thực hiện chuyển động cơ bản là chuyển trọng tâm từ chân nọ sang chân kia. Sau mỗi chuyển động trọng tâm là rốn rơi xuống một chân. Cái chân trụ đó như một cái " ghế ảo " đỡ toàn thân. Cái ghế đó có thể xoay hoặc trượt. Trượt được thực hiện cùng với chuyển trọng tâm sang chân kia. Nếu hiểu được như thế thì khiêu vũ nhàn lắm và con người có thể nói với nhau bao chuyện anh ạ. Bây giờ anh nhìn em nhé- Liuba nhìn Tùng chăm chú, ánh mắt như còn đi xa hơn rồi cô gái vừa làm động tác vừa nói tiếp:

- Nghiêng người để trọng tâm cơ thể là rốn rơi xuống lòng bàn chân trái, rồi thực hiện tạo ghế ảo trên chân phải. Bắt đầu “ xình “ một cái lấy đà xoay vai vặn phần thân trên hông sang phải cùng bước chân phải lên bằng gót bám sàn dọc theo đường nhảy để kéo cái thân lên rồi hãm hông phải để tao trục quay là cái chân phải duỗi thẳng cứng. Thân xoay quanh nó làm chân trái bị kéo văng li tâm duỗi ra. Cứ cho quay hết góc đã rồi nghe “ chát “ cái phách tiếp là chuyển cả trọng tâm người sang chân trái, rồi tự độ dướn thân kéo chân phải thẳng căng đưa mũi về cạnh mũi chân trái. Phách “ chát ' cuối hãm dừng sẽ làm thân xoay thêm chút rồi hạ xuống cả bàn. Tóm lại là ở phách một là phải quay hết luôn nửa vòng, hai phách sau chỉ là chuyển động ngang của thân với duỗi chân và thu chân.

Làm chậm đã cho chắc rồi mới nhanh dần theo nhạc. Ngay từ đầu lo nhanh theo nhạc sẽ méo mó xấu lắm. Nhảy sai, chậm không kịp nhạc là do mình chưa vững chưa thạo thôi. Nhảy thạo sẽ ổn. Còn nhảy hỏng trọng tâm méo mó là thành tật, khó có thể sửa đươc. Cứ tiến và lùi xong mình sẽ thực hiện đầy đủ một vòng Valse và sẽ chuyển động theo đường nhảy thẳng. Nhưng trên sàn đông người mình khó quay hết một vòng, sẽ bị chệch đường và tệ hơn là mất thăng bằng. Có thể khắc phục nhờ bước chạy thẳng cũng rất đẹp. Lúc đó anh sẽ lái em nhé. Sẽ chạy trên mũi và dướn thân bay lên rồi chao nghiêng lấy lại thăng bằng và trở về đường nhảy.

Bước tiến rất quan trọng anh ạ vì nó chủ động phát lực và dẫn hướng. Bước lùi thì chủ yếu là thăng bằng chuyển trọng tâm thôi. Ở bước tiến anh lưu ý là lên bằng gót chân phải, chuyển thân theo luôn rồi chuyển tiếp từ gót sang mũi sẽ cho ta xoay được một góc một cách mượt nhẹ nhàng. Đây là chìa khóa quan trọng nhất của sự xoay dựa vào nâng hạ mũi gót nhờ khớp cổ chân chứ không chùng kiễng bật như lọai nhảy thể thao.

Tùng chăm chú nhìn chuyển động của Liuba rối nhắm mắt hình dung trong đầu. Anh bảo cô gái làm lại. Khỏang 5 lần chuyển động trong tâm thức đã trùng với cái có thực, anh đứng lên và làm ba bước tiến. Liuba sướng quá nhẩy cẫng lên kêu : “ Mẹ ơi, con gặp được Thiên tài “.

Tiến thế ổn rồi. Liuba tiếp tục. Cô bắt đầu vội để còn kịp kết nối, để có trong vòng tay người con trai Việt Nam hiền lạ này. Cô nói:

-Sang bước lùi thì ngược lại anh nhé. Nói chung người lùi thì nên chậm hơn người tiến và hai chân gần hơn vì chân người tiến là ở ngòai, lùi ở trong. Chỉ cần bàn chân hai người luôn tìm đặt cạnh nhau.

Tùng lại chăm chú nhìn chuyển động của Liuba rối nhắm mắt hình dung trong đầu.

Đến cuối giờ họ đã ôm nhau đi Valse và rồi trong vòng tay Tùng cô gái Ucraina đã không còn phải đếm “ a đin, đờ va, tờ ri ( một hai ba – Tiếng Nga nữa ) “. Em hát. Giai điệu Valse thường có trong các bài ca Nga, Ucraina. Các bài ca đó thường là buồn man mác như cảnh thiên nhiên đồi núi của đất nước Ucraina này, mong manh như Tình yêu vậy.

Vì sao thế liễu xanh ơi

Bên dòng vắng cứ âm thầm

Phải chăng có cây thông kia

Xuống đứng bên liễu hết buồn

Mà thông có biết cho đâu

Mặc cứ đứng giữa lưng đồi

Dù sỏi đá hay bão giông

Thông vẫn reo với mây trời

Và khi bài ca ngừng, hai người còn đứng mãi. Liuba áp đầu vào ngực anh. Tùng buông tay cô gái để vòng ra sau lưng cô. Anh cúi xuống hôn nhẹ vào mái tóc vàng, hít thở mùi tóc của người con gái xứ Âu. Liuba ngảng đầu nhắm mắt đợi chờ.

Năm tháng sẽ qua đi, họ sẽ không gặp lại nhau nữa, sẽ già đi, sẽ có con có cháu, nhưng điệu Valse và cái hôn do Valse ấy sẽ mãi là một kỷ niệm đẹp nhất trong cuộc đời họ.

Còn Tùng sau này cũng không hề viết kể gì cho ai, kể cả Hưng về cô gái có tên là Tình Yêu đó ( Liuba – tiếng Nga là Tình Yêu ), về điệu Valse Vienne học được. Có lúc mỗi mình ở trong phòng hay nơi vắng anh lại nhớ Valse. Anh lại đứng, lại quay Valse một mình như hôm nào ấy, lại vẫn có cảm giác xưa, không mất.

Trong Valse lả lướt chao xoay

Có ai đang ở vòng tay thật rồi

Cái nhìn trốn, hơi thở đòi.

Vẫn giai điệu ấy không thôi, không dừng.

14.

Trong phòng ký túc xá cán bộ ĐHBK có Quân và Hưng đang chơi cờ vua và trò chuyện về cuộc đời:

- Sao , nghĩ lâu thế , ăn quân nào thì nhấc đi. Ông nghĩ lâu quá.
- Thôi được - Hưng ăn tốt đen.
- Có thế chứ, ông Tùng nhà ta bên kia cũng đến lúc phải quyết rồi. Một bên em Nụ, một bên là em Chi, may mà chưa có em Lá, em Hoa nào mữa, không thì nhà khoa học kiêm nhà thơ này có cả một Vườn Em, càng rối tinh lên. Chữ Tình bên chữ Hiếu, chữ nào nặng hơn. 
- Chữ Hiếu còn được kèm thêm chữ Nghĩa nữa chứ. Hôm vừa qua anh em bộ môn đi dạy tại chức Thanh hoá về ghé qua Nam định thăm nhà Tùng. Ông cụ ốm nặng, may cô Nụ đến tiêm thuốc đúng lúc chứ không là đi rồi. Nghe nói vừa qua bà mẹ lên Hà nội cắt thuốc nam cô Nụ cũng đi cùng cứ như là con dâu rồi ấy. Còn sự nghiệp khoa học, còn công việc giảng dạy sau này. Hiếu nghĩa là thuận, tình bị coi là nghịch. Kiểu gì cũng phải theo chữ thuận thôi. Ông Hải cũng viết thư nói là bên ấy Tùng có vẻ nghiêng về bên cô y tá xã có đôi mắt lá dăm đó rồi.
- Ngụy biện của mấy anh trí thức ông Quân ạ. Thực chất là tự lừa dối chính bản thân mình và bào chữa cho sự hèn nhát, tham danh và phản bội. 

- Biết làm sao khác được, không còn là " hòan cảnh của con người " nữa mà người Việt mình ngược lại từ bao giờ đã là những " con người của hòan cảnh " rồi. Có phải ai cũng nghĩ và làm được như ông đâu. Trong cuộc họp xét duyệt vừa qua mà dám rút đề tài nghiên cứu của mình để dồn kinh phí nghiên cứu khoa học cho người khác. Tôi phục ông. Nếu tôi là nhà văn tôi sẽ viết về những người như ông, như ông Lịch.
- Về ông Lịch thì người ta viết rồi, về những người trí thức trẻ tuổi rời bỏ thành thị về xây dựng nông thôn. Còn về tôi, một anh trí thức gàn dở không thức thời, một chút sót lại của sỹ phu Bắc Hà ngày trước thì viết làm gì, ai đọc. À ông viết về Chi đi, về tình yêu, về mối tình đầu của người con gái đi, cái đó bõ viết . Alecxây Tôn xôi cũng đã viết trong tiểu thuyết “ Con đường đau khổ “ đó: “Năm tháng sẽ trôi qua, những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét và sẽ chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại dịu dàng và chan chứa tình yêu thương…” Nhưng đấy là văn học Nga. Nhà văn ta làm sao họ viết hộ được, họ có sống cuộc sống của chúng ta đâu. Cứ toàn nghe lỏm, ăn theo nói leo. Cứ toàn nói theo đường mòn của văn chương, lý thì đúng quá mà cuộc đời có lý đến như vậy đâu. Hôm Sỹ Kháng ra chơi chẳng nói là cái món văn chương phục vụ quần chúng, phong trào ấy được đúc theo khuôn, được giảng trong các trường viết văn, các khoa văn cứ cốc nước chè người nọ ngậm vào rồi mớm cho người kia, nghĩ lắm lúc cũng thấy ghê ghê. Dân văn chương chuyên nghiệp họ khổ đấy.
-Làm sao được, họ ăn lương, sống bằng nghề văn mà. Họ không thể viết cho họ, vì họ được. Thêm nữa là họ vào gần nhau quá và họ tạo ra một thế giới quá chật, làng xóm của nền Văn Minh Lúa nước . Trong một cái làng ai cũng biết ai, không thích cũng phải chơi, chào hỏi nhau vì còn cỗ làng, hội làng. Gần quá, xít quá, chật chội quá thì còn khoảng cách nào cho yêu thương nữa, cho tưởng tưởng và tự do sáng tạo. Lo đối phó với nhau, diễn với nhau, lời ăn tiếng nói vừa lòng, khen chê, giải thưởng, phong trào là hết một đời văn.
- Thế thì chúng mình ngoại đạo sướng rồi. Viết cho mình, chiều chính mình đi. Ông viết đi, hồi còn sinh viên những truyện ngắn báo tường và kịch của ông hay thế , dịch, kể lại cho bà Irina nghe mà bà ấy còn khóc, còn súc động cơ mà. Viết đi ông , hãy nhớ câu thơ của cụ Nguyễn Du ” Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài “. 
- Được rồi, tôi sẽ thử xem.

Trong phòng mình Hưng đang ngồi trầm ngâm với bản thảo. Đã có dòng chữ “ Mối tình đầu “ trên cùng. Phần một là các trang giấy đã kín chữ. Hưng đọc lại, sửa, thêm bớt. Trong phòng tiếng nhạc “Liễu xanh” như đưa anh về cái hôm sinh nhật Hải xưa, có Tùng, Hải, Lịch, Nghị, Hằng và Chi, nhân vật chính của anh. Anh viết dưới dạng truyện phim. Cuộc đời như một vở diễn mà. Anh cũng là nhân vật. Nhân vật phụ. Nhưng chính anh là khán giả, anh có trách nhiệm ghi chép lại. Cái “ Quy Tắc Vàng của Darwin “ mà Freud đã học theo đó là “ ghi chép “. Giống như nhân vật Robinson Crusoe ấy, bị đắm tàu trôi dạt lên đảo hoang, lúc tỉnh dậy việc đầu tiên là lấy dao khắc tên mình lên cây để khỏi quên mình là ai và rồi ghi chép hàng ngày để sống, để biết mình còn, để có mình với mình...

Hôm nay anh thấy khổ sở, sao lại không viết tiếp được nữa, sang phần hai ấy. Cuối cùng anh viết, ghi chép lại chính quan sát và cảm giác của mình:

- Khi viết về tình yêu tôi say sưa, hạnh phúc như mình đang yêu vậy. Nhưng khi viết về sự tan vỡ tôi thấy đuối sức, không biết lấy đâu cảm hứng cả. Có lẽ vì thế tôi không thể trở thành nhà văn được. Tôi chỉ biết ghi lại những gì tôi biết, về thầy Tùng và cô sinh viên tên Chi thôi.

Mãi rồi Hưng cũng viết được một trang cho phần hai với tên “ Những ngọn sóng Soliton “. Thực ra trang đầu phần hai đó là một bài thơ anh viết khi đi coi thi Đại học ở huyện Diễn Châu. Anh có nó khi ra với biển một mình.

Hưng vừa ra bưu điện nhận quyển sách Tùng gửi về. Quyển sách tiếng Nga " Lý thuyết Tập Mờ " của nhà xuất bản Nauka. Anh tìm ghế ngồi ngay ở đó và mở đọc thư Tùng.

"... Sắp Cách mạng tháng Mười Nga rồi. Lại nhớ chúng mình hồi sinh viên xưa. Ngày hội, được nghỉ học, xuống sân chơi bóng, ngắm những đôi chân tròn đẹp, những nụ cười , bài ca ... trời đã lạnh nhưng rất thích. Rất nhớ cái hồi xưa ấy, khi nước ta còn chiến tranh, khi bọn mình sang học đây rất đông và con người hồi đó thân mật, nhân hậu quý nhau thế nào. Ra đường gọi nhau là " Đồng chí ". Bây giờ thì khác rồi. Chẳng thấy mấy ai dùng từ ấy nữa.

Cuộc sống ở đất nước Soviet này ngày càng khó khăn cùng với sự khan hiếm mọi thứ nhất là thực phẩm. Giá cả thì vẫn giống như xưa in ngay vào hàng hoá. Vẫn cái quyển vở carô dày chúng mình mua đi học xưa bìa sau in giá 48 Kopec. Chỉ có điều tìm mua đươc cũng khó. Người bán hàng phục vụ chậm chạp cứ như không muốn bán vì sợ hết hàng. Khắp nơi là xếp hàng vì thế mà nhiều người mang theo sách, truyện, báo tranh thủ đọc, học trong lúc chờ cho đỡ sốt ruột. Mãi rồi thành quen, mọi người cứ ì ra. Cả một dân tộc trở nên trì trệ. Chỉ có đi thì vẫn nhanh cứ như ma đuổi. Say rượu được Gorki kể khá rõ trong truyện " Người Mẹ " cho thời Nga Hoàng thì bây giờ cũng thế, thấy say rượu khắp nơi trong nhà máy, trong trường học và ngoài đường. Sau những ngày lễ ô tô cảnh sát lại đi hót các cậu say khướt nằm lăn vỉa hè, dưới gốc cây, trên tuyết. Họ say để không nghĩ đến ngày mai của họ ra sao.

Người Việt sang lao động đông lắm. Cũng chẳng phải họ thiếu nhân công mà là theo những hiệp định ký kết bên trên thôi. Làm thì ít, đi buôn thì nhiều. Nhiều chuyện xấu hổ lắm. Nhưng thôi, chuyện đó chẳng nói nữa làm gì, thêm buồn. Sang chuyện chuyên môn vậy.

Vừa qua mình đã tranh thủ lúc vắng người trong kỳ nghỉ hè này để chạy các chương trình máy tính trong Trung tâm tính toán của trường. Các kết quả cũng phù hợp với dự đoán. Như vậy có thể yên tâm về luận án. Tuy nhiên ông thầy muốn mình còn thời giờ tranh thủ đi tiếp sang lĩnh vực liên quan đến các yếu tố phi tuyến và sử dụng công cụ của Logic Mờ. Cái lĩnh vực này nó cũng mới do nhà toán học Mỹ giải thưởng Field năm 73 là Jadeh đưa ra. Thực chất nó là Logic của sự đan xen các tính chất chứ không bóc tách rõ thành hai phần đối lập như Logic nhị phân đúng sai, trắng đen mà chúng ta hay dùng. Chúng ta đã quen với khái niệm loại trừ nhau " Có và Không, Yêu và Ghét " và chỉ có thể thuộc về một bên hoàn toàn. Cái Logic này nó lại bao dung, cho ta thấy cùng trong ta tồn tại nhiều thứ tưởng như đối nghịch nhau. Ví dụ chúng ta yêu Việt Nam nhưng đồng thời lại yêu đất nước Soviet này. Trong chúng ta như luôn có giao mùa. Một sự vật luôn cùng một lúc thuộc về nhiều tập có tính chất khác nhau tất nhiên là với mức độ sở hữu khác nhau nhờ một hàm của Jadeh đưa ra mình tạm dịch là " Hàm sở hữu ". Mình gửi cậu xem và nếu có thể dịch ra tiếng Việt để gửi in thì tốt. Mình nghĩ người châu Á mình sẽ hợp với Logic mờ này hơn. Nó không cực đoan, khẳng định mà mềm mại, bao dung những khả năng để cùng tồn tại. Logic này được người Nhật tiếp nhận và ứng dụng thành công rất nhiều trong mọi lĩnh vực, trong cuộc sống, trong công nghệ đấy.

Ông biết thầy giáo tôi nói về cái Logic này thế nào không. Thực ra con người xa xưa có gì đâu nhiều. Chẳng có công cụ gì cả ngòai chân tay, đôi mắt. Cái gì cũng phải rón rén, phải thử, phải nếm đã. Thấy được, không chết mới dám đi tiếp. Đó chính là phép thử sai " Try-Error " thô sơ thời gian gần. Nhưng sau này ngôn ngữ, chữ viết có, phong phú thì con người có thể chia sẻ với nhau kinh nghiệm nên thường không thử nữa mà cứ dùng luôn những cái dù lần đầu, nhưng theo kinh nghiệm chỉ dẫn bên ngòai, cao hơn  thì theo một học thuyết, một tôn giáo, chỉ khi thấy vô ích hay có hại thì mới thôi. Tất nhiên tâm lý là rất tiếc, bơ vơ hoặc là khủng hỏang vì đi lạc quá xa. Cái " Try - Error " thời gian xa này đôi khi thấy cái sai thì đã muộn. Với Logic mờ này con người đã luôn chỉnh để khỏi phải đi lạc xa quá và phép " Try -Error "  xưa được trang bị thêm công cụ hiện đại này    ...."

Gấp thư lại kẹp vào quyển sách bìa cứng, Hưng đứng dậy về. Chợt trong đầu anh loé lên ý nghĩ là anh bạn mình chắc lại có thêm tập mờ nào nữa rồi. Đan xen ghê quá. Thảo nào ngày xưa các cụ " Đa thê ".

15.

Hưng, Tùng và Lịch học cùng nhau ở Liên Xô, tốt nghiệp về nước được phân về dạy ở trường ĐHBK Hà Nội. Sau này Lịch xin về công tác ở nhà máy cơ khí địa phương tại Nghệ An quê anh. Tùng thì đi nghiên cứu sinh. Còn lại mỗi Hưng.

Một lần Lịch ra Hà Nội giải quyết một số công việc, thăm bạn bè và thầy Tuấn. Thầy vừa bị đụng xe ngã phải bó bột một tay. Qua mấy dãy nhà tầng khu C tập thể Kim Liên là đến hẳn làng. Cái ngõ nhỏ với các tường cao. Nhà thầy khá to, một tầng, có sân vườn và cả ao với mấy cây dừa. Thầy Tuấn mừng rỡ:

- Thế nào hai bạn tìm nhà có khó không. Lịch trông lại có vẻ rắn rỏi ra. Về quê làm việc ăn cơm nhà, mẹ chăm có khác. Thế ra công tác hay ra chơi thôi.

- Dạ, em ra lo xoay mấy phụ tùng máy cho xướng em ạ. Thầy bị tay trái, cũng may.

- May thật chứ, cần cái tay phải để viết, giảng bài vẫn được.

- Thế mà bây giờ tay trái với nhiều người còn cần hơn tay phải đấy - Cô Vân vợ thầy mang nước chè tươi và khoai lang ra tiếp khách - Khoai nhà đấy.

Tất cả sung sướng ăn khoai, cô bóc cho thầy. Mảnh vườn nhỏ trước mắt, cạnh ao. Cảnh vật quen thuộc này ở Hà Nội thành lạ. Mọi người nói nhiều chuyện, loanh quanh lại đến chuyện tình yêu, chuyện Tùng và Chi. Cô Vân lại có khách. Hai cô sinh viên của cô. Cô dậy trường thương nghiệp tận Cầu Giấy. Cô là sinh viên của thầy Tuấn dạy, yêu thầy. Khi cánh phụ nữ đi vào nhà xong, thầy Tuấn nói.

- Thời mình với Vân nó khác. Bây giờ khác lắm. Với lại Vân cũng người tỉnh lẻ, gia đình cán bộ. Với chúng mình thực đơn giản. Còn bài toán của Tùng khác. Khác lắm các bạn ạ. Mình gặp may. Cuộc đời mình như có một con đường và mình cứ đi trên con đường quen thuộc và thấy yêu mến nó, không muốn xa nó. Vợ mình cũng theo mình, thích đơn giản.

Hưng biết họ mời thầy vào làm hiệu trưởng một trường Đại Học trong Nam nhưng thầy từ chối. Về chuyện Tùng thầy nói:

- Hoàn cảnh Tùng khác. Con đường đi của bạn ấy đến chỗ bị xé làm hai, ngã ba. Tùng phải chọn đi sang trái hay phải. Và nó khác cái thuật toán " Thử - Sai, Try - Eror " trong khoa học. Có điều con người không phải là một chất điểm cô lập. Có bao nhiêu ràng buộc, liên quan, nghĩa vụ, nhất là hoàn cảnh Tùng, con một, bố ốm....

Thầy không nhắc đến Chi. Lúc về Hưng bảo Lịch:

- Người ta gọi là mối tình đầu, ngụ ý còn có mối tình thứ hai, thứ ba, hay n nữa. Nhưng với Nụ thì đó là mối tình duy nhất của trẻ thơ. Ấy là với Nụ. Còn với Chi. Cũng đã qua rồi cái thời “một túp lều tranh hai trái tim vàng”. Hôm nọ mình thấy Chi đi với cái cậu Lâm Ba Lan ấy ở nhà hát lớn. Có lẽ như thế thuận hơn.

Trời nắng đẹp, ra khỏi nhà thầy Hưng đưa Lịch lên Bờ Hồ chơi. Bình thường mỗi tuần Hưng cũng phóng xe lên vòng hồ một lần, ăn hàng một lần cho đỡ quên là mình đang sống ở Hà Nội. Hôm nay anh kéo Lịch vào hiệu sủi cảo ở phố Tạ Hiện. Ăn xong hai người dựng xe ngồi ghế đá ngắm cuộc sống Hà Nội quanh bờ Hồ, ngắm người, ngắm gái. Lịch nói chuyện đã cưa xong một cô giáo cấp hai ở quê. Có lẽ sang năm cưới. Lịch quay sang hỏi Hưng:

- Thế cậu đến đâu rồi, không nói chuyện trai gái yêu đương cưa cẩm nữa mà chuyện lấy vợ ấy. Nếu bí quá thì về quê mình. Nhà cô bạn mình còn cô em đang làm ở bưu điện huyện ngay nhà. Nhưng cũng phải nhanh vì con bé cũng nhiều anh ngấp nghé lắm . Mình có kể về cậu thấy nó lắng nghe. Nhà chỉ có hai chị em. Cậu làm cọc chèo với mình thì coi như con giai luôn..

Hưng cười. Anh đang mải quay đầu nhìn ra đường. Hình như Nga ngồi sau chiếc Vespa vừa đi qua, bị khuất những xe khác. Em mặc chiếc áo xanh. Còn chàng trai toàn đồ trắng. Con trai Hà Nội. Không biết có phải cái cậu có ria mép hồi đó không. Hình như mầu xe khác. Hai người im lặng. Lịch biết Hưng yêu Hà Nội. Không hiểu có cô Hà Nội nào đang dây dưa trong lòng cậu con trai Nam Định này không.....

Hai chàng trai quay ra ngắm hồ. Đẹp thật, lại gió mát nữa, chỉ có ở đây, giữa lòng Hà Nội. Cũng có lúc gió dừng như lặn xuống lòng hồ để sóng yên đi. Các cây quanh hồ vẫn thế, những cành lá xanh, các loại khác nhau, quen thân quá. Lịch quay sang nhìn rồi đập vào vai bạn :

- Thôi đến giờ ra tàu rồi. Hè về với mình nhé. Có nhớ cái bài hát Nga xưa không về những người bạn cũ cùng binh đoàn ấy.

Hưng cũng như chợt tỉnh và cười đứng dậy khẽ khẽ ngân đủ cho Lịch nghe một chút bài hát Nga xưa mà ba đứa đã hát cùng hồi sinh viên:

Nếu bạn còn thiếu một cô nàng

Thì bạn ơi, xin bạn chớ buồn

Ở quê tôi – vùng đất giàu lời hát

Các cô gái thật đẹp mê hồn.

Hai người bạn dắt xe đạp xuống đường. Hưng lai Lịch qua Tràng thi, phố có nhiều cây bàng rồi qua Quang Trung, phố cây hoa sữa rồi dừng lại chút ở hồ Hale chờ Lịch chạy vào thăm hỏi người bác quen ở đó...

Hưng sang bên đường, cho xe lên vỉa hè tựa gốc cây sữa ven hồ đợi Lịch. Từ hồ Hale này, như thầy Tuấn nói, ngày xưa còn nhìn thấy cái mái sóng trên toà nhà chính của trường Đại học Bách khoa.

- Xong rồi, ra ga thôi - Lịch xuất hiện lúc nào.

Trên sân ga chờ tàu lại chuyện về gái. Lịch bảo:

- Nói cậu thời sinh viên học giỏi nổi tiếng là con Ngân thích lắm. Nó mơ một người chồng hơn nó một cái đầu trí tuệ, vẫn nhớ câu " Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy " mà các cụ dạy. Dân Thanh Chương mà. Trong chữ Yêu của đàn bà có sự NGƯỠNG MỘ rồi đến THÈM và THƯƠNG. Kể về cậu có một mình, không bố mẹ, họ hàng thân thích quê quán thêm nữa là mọi người cứ nao lên. Mẹ vợ mình là sốt ruột nhất, chỉ mong cậu vào chơi, cũng lại sợ cậu có ai rồi. Một cô Hà Nội nào đó.

- Thế gái Hà Nội khác à ? - Hưng tò mò hỏi.

- Khác chứ. Thực ra do hoàn cảnh kinh tế, văn hoá mỗi vùng miền khác nhau nên cá tính và quan niệm cũng có khác nhau ít nhiều. Hà Nội là thành phố chịu ảnh hưởng nhiều của Văn minh Pháp, nhà cửa, phố xá, công viên, kiến trúc, rồi sách vở, tiểu thuyết, thơ tình, phim ảnh, âm nhạc, nhảy đầm nữa, bao nhiêu cái mới Tây Tầu đủ cả. Con gái Hà Nội suy nghĩ tự do hơn, vì mình hơn, thích hưởng thụ, sống trong hiện tại nhiều hơn.

- Và yêu nhiều hơn. - Hưng kêu.

- Phần nào. Với lại ở Hà Nội thoáng hơn. Ở nhà quê có chuyện gì thì cả làng biết. Không dễ hôm nay yêu người này, mai người khác. Ấy là mình nói con gái nhà lanh chứ không phải các cô nổi loạn Thị Mầu đâu. Thị Mầu thì luôn sẵn, thèm khát cho nhận, Tình yêu như khách qua đường, ta không bàn. Còn phần đông gái quê vẫn hay yêu trong mơ ước đã. Tất nhiên đó là mơ những cái mà ai cũng thấy rõ cũng tính toán như con người, hình thức, học thức, tính cách, gia đình.

- Hà Nội cũng thế mà.

- Mức độ thiên lệch khác cậu ạ. Thực ra để lấy chồng thì có lẽ họ đều tính toán như nhau. Khác nhau một chút là ở cái Thương và rồi sau này là cái Nghĩa thôi.

- Con gái quê biết thương nhiều hơn.

- Họ thực tế hơn, có chồng và lo con cái, giúp chồng lo sự nghiệp cuộc sống tương lai, thông cảm với gánh nặng của người đàn ông hơn. Nhiều nơi họ nói từ Thương thay từ Yêu. Mà bọn mình đây sắp cưới rồi hình như hai đứa cũng chưa nói từ đó. Cứ ngường ngượng. Thôi để dành.

- Úi giời ! Thế còn gái Hà Nội.

- Cũng vậy mà. Nhưng mình đã nói họ bị ảnh hưởng ít nhiều văn hoá Pháp, thích hưởng thụ nhiều, chiều chuộng giải trí nhiều hơn. Tình yêu cũng bị những cái đó choán chỗ nhiều hơn. Cậu đọc Vũ Trọng Phụng và Merimee đi. Nên nhớ là yêu cô gái Hà Nội cậu sẽ có nhưng tình địch như Xuân Tóc Đỏ hay Don Juan đấy. Có thắng được không.

- Cậu nói nghe chán quá. Sợ lúc thắng xong chúng ta sẽ chán chính chúng ta.

- Có mà thắng được khối ấy. Không dễ đâu. Đẹp trai, học giỏi, sống có ích ư, vứt. Phải nhớ những ngày sinh nhật trước cô nàng thích gì, những bản nhạc này của ai, câu thơ này nữa, những cái mà người Hà Nội gọi là tinh tế ấy. Mấy anh Ivan quen chém to kho mặn lại hay bận bịu với chuyên môn khoa học sao lại được. Cái anh chàng Kim Nham lo chữ nghĩa sách vở học thi ấy, có lúc quên mất vợ là nàng Xuý Vân nhưng các loại Trần Phương nó không quên, rồi tán xong nó bỏ. Các nàng chỉ còn biết giả dại. Mà cũng chẳng biết dại vờ hay dại thật. Câu chuyện của trái tim mà.

- Tây cũng thế thôi, Natasa ấy, còn theo cả Anatole, bỏ Bolconski trước ngày cưới.

- Các tiểu thư đâu cũng thế thôi, tình yêu của họ mong manh lắm. Về quê mình đi, gái quê, yên tâm. Về làm là phù rể cho mình đấy rồi làm rể luôn vậy. Nu, paka ( thôi, chào - tiếng Nga )- Lịch nắm tay Hưng rồi nhảy lên tàu.

16.

Chia tay Lịch xong, Hưng chưa muốn về, rong xe đi lên Hồ Tây. Anh tìm được một chỗ yên tĩnh bên bờ hồ, có ghế, chéo bờ bên kia là trường Chu Văn An. Hồi mới về nước Hưng hay rủ Lịch, Tùng lên Hồ Tây ra phía sau trường bơi. Bờ đó bãi cỏ lại có trồng hoa Mười Giờ. Những bông hoa đỏ thắm cứ như trên trời cắm xuống chứ không phải mọc dưới đất lên.

Nhanh thật, mới ngày nào ba anh nhà quê đi học Liên Xô về Hà Nội, ngỡ ngàng. Tùng bây giờ đang ở trường cũ bên ấy, đang bò ra với các công thức, thí nghiệm và các môn thi dành cho Nghiên cứu sinh. Thời giờ còn lại lo mua hàng gửi về cho gia đình. Bố Tùng ốm nặng, mẹ phải ở nhà chăm, không chạy chợ được nữa. Có một cô ý tá cùng quê đỡ đần. Chắc sẽ lấy nhau thôi. Tình Yêu đẹp nhưng Tình Nghĩa bền hơn nhiều. Nó thật hơn.

Hưng lại nhớ lần mấy anh em rủ nhau về thăm bố Tùng đi cấp cứu ở bệnh viện rồi phải về ngay cho kịp công việc. Thế mà lúc ở bến xe, mọi người lên xe rồi, xe sắp chuyển bánh thì có tiếng gọi cuống lên :" Các anh ơi, các thầy Bách khoa ơi ". Nụ hớt hải chạy ra, mặt đầy mồ hôi. Rồi không biết nói gì, cô xin xe chờ mấy phút, mua vội một đống bánh gai, bánh mật ở quầy đưa chúng mình. Xe chạy, cô còn đứng nhìn mãi. Quân thì nói là nếu không có chuyện biên giới, nước nọ nước kia và Tùng đợi, Tùng gọi chắc cô nàng sẽ đi bộ sang với nó. Phúc thì nói :" Mẹ Tùng bảo Nụ nó mến Tùng từ bé mà, trước cả khi Tùng đi học ở Liên xô. Nó đợi, mong. Bao nhiêu người đến nó đều từ chối. Người ta đã đợi thì sẽ đợi được cả đời mà ". Trên xe Phúc còn hứng lên ngâm nga bài " Đợi anh về " của Simonov nữa.

Mải trở về với những ý nghĩ kỷ niệm về hai người bạn học của mình, Hưng bây giờ mới để ý còn có một người nữa ở ven hồ, một chàng trai có vẻ dân tỉnh lẻ, nhìn đồng hồ, nhìn trời, lúc thì vịn cây, lúc lắc đầu đi đi lại lại rồi bực dọc bỏ đi. Chắc đợi không được. Dân tỉnh lẻ hay sốt ruột. Lại hẹn hò gái Hà Nội chắc. Phải kiên nhẫn chứ, xách dép cho các Xuân Tóc Đỏ, Don Juan.

Hưng chợt thấy Hà Nội cũng giống một cô gái quá, còn chưa đầy đặn, không tự tin, cố giấu kín những run rẩy thèm khát, đam mê dưới cái vẻ kiêu xa, tinh tế của người Hà Thành mà nếu ở một nơi khác có lẽ sẽ bung ra để thành những cơn bão, để bù lại, để trao, để nhận, để nuốt chìm. Ở đây Em luôn nhớ, và giữ vẻ kín đáo, một chút dối lừa chính minh, luôn đến muộn trong các cuộc hẹn, luôn có các lý do, nhưng thực quyến rũ, cô đơn như không biết tựa vào đâu. Giá như... Thật nực cười, làm gì có phép mầu.

Sóng hồ chao, lại thấy cơn gió nhẹ, như câu thơ của Trần Sỹ Kháng, cậu bạn học cùng ngành nhưng năm dưới đọc hôm nào khi Kháng từ miền Nam ra công tác, ghé thăm.

Trăng thanh tao hao gầy

Tây Hồ sóng mờ say

Tóc mây buông gió lạnh

Mảnh mòn đâu bờ vai…

" Giá như cái cô Ngân em vợ tương lai của Lịch lại là cô gái Hà Nội ". - Ý nghĩ thoáng qua như chiếc lá ở đâu bay vèo qua. Hưng bỗng bật cười. Lại giá như. Hưng yêu Hà Nội. Lần đầu tiên Hưng lên Hà Nội là hồi hết phổ thông để tập trung đi học ở Liên Xô. Ba ngày ở trong trường Kinh Tế Kế Hoạch cho đến tối trước hôm rời quê hương Hưng rủ Nhớn trốn ra đi tàu điện lên Bờ Hồ rồi đi bộ về. Và Bờ Hồ ánh nước lung linh với các cô gái, rồi hàng cây đường Bà Triệu, mùi hoa Sữa đường Quang Trung, những đôi trai gái ngồi trên ghế đá ven hồ Ha Le đã đọng lại trong anh suốt những năm tháng đi du học đất trời Âu.

Mẹ có dặn Hưng là ở Hà Nội mẹ cũng có người quen. Mẹ đưa địa chỉ đến thăm chú thím Thư ở Ngõ Huyện, sau nhà thờ lớn. Chú học cùng ba Hưng, đi kháng chiến cùng nhưng sau bỏ về Hà Nội còn ba Hưng là tình nguyện quân sang chiến đấu bên Lào rồi hy sinh. Chú kể là chú dinh tê không phải vì đói khổ mà vì con người làm chú bị hẫng. Cũng không chỉ có chú,còn ông Phạm Duy, ông Hoàng Giác nữa. Hồi Nhân văn giai phẩm chú cũng dính nhưng không nặng lắm. Hưng thích đến chơi nhà chú để nghe đĩa nhạc Sterio chú có cùng Dung, cô con gái đầu của chú thím. Dung cũng thích nói chuyện về văn học nước ngoài. Dung hay chiều anh bánh ngọt tự làm với Cafe. Hưng thích lắm, nhất là lại có thể thấy Nga, cô em gái ra chải tóc ở sân để tiếng nhạc Sterio như từ mái tóc dài buông bay ra tràn ngập lòng anh. Nga học Trường Múa. Những lúc đó Hưng thường hay nhắm mắt lại để giữ hình em trong Tâm, giữ lâu không muốn nó tan đi. Dung thì lại nghĩ là Hưng đang thưởng thức nhạc.

Một lần Hưng đến chơi, cả nhà đi vắng còn mỗi Nga. Nga rủ chơi bài và Hưng thua phải để cho em véo tai như giao hẹn. Em véo nhẹ sợ Hưng đau. Lần sau được em thay vào là lấy tay rứt, kéo, lùa các ngón vào xoa tóc Hưng. Tóc Hưng đen dầy và xoăn. Hưng nhắm mắt. Nụ hôn đầu. Khi đó, năm năm trước, Hưng hai bốn còn Nga mười bảy. Bây giờ em hai hai.

Cái hôn đầu tiên và cũng là duy nhất đến bây giờ. Trên ghế đá chiều Hồ Tây này Hưng bỗng dưng lại nhớ, lại nhắm mắt, liếm môi và lại thấy nguyên Nó, Cái Hôn ấy, có môi Nga, cái môi dưới hồng trễ xuống, cái miệng em mở đón và vị ngọt của nước cái hôn. Hơi thở của em nữa, mùi em...và Hồ Tây, cây cối, nước, sóng, mọi thứ xung quanh như không còn hiện hữu, chỉ còn Nga và Hưng, trong vòng tay bay lên về nơi xa, xa lắm, đến tận dòng suối tận Chiêng Mai bên Thái Lan. Chỗ đó hết dốc, nhiều tảng đá,hơi nước mát lành, lại cũng khuất, nhìn lên không thấy chùa. Mẹ cũng không nhìn thấy Hưng nữa. Bên bờ có cái hốc đá kín lắm, ít người qua lại để ý. Trong hốc đó là những viên sỏi Hưng đã vớt dưới đáy nước lên dấu vào. Mẹ cấm. Mẹ bảo dưới suối có Hà bá cắn. Hưng vẫn trốn mẹ ra suối tìm sỏi... 

Đã mấy lần Hưng định đưa Mẹ ở Nam Định lên Hà Nội chơi thăm chú thím Thư nhưng rồi không làm được. Cũng chẳng nhớ lý do gì nữa. Nhiều khi cứ lần lữa, cầu toàn quá để rồi lỡ hết, để rồi không bao giờ còn làm lại được nữa. Hưng biết Mẹ mong con trai có một người con gái nào để ý. Ước mơ của người Mẹ thật đơn giản. Một người con gái hiền lành nào thương con bà, thay bà chăm sóc Hưng sau này thôi. Bà cũng chỉ nói xa thôi nhưng Hưng hiểu. Bà hỏi về các cô con gái của chú thím Thư, về Dung, Nga. Thanh thì còn bé quá. Chú Thư một lần cũng nói xa xôi : " Nhờ có ba cháu tình cờ rủ đi xem chiếu bóng mà chú quen được thím, thế là có các em ". Thím Thư thì hay nhìn Hưng, lúc nhìn Dung.

Gần tết Hưng đến chào chú thím để về quê. Ngồi nói chuyện với chú và Dung ở phòng ngoài. Thím đi mua hàng về bước vào nhà gọi Nga là có bạn đến đợi. Hưng nhìn ra phố thấy một người đàn ông bảnh bao trên chiếc Vespa chờ trước cửa. Nga từ trong ra thấy Hưng vừa mừng rỡ, vừa có chút lúng túng, chào và nói : " Anh ở lại ăn cơm nhé, em đi thăm bạn ốm, về ngay đấy ". Khi Nga ra ngồi sau xe, người đàn ông Hà Nội nói gì và quay lại nhìn Hưng, cái nhìn mà anh không kịp tránh. Xe đi, Nga quay lại nhìn, ánh mắt như muốn nói điều gì, cái điều mà anh đoán không ra. Mái tóc không buông mà buộc túm lên để hở cái gáy trắng ngần ánh chiếc dây chuyền vàng óng. Chiếc dây chuyền và cái áo phông mỏng cành mai của Thái lan Hưng nhìn thấy lần đầu ở Nga

Hưng ở lại ăn cơm. Ăn không ngon. Nga không về ăn cơm trưa hôm ấy. Sau này Hưng có đến chơi mấy lần. Toàn lúc Nga đi vắng. Dung chuyển công tác vào trong Nam. Những giai điệu, bài ca tiếng Pháp của Dalida, Mouscouri đôi khi đâu đó bắt gặp làm Hưng lại nhớ. Anh nhớ mái tóc buông theo gió dưới nắng sân của Nga, nhớ nụ hôn của em. Cứ mỗi lần lên Bờ Hồ anh lại vòng xe qua phố Nhà Chung, không rẽ vào phố Ngõ Huyện, chỉ đạp chậm lại, nhìn vào phố nhỏ đó . Nga không phải của anh, một cán bộ giảng dạy nghèo, tỉnh lẻ, mồ côi, không có họ hàng thân thích. Nhưng Nga là của thơ anh. Năm năm rồi không biết Nga giờ thế nào nhưng Hưng vẫn thế, không thêm bài thơ nào cho ai khác, vẫn chỉ có những bài thơ dành cho Nga.

Mặc cho năm tháng trôi qua

Tôi là tôi đấy, vẫn là tôi xưa

Một lần cứ tưởng trong mơ

Mà còn cho đến bao giờ, hình em

Dòng đời người gặp ngẫu nhiên

Khắp ngả đường, khắp mọi miền mình đi

Gặp nhau rồi lại chia ly

Trong em còn lại chút gì với tôi

Trong tôi còn giữ nụ cười

Môi tôi như có hơi môi em kề

Thế thôi hơn nữa làm chi

Em là mộng ảnh tình si

em à

Mỗi khi phố ấy đi qua

Bồi hồi sao vẫn ...

Lòng ta

nhớ nàng .

Nhớ lại bài thơ xưa. Mỗi khi lên Bờ Hồ anh đều như vậy. Và lúc về như không nghĩ, chân anh lại đưa xe đi qua chỗ có thể nhìn thấy nhà Nga. Thôi hôm nay có Lịch anh đã không rẽ qua phố ấy vậy. Để dành khi chỉ có một mình. Để dành cả mình đến bao giờ. Một câu hỏi thoáng qua để một câu thơ từ đâu, mới như có ai gieo vào đầu Hưng.

 Trong mơ em của riêng anh

Trong tôi hồn vẫn để dành, vẫn nguyên

Thơ đúng là không có thật. " Hình như cả mình cũng không có thật trên đời thật này "- Hưng nghĩ. Anh nhớ tới câu nói của Baudelaire : “Thi ca là cái gì thật hơn, cái gì hoàn toàn đúng và chỉ có trong một thế giới khác”. Những cái gì của anh, cả nụ hôn đầu đó nữa, cả những bài thơ nó đều đúng, chỉ là cho một thế giới khác.

Hình như có mưa, thấy mặt nước hồ lốm đốm. Ánh nắng vẫn vàng rực trên các lá cây, mé hồ gần bờ chỗ Hưng ngồi mặt nước vẫn bằng yên. Mưa bóng mây thôi, nó vẫn phải tiếp tục con đường của nó kệ những gì bên cạnh. Hưng nhìn theo cơn mưa rồi bỗng ngơ ngác, nó biến mất lúc nào cứ như chưa từng có. Lại có một cô gái dắt xe đến bên hồ. Cô này chắc không biết có cơn mưa vừa chạy qua không. Cô ấy chắc không biết là có một anh chàng đã đứng chờ, đã sốt ruột, đã bỏ đi rồi. Hưng liếc khẽ. Cũng xinh nhưng không bằng Nga, chính xác là cái thân hình ấy. Mà sao bằng được, Nga học trường múa cơ mà. Có lần ngồi uống Cafe nghe nhạc với Dung thấy Nga đang dậy mấy đứa trẻ nhảy ở sân, lúc như bay, lúc như bơi . Những đường cong, đôi chân và thân hình vũ nữ và chuyển động bung ra như gợi làm Hưng rạo rực. Dung bảo đó là điệu Mambo, thanh niên, trẻ con rất thích.

Thôi đi về, Hưng đứng dậy dắt xe đi để lại sau cái ghế đá cho cô gái đến muộn đó. Đúng là con gái Hà Nội, luôn đến muộn trong các cuộc hẹn, luôn có lý do. Họ khá giống nhau, những cô gái Hà Nội. Còn những chàng trai tỉnh lẻ về Hà Nội thì lại khá khác nhau. Trên đường về Hưng bỗng lại để ý nhìn mọi người trên đường xem có thấy cái anh chàng tỉnh lẻ đã đứng đợi ở bờ hồ rồi bỏ đi đó không. Biết đâu thấy thì Hưng sẽ gọi và bảo rằng có một cô đang đợi đấy bên hồ. Cô ấy đến muộn thôi mà...

Gần về đến trường thì cơn mưa ập đến. Gió mang mưa đến để mưa đuổi theo người. Kệ, Hưng vừa vuốt nước trên mặt vừa phóng xe, về đến Ký túc xá thì ướt sũng. Phải tắm ngay cho khỏi ngấm lạnh, không được ốm. Ngày kia là chủ nhật rồi, ngày giỗ Mẹ. Hưng sẽ về Nam Định ra Ngĩa trang thắp hương, làm giỗ Mẹ luôn ở đấy. Mai đi mua đậu rán sẵn. Mẹ thích ăn đậu rán với nước mắm Hải Hậu.

Quân đi dạy Tại chức ở Thái nguyên, còn lại mình Hưng trong phòng. Một buổi tối yên tĩnh cho một thế giới riêng một mình. Ăn cơm xong Hưng lấy chiếc va li gỗ cũ mở ra. Ảnh Mẹ. Lại thấy Mẹ nhìn anh chăm chú. Thời gian như Tour ngược lại. Hưng rải xếp các thứ có trong va li ra chiếu, toàn đồ của Mẹ. Anh lại ngồi với mẹ. Những quyển vở ghi chép, nét chữ của mẹ, mấy đồ trang sức gưong lược. Những bức ảnh đen trắng của hai mẹ con bên Chieng Mai, bên dòng sông Pink thanh bình với ngôi chùa, sườn đồi đầy hoa, một quyển kinh phật tiếng Thái. Nhưng có lẽ thân thiết nhất với anh lại là cái áo dài của Phật tử Mẹ mặc bên Thái xưa khi lên chùa. Hưng vẫn lấy cái áo ra cho vào mắc áo treo lên khi chi có một mình, thường là vào những ngày lễ, tết mọi người về hết, rồi lại gấp cho vào va li. Những lúc đó anh như lại thấy Mẹ, thấy cả mùi, thấy tuổi thơ, chùa, sông núi Chieng Mai. Ý nghĩ lại đưa anh trở về với những chiếc đèn lồng thả trên dòng sông Pink của lễ hội Loi Krathong. Chiếc đèn của anh đang trôi len vào những chiếc đèn khác trên sông.

17.

Chủ nhật Hưng về Nam Định từ chuyến ô tô sáng sớm, mang theo xe đạp gửi treo trên nóc ô tô. Một buổi sáng đồng quê trong trẻo. Nghĩa trang vắng vẻ, chỉ có một người con trai mặc chiếc áo bay Liên Xô mầu cỏ úa một mình rải tấm ni lon lên mộ, bày đĩa đậu rán, bát nước mắm, bát cơm quả trứng, mấy quả cam, ít tiền vàng mã. Xong rồi anh thắp nén hương khấn Mẹ, khấn luôn cả Bố nữa. Mẹ không kể về bố bao giờ, cũng không thấy làm giỗ. Hưng nghĩ sau này sẽ có lúc nào hỏi Mẹ nhưng không kịp. Anh lấy cái bay mang theo dọn cỏ. Gió đưa vài sợi tóc lòa xòa xuống vùng trán, che cả mắt. Anh vẫn lúi húi cắt chặt cỏ, chỉ lắc đầu để hất tóc lên. Hai tay dính đất và các lá cỏ xanh. Cả mấy nụ hoa dại nhỏ xen lác đác cỏ gấu, cỏ gà. Mấy con châu chấu nhảy tanh tách. Đã hai năm rồi...

Tàn hưong, Hưng lấy chai nước trong túi xách đổ ra rửa tay, thu xếp gói ghém mọi đồ lễ vào túi, hoá vàng, xong rồi chắp tay đứng lặng khấn và nhớ Mẹ. Lên đến đường cái anh quay lại nhìn lần nữa rồi đạp xe đi. Im ắng quá, nhà ai bên đường mở nhạc. Cũng kỳ diệu, giọng ca tiếng Pháp của Mouskouri mà anh nghe bao lần với Dung hồi nào. Tiếng hát mỗi lúc một xa, nhỏ dần, những sơi âm như dái mỏng ra, như đang tuột về phía sau xa. Thôi cứ thẳng đi xe đạp về Hà Nội vậy, có gì vội đâu. Quân sống cùng phòng phải mấy ngày nữa mới về. Bầu trời đẹp quá, cánh đồng, hàng cây cũng đẹp quá Mẹ ơi. Lại văng vẳng bên tai anh giọng ca cô ca sỹ Hy Lạp, bài Mama ấy. Hưng lại tháy trong lòng rộn ràng, không chút cô đơn. Chắc chẳng có ai như mình, vừa đạp xe Hưng vừa nghĩ. Chẳng làm được gì cho mẹ cả. Liệu sẽ đến bao giờ có cô gái nào anh dẫn về đây cho Mẹ yên tâm. Cái tính cầu toàn lại thêm mơ mộng nhiều hão huyền này chắc phần lớn di truyền từ mẹ anh, phần nữa là từ tuổi thơ anh ở Thái lan, bên con sông nhỏ ở Chiang Mai.

Mẹ kể là khi trung đội tình nguyện Việt Nam bị dồn đến biên giới Lào, Mẹ có mang anh, được lệnh vượt sông Mekon sang đất Thái Lan. Trước đó người trung đội phó, bố anh đã hy sinh. Cả trung đội quay về phá vây. Anh đẻ ra và lớn lên Thái Lan. Mẹ bị thương, bị ốm. Sau này được một số bà con Việt Kiều giúp đỡ đưa hai mẹ con về thành phố miền Bắc Thái Lan sinh sống. Mãi đến năm 1960 Mẹ mới có điều kiện mang Hưng hồi hương về nước theo lời kêu gọi của nhà nước Việt Nam. Người thân chẳng còn ai, họ di cư vào Nam hết, người thì đi xa lập nghiệp. Với lại Việt Kiều về ai cũng có một chút thu vén để dành. Mẹ trở về chỉ với hai bàn tay trắng, mà chỉ cái đó cũng không thể tìm họ hàng được. May mà trong đơn vị xưa có một đồng đội của Mẹ giờ làm lãnh đạo ở Hà Nội. Ông thu xếp cho Mẹ vào làm phục vụ ở nhà khách Tỉnh Ủy Nam Định quê mẹ và có chỗ ở luôn trong đó cho hai mẹ con. Ông cũng giúp Mẹ phục hồi được một phần lý lịch, nhất là lý lịch cho cậu con trai. Nhờ đó mà việc học hành của Hưng xuôn xẻ.

Tốt nghiệp Đại học ở Liên xô Hưng về nước làm cán bộ giảng dạy của trường Đại học Bách khoa Hà nội được hai năm thì mẹ mất. Ấy là tất cả những gì Hưng biết về hai mẹ con, bập bõm, mơ hồ, không kịp.

Mẹ mất cũng đột ngột quá. Cơ quan mọi người kể lại là buổi sáng không thấy mẹ đi làm, phòng lại cài cửa bên trong. Đến trưa mấy chị phục vụ thấy lo, gọi bảo vệ phá cửa. Mẹ vẫn trên giường, người đã lạnh. Mẹ ra đi trong giấc ngủ. Tin mẹ mất đến với Hưng trên giảng đường. Lịch gọi anh ra để thay dạy tiếp. Tùng đã chờ anh bên ngoài trên chiếc xe máy Nga Minsk ai cho mượn.

Sau khi chôn cất mẹ xong Hưng trở về trường với một chiếc va li gỗ đựng những kỷ vật của mẹ. Chiếc va li nhỏ của mẹ, cả một thế giới tuổi thơ của Hưng.*

Về đến Hà Nội cũng đã chiều, vừa dắt xe lên cầu thang thì gặp Lai sống cùng tầng nói là Tùng ở Liên xô có gửi cho Hưng quyển sách tiếng Nga về chuyên môn, tối sang mà lấy. Mẹ Hưng mất, có lẽ người gần gũi nhất với anh là Tùng. Hai người đã sống chung phòng với nhau sáu năm ở Liên Xô. Thực ra tính cách họ khác nhau. Tùng sôi nổi, nhiệt tình tham gia các công tác. Tùng là linh hồn các phong trào văn nghệ, thể thao sinh viên. Hưng thì trầm hơn. Trừ những lúc chơi cờ là cái thú đam mê của Hưng, còn lại là nếu không cần thiết anh thường kín đáo cứ như lùi ra xa giấu mình và mọi người đôi khi cũng quên cả sự có mặt của anh. Hưng cũng nhận ra là anh rất khác mọi người. Có lẽ vì anh không đẻ ở Việt Nam, tuổi thơ lại ở đất Thái. Có lẽ vì anh không có nhiều quan hệ, không có gì nhiều để kể. Có lẽ có những khoảng trống mơ hồ về con người mình, có từ lúc mới sinh ra trong một hoàn cảnh không bình thường giữ lúc trời mưa, trong một ngôi làng nhỏ miền Bắc Thái Lan. Nỗi mơ hồ cũng mơ hồ như thơ của anh vậy.

.. Phải chăng ta đã chào đời

Giữa cơn mưa đất với trời tìm nhau !

Những chùm bong bóng từ đâu

Trong ta từ thuở ban đầu trẻ thơ…

Buổi tối đọc thư Tùng, thấy Tùng nói không về phép hè mà ở lại để tranh thủ làm nhanh luận án rồi về hẳn. Thế hơn, Hưng viết khuyên bạn vậy vì chuyến về cũng ít nhiều mạo hiểm. Chẳng là hồi Tùng đi nghiên cứu sinh bị trục trặc đợt đầu vì có thư nặc danh kiện thầy giáo quyễn rũ nữ sinh. Sau anh thoát được đi nhưng không dám thông báo, không có hành lý, kể cả nhận quần áo ấm, chỉ một túi xách lên máy bay thôi.

Dù sao Tùng vẫn còn may. Vấn đề đi nghiên cứu sinh có ai đó ở bộ môn nêu lên Hưng đều lảng tránh. Thật khó cho anh khi khai lý lịch. Có nỗi mơ hồ về mình mà anh không thể chia sẻ với ai kể cả Tùng. Đó là có một lần anh đến thăm bác Trọng, người bạn chiến đấu của ba mẹ anh, đã giúp đỡ bảo trợ mẹ con anh xưa để xem ông có giúp gì được những khoảng trống trong lý lịch bây giờ. Ông bây giờ là một cán bộ cao cấp ở Hà nội. Người nhà ông nói ông bị bệnh đang nằm ở bệnh viện. Anh đến bệnh viện thăm ông. Ông đang ngủ, xung quanh là vợ con. Mọi người thấy Hưng hỏi thăm đều ngẩn người nhìn anh. Thái độ không thiện chí của bà vợ ông và nghe loáng thoáng có ai nói anh hệt ông hồi trẻ làm anh giật mình. Anh về soi gương thấy phân vân. Cũng thấy mẹ rất ít khi nhắc đến ba anh. Cũng không có cũng giỗ. Vậy cái ông tên là Nguyễn Văn Xuyên trong lý lịch của anh có phải thật là bố đẻ của anh không, Nguyễn Trọng Hưng ấy. Còn bác Trọng thực là thế nào với mẹ, với anh. Anh không dám hỏi mẹ và chẳng bao giờ hỏi được nữa. Mơ Hồ như câu thơ anh viết khi nào.

…Cứ day dứt mãi không ra

Mình là Ai, Ai là Ta là Mình

18.

Buổi tối trong phòng ở Ký túc xá có Quân đang ngồi trên giường đánh đàn, Nghị đang cắt tóc cho một anh, Hằng bật cửa xô vào nói:

- Tuần sau cái Chi nó lấy chồng rồi các anh ơi.
- Đứt tai rồi, ông sao thế ? – Anh ngồi cắt tóc kêu ầm lên với Nghị rồi vùng đứng dậy soi gương, làu bàu – Quân ơi ! Có bông không, xuýt nữa mất cái tai hôm nay..

Mọi người không để ý đến câu nói của anh đứt tai, quay lại nhìn Nghị đang dứng thần ra như mất hồn, cái kéo vẫn run run trên tay, Anh đứt tai cũng ngẩn người ra nhìn Nghị, nhìn mọi người rồi lại soi gương, nói :

- Thôi cũng còn may, cũng không đến nỗi. Ông Nghị ơi, trông ông thế này có cho ăn kẹo cũng không có ai cắt tóc xong lại dám cạo tiếp nữa. Mà vừa rồi có chuyện gi nhỉ, lấy chồng chứ có phải là đi … ơ …Nghị … còn mái bên này.

Trong phòng không có Nghị nữa, chỉ có cái kéo nằm trên sàn...

Trong nhà Chi có mấy bà đang ngồi chơi ở phòng khách . Dì Thư ngồi cạnh Chi ở góc nhà. Một bà vừa cầm thỏi son bôi lên mu bàn tay rồi lại thử thỏi khác vừa hỏi bà ngồi bên:

- Chị thấy mầu này thật môi mà lại vừa dịu vừa đầm hơn không ?
- Phải để ban ngày xem chứ ánh đèn tuýp này trông không thật đâu. Mai cô dâu định dùng nước hoa nào: Chanel hay Lancôm – bà quay lại hỏi Chi , cô vẫn ngồi thừ ra bên dì Thư.
- Chi kìa, bác Phúc hỏi con – mẹ Chi nhắc , bỗng có một tiếng choang , cửa kính vỡ, một hòn đá rơi vào phòng .

Tiếng la hét ồn ào dưới đường, mấy bà trong phòng hốt hoảng nói :

- Bọn lưu manh nào thế … Các bà chạy ra cửa sổ nhìn xuống đường.

Dưới đường một tốp bảo vệ đang khoá tay Nghị, dân phố bắt đầu xúm lại xem. Bố Chi bước ra nói:

- Không được ồn, các cậu giải ngay lên đồn công an đầu phố , nhớ không để nó chạy thoát.

Trên gác cửa sổ ló ra mấy khuôn mặt của các bà. Chi cũng chen kiễng nhìn xuống, bỗng cô kêu lên:

- Thầy Nghị ơi, anh Nghị ơi.

Chi bị kéo vào nhà. Nghị vừa bị kéo đi vừa ngoái cổ nhìn lại tìm giọng nói của Chi. 

Tiếng xì xào của dân phố thưa dần.

19

Trích thư Tùng gửi Hưng:

“….Mình đã thi xong cả ba môn tối thiểu rồi. Thầy có quan tâm đến nguyện vọng bảo vệ sớm trước thời hạn của mình và dặn dò những nghiên cứu tiếp theo dành cho Luận án Tiến sỹ. Bây giờ là một lọat thủ tục và đợi chờ. Có một sự trì trệ vô hình ở đất nước này Hưng ạ.

Hôm nọ mình đang ngồi ở thư viện thế là có Tania, cô kỹ sư ở bộ môn lên tìm mình về bộ môn có việc. Hóa ra mình về phòng thấy mọi người ngồi nghiêm trang ai nấy trước bàn đầy tài liệu, đọc sách, tính tóan. Mình hiểu ngay. Thanh tra khu vực đến kiểm tra làm việc. Cũng đối phó y như bên mình ấy. 

À,  mình có mấy cái đĩa hát cho Hưng nhân ngày sinh nhật nhé, đưa cho Hải nhờ gửi rồi. Có đĩa của ca sỹ Vysotsky cậu thích đấy. Ở Việt Nam có chiếu bộ phim "Duy Nhất" mà anh đóng vai ca sỹ bế tắc tìm đến rượu và tình yêu. Khi Liên hoan  phim ở Liên Xô năm 1970, Vysotsky đã lên tặng hoa và tỏ tình luôn với một cô giảm khảo người Pháp Marina. Họ lấy nhau và nhờ đó Vysotsky được đi sang phương Tây. Mỗi lần anh trở về Nga là các nghệ sỹ Nga chờ đợi để nghe anh hát và kể về thế giới. Khi anh chết Marina có viết một quyển sách về anh tên là Le Vol Arrete' (Chuyến bay bị dừng). Để mình tìm bản tiếng dịch tiếng Nga gửi về cho cậu dịch để người mình biết đến một nước Nga khác "Những con sông mặt đóng băng, mà dòng lũ vẫn dưới lòng sục sôi" như trong thơ Evtuschenko. Đám tang rất dài ở Moscow về nghĩa trang Wagankowskim., Ông giám đốc nghĩa trang không cho chôn vì anh không đủ tiêu chuẩn. May có ông Kobzon (Bọn mình xưa nghe ông này hát nhiều trên vô tuyến) dẫn đầu đám tang nói rằng chôn vào tiêu chuẩn Nghệ sỹ nhân dân của ông. Ông giám đốc biết đó là Vysotki, ông đã quỳ xuông khóc nói nước Nga tội nghiệp lại mất đi một người con đòi chôn vào tiêu chuẩn của ông ta. Ai qua Mat có thể đến thăm mộ anh. Trên đó thường có chai rượu, có lúc ai đó mang đặt cả một chiếc đàn ghita lên mộ. Mình đã từng qua Mat không chỉ một lần nhưng tòan vội, chai votka nhỏ luôn trong túi, để rồi lại chỉ uống một mình. Nhưng trước khi về nước mình sẽ qua, nhất định mà.

Thời giờ rỗi mình cũng thử dịch thơ Nga tiếp như hồi sinh viên. Mình gửi cậu bản dịch bài hát “Tôi Không Thích” có trong cái đĩa ông ấy nhé:

” Tôi không thích kết cục nào vô vọng
Cũng không thích buông trôi với dòng đời
Tôi không thích khỏang thời gian đè nặng
Để lời ca tôi không bay vọng không trung ...
….Tôi không thích những viên đạn bắn vào lưng “

Trích thư Hưng gửi Tùng:

" .... Mình hiểu những suy nghĩ trăn trở của cậu về nước Nga. Đơn giản vì chúng mình yêu nó và xót xa cho nó. Cậu nhớ cô Dina dạy chúng mình tiếng Nga hồi học tiếng ở Taskent chứ. Cô dặn chúng mình đừng quá đi sâu vào những chuyện tế nhị của Liên Xô, tập trung học tiếng Nga cho giỏi, học kiến thức khoa học kỹ thuật về xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Khoa học Kỹ thuật thì đời nào, xã hội nào cũng cần. Cô giáo còn dặn là đừng nhắc tới Stalin trước mặt người Nga vì có thể người thân họ đã bị ông ấy làm hại. Mình hỏi, những người đó có tốt không. Cô ấy nói là ưu tú. Mình hỏi có nhiều không, cô khóc.

Cũng không cần nói với những người không muốn hiểu về tình trạng tồi tệ của nước Nga làm gì. Họ không muốn hiểu, không cần hiểu. Họ quen như thế rồi và ai nói sẽ kêu ngay là ăn cơm Liên Xô lại nói xấu Liên Xô à. Không có lợi Tùng ạ. Họ không cần biết xã hội cũng như một cơ thể sống. Nó có thể mắc bệnh, thậm chí là bệnh hiểm nghèo ung thư. Di căn rồi là hết.

Hè này khoa mình đi coi thi Đại Học ở Diễn Châu Nghệ An. Buổi tối bọn mình ra tắm biển, ngụp lặn. Mỗi lần lấy tay tạt sóng, hàng trăm đốm trắng sóng sáng lấp lánh như lân tinh. Cảm giác như mọi lăn tăn của con người cũng tan biến. Nó làm mình lại nhớ tới dòng sông thả đèn ngày hội Hoa Đăng hồi bé bên Thái, nhớ cuộc sống của mình bên đó với mẹ. Mọi thứ sao thật đơn giản, bình an. Lúc về bọn mấy đứa bọn mình có rẽ sang Nam Định nhà cậu, cũng tiện đường và tiện có mấy quà tôm cua biển nữa. Rất vui. Cậu thật may mắn đấy. Hai bác mừng lắm cứ giữ bọn mình lại chơi để gặp em Nụ nhưng bọn mình vội, phải về cho kịp công việc. Thế mà lúc ở bến xe, mấy anh em lên xe rồi, xe sắp chuyển bánh thì có tiếng gọi cuống lên :" Các anh ơi, các thầy Bách khoa ơi ". Cô Nụ hớt hải chạy ra tìm chúng mình, mặt đầy mồ hôi. Rồi không biết nói gì, cô xin xe chờ mấy phút, mua vội một đống bánh gai, bánh mật ở quầy đưa chúng mình. Xe chạy, nàng còn đứng nhìn mãi. Thằng Quân nói là nếu không có chuyện biên giới, nước nọ nước kia và cậu đợi, cậu gọi chắc cô nàng sẽ đi bộ sang với cậu. Phúc thì bảo :" Sao nữa, người ta đã đợi từ mười tuổi thì sẽ đợi được cả đời mà ". Trên xe Phúc còn hứng lên ngâm nga bài " Đợi anh về " của Simonov nữa ".

Bây giờ nghỉ hè, cả tầng còn mỗi mình. Mọi người về quê hết. Buồn nhất Quân nó về, không có người chơi cờ thôi. Mình thay bằng tập Yoga. Sáng thì chạy ra công viên rồi xuống hồ bơi. Ngoài đọc sách ra là lang thang Hà Nội. Thôi, chuyện mình loanh quanh chỉ thế. Còn Chi, lâu mình không gặp, cũng không tiện. Có thể sắp tới mình lên Thái Nguyên thăm Nghị. Muốn động viên Nghị học Yoga hay Thiền để cân bằng lại tâm. Tội quá. Nghị không chỉ yêu Chi mà còn yêu cả mối tình đầu của Chi dành cho cậu. Nghị bị hẫng, mất cân bằng. Một Donkihote thời nay. Với Nghị thế giới luôn được chia làm hai nửa trắng đen và Chi cũng như tình yêu là ở bên phần trắng và hẫng hụt. Người ta đưa Nghị vào trại tâm thần nhưng chính Lâm chồng Chi thu xếp để Nghị được ra, về quê an dưỡng. Thôi, mọi thứ an bài rồi. Cậu cũng đừng suy nghĩ nhiều ảnh hưởng sức khoẻ và công việc. Hãy bảo vệ thành công luận án nhé rồi về. Có nhiều người mong đấy. "

20.

H ai mươi sau. Trường Đại Học Bách Khoa đã thay đổi nhiều, nhà cửa, xe cộ, ăn mặc. Vẫn chỉ có cái cổng Parabol, một ngọn sóng đơn độc là có vẻ vẫn thế. Trong phòng nghỉ của giáo viên một cô giáo đang rửa tay, vuốt tóc trước gương. Hưng đang ngồi uống nước đọc báo, hai thầy giáo khác lúi húi trên quyển sách trao đổi chuyên môn.

Tiếng chuông điện réo, học sinh toả ra hành lang. Cô giáo trẻ xách cặp bước ra, vừa ngoái lại sau nhìn, suýt nữa xô phải Quân bước vào, thốt lên:

- Ơ, Em xin lỗi.

Hưng bỏ tờ báo xuống thốt lên:

- Quân lên lớp đấy à.
- Mình xong rồi, mà sao mình không gặp ông bao giờ ở đây vậy.
- Mình toàn giảng ở D6 thôi. Tuần này dậy hộ ông Lân đi tại chức tỉnh xa . Thế nào, ông giảng xong rồi chứ, uống nước đã - Hưng rót nước mời - lâu quá 
không gặp nhau, anh em mình có gì mới không ?
- Ôi , mình vừa lên Thái nguyên theo đề tài sản xuất, có rẽ qua thăm Nghị. Nó ốm lắm. Tay chân cứ run lảy bảy, nói cũng lắp quá rồi . Mình có đưa truyện ngắn “ Mối tình đầu " của cậu đăng trên “ Văn nghệ trẻ ", trùng ngày tổng thống Nga Putin sang thăm Việt nam. Nó đọc xong, khóc. Thương quá. Mà sao cậu viết về Chi và Tùng lại không viết chút gì về nó vậy.
- Viết về Nghị à,... ừ, đó lại là cả một chuyện dài, về một chủ đề khác. Về một lớp người được giáo dục từ bé như trong các bài ca " Cuộc đời là tươi sáng, tương lai là của họ, hãy tin, hãy yêu " và …- Hưng thở dài - trở thành những người quá ngây thơ đến mơ mộng và ngược lại, mơ mộng quá đến ngây thơ, mỏng manh và dễ vỡ. Khi đối mặt với sự thật, họ bị hẫng không làm chủ được. Bi kịch là ở chỗ đó, có một chút bi kịch Hamlet của Sexpia , Andrey Bolconsky của Tolstoy. Giá như từ bé mỗi người được chuẩn bị rằng cuộc sống có nhiều bất ngờ khó khăn, cuộc sống là sự đan dằng giữa cái thiện và cái ác, đen lẫn trắng thi thi gặp một điều ác sẽ thấy bình thường, không bị hẫng hụt, sẵn sàng đối mặt, coi đó là chuyện tất nhiên để thử thách. Khi gặp một điều thiện lại thấy hạnh phúc lớn lao, phải trân trọng giữ gin, biết ơn, Quân ạ.
- Cậu nói hay nhỉ. Mình cũng đọc ở đâu, ai viết là " Không thể nói trước đựợc cái gì tương lai nắm giữ trong tay. Cần biết chấp nhận và sống trong hiện tại "
- Câụ cũng triết lý rồi đấy - Hưng trầm ngâm đặt cốc nước chè đang uống xuông, nhìn xa xăm ra cửa sổ và nói cứ như cho mình nghe - Thế giới này kỳ diệu trong sự bí ẩn. Bí ẩn trong bất định. Cuộc chơi đáng chán bao nhiêu khi mọi thứ đã an bài, mọi kết quả trận cầu đã được mặc cả định trước. Cuộc sống thật tuyệt vời cũng vì không ai biết trước cái ngày mình sẽ ra đi. Cái ngẫu nhiên, tình cờ, bất định, bí ẩn không chỉ là cái mô liên kết mọi thứ trong Vũ trụ mà có ngay trong chính mọi thứ mà.
- Đúng là bên trong mỗi nhà vật lý đều có một nhà thơ, một nhà triết học, một đứa trẻ. Có lẽ cậu nên viết dần đi, về những gì cậu nghĩ. Những thứ đó là khoảng trống ở Việt Nam. Cũng vì có thể vì mọi người sinh ra và lớn lên ở dải đất hình chữ S này rồi nên mọi thứ thấy quen cả. Cậu không, sinh và lớn lên ở Thái Lan, về mới thấy được nhiều cái lạ, viết lại nhé không rồi lạ nhìn mãi thành quen mà, chẳng thấy gì cả. Có thể gọi đó là " Dải đất hình chữ S ". Thế lâu lâu cậu có gặp Tùng không, nghe nói đứa đầu năm nay thi vào đại học .

         
- Tùng chắc đang ở bên kia ḱìa – Hưng chỉ tay qua cửa sổ sang Thư Viện trường, tòa nhà mới xây hiện đại, bên cạnh những tòa nhà khác, vuông vắn, bằng phẳng, không gợi sóng.

Cho một thầy khác xin viên phấn xong Hưng và Quân tiếp tục câu chuyện. Quân hỏi:

- Thứ bảy này Sỹ Kháng ra, chúng mình lại kéo lên Hồ Tây ăn bánh tôm nhé, .cả Tùng nữa. In xong " Mối Tình Đầu " thì ký tặng luôn nhé. Nhân vật chính, cậu Tùng chắc cũng bị bất ngờ. Thế còn những nhân vật khác của cậu ?
- Hằng lấy Hải, khi Liên xô tan vỡ hai người ở lại làm ăn. Mọi thứ khác quá. Vừa qua giỗ bố Chi, mình có đến thắp hương, gặp ai, ông biết không ? – Dương và vợ con. Anh ta đã tốt nghiệp đại học xây dựng, ở bộ mấy năm rồi sang Đức làm phiên dịch hay đôi trưởng gì đó. Anh ấy kể là người yêu cũ Monica đã lấy chồng người Đức. Hình như kiếp trước anh ấy là người Đức vậy. Dương cũng yêu và lấy một cô gái Đức khác, đẻ sinh đôi. Vợ chồng họ năm nào cũng đến đón tết Việt nam. Nhìn hai đứa bé tóc đen kháu khỉnh không ai nghĩ chúng là con lai.Chú Mùi bây giờ đã là nhà thơ, hay lên vô tuyến. Gặp Dương chú mừng quá tặng anh tập thơ vừa in xong, tập thơ thứ sáu Dương cầm lấy kêu: ” Khiếp thật “. Mình cũng thấy khiếp.
- Ông có gặp Chi, nhân vật chính của chúng ta không, của "Mối tình đầu".
- Không, Chi bị ốm không ra được, lấy chồng, được một năm chia tay, bỏ vào Nam. Vẫn hai mẹ con với nhau ở thành phố Hồ chi Minh. Cũng không biết Chi có kể cho con gái về chuyện xưa của mình với những giai điệu Nga đầy kỷ niệm không, những bài thơ Nga của một thời ấy. Cũng không biết con gái Chi có giống mẹ không. 
- Còn Nụ?
- Thì cứ viết lại như trong đời thật thôi. Chồng đã là phó giáo sư, phó chủ nhiệm khoa, vẫn sống ở tập thể A1 như xưa. Bốn đứa con ở quê với Nụ. Sau này thành vợ Tùng, tự tay Nụ chắt chiu, xoay xở lợp ngói lại cái nhà gianh cũ. Nụ cũng chưa một lần lên Hà nội và hỏi chồng về cô gái Hà nội anh đưa về làng cái tết năm ấy.
- Còn Nghị và còn..., còn cả Hưng nữa, cậu ấy.
- Đó lại là truyện khác. Nó không giống ruyện Việt Nam. Có thể bao giờ mình sẽ viết, khi có người đọc ấy, tất nhiên ngoài cậu rồi.

Hai thầy giáo nhìn nhau lặng đi. Có tiếng chuông báo giờ vang lên.

21.

Buổi sáng trong Thành Phố Hồ Chí Minh.

Trong căn phòng có cô gái ngủ trên đi văng, cậu con trai ngủ ngồi dưới đất đầu tựa vào cô gái, con chó cũng ngủ bên cạnh, sách vở, album bề bộn. Bỗng có tiếng chuông điện thoại kêu. Con chó sủa ”gâu gâu” đánh thức hai người.

Cậu con trai chạy ra nhấc định nghe thì cô gái giật lấy, giơ tay đe cậu:

- A lô, mẹ à. Cô Hằng à, cháu chào cô. Cháu vẫn thế. Quà á, trong này chẳng thiếu gì cả, à có băng đĩa nhạc Nga nào mới cô cho cháu. Về gì á, về tất cả, về tình yêu , về Mối tình đầu ...

Trong lúc cô gái nói chuyện ríu rít qua điện thoại cậu con trai thu dọn sách vở , anbum rồi ra đứng ở cửa sổ nhìn thành phố, bầu trời. Cô gái gác điện thoại, thay đĩa nhạc, ra vịn vai anh.

Giai điệu Nga ” Liễu xanh " cất lên tràn ngập căn phòng.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét