Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2021

HOA OẢI HƯƠNG

 LỜI TÁC GIẢ

Cũng như thơ, tìm một định nghĩa cho truyện ngắn để an tâm nhiều người khác nhau là một điều không thể. Truyện ngắn là truyện viết không dài, chỉ có định nghĩa như thế là khái quát rõ nét nhất.

Nếu nói thơ là những suy nghĩ bị thất lạc thì truyện ngắn phần nào cũng vậy. Tuy nhiên truyện ngắn luôn cần nhân vật hơn,  thơ có thể cần, có thể không, chỉ vu vơ. Truyện ngắn cần biến cố. Thơ thiên về cái đẹp. Một bức tường rêu phủ đủ để cho cảm hứng thơ. Có thêm vệt nắng sẽ có bài thơ đẹp. Vệt nắng tan chảy hay níu vào rêu sẽ có bài thơ hay. Nhưng khe nứt của nó mới là bắt đầu của truyện ngắn.

Cũng có thể khe nứt chỉ là cái cớ để người ta mượn cắm vào đó một cành hoa hay làm chỗ treo khung vải lên và vẽ bức tranh theo ý mình.                      

   Trần Đức Trung

====***===

 Bạn học nói bằng cách nói, học bằng cách học, chạy bằng cách chạy, làm bằng cách làm việc, và bằng một cách cũng như vậy, bạn học yêu thương bằng cách yêu. 

You learn to speak by speaking, to study by studying, to run by running, to work by working; in just the same way, you learn to love by loving. - Anatole France

Và cũng như vy tôi hc viết truyn ngn. - Trn Đc Trung 

    ====***===                                                                                              

                                                                     HOA OẢI HƯƠNG

Hoa chẳng tàn đâu. Hoa chỉ nhói đau

Hương vẫn gửi riêng người. Chẳng điều gì giữ lại

Vẫn biết chỉ là cuộc chơi quá nhiều may rủi

Mà sao ta không đủ sức giã từ

 (thơ Kiều Thị An Giang)

1.     CHỢ ST. DENIS

     Những năm làm chuyên gia giáo dục giảng dạy ở trường Đại học Bechar giữa sa mạc Sahara của nước cộng hoà Algerie Hải đọc khá nhiều truyện để giết thời giờ. Chủ yếu là truyện của Nhà xuất bản Halerquin với những kết thúc lãng mạn có hậu sau những cuộc tình đuổi bắt để giải trí hoặc những truyện mà qua đó mình học được một chút kiến thức lịch sử, địa lý, khoa học kỹ thuật, tôn giáo v.v. Nhưng đôi khi truyện nó viết quá lên.

     Nghỉ đông Hải quyết định sang Paris thăm Khiêm, một người bạn cũ cùng học phổ thông xưa đang làm nghiên cứu sinh về Văn khoa ở đó. Đến nhà thờ Đức Bà mà chẳng thấy có ấn tượng gì như lúc đọc truyện. Đọc truyện thích hơn vì tác giả đã tưởng tượng, người đọc cũng vậy và quan trọng hơn cả là là chọn lúc đọc truyện khi trong lòng thư thái với một mình ta, thưởng thức truyện rồi thêm cả bản thân mình vào nữa. Đến nhà thờ thì hết cảm giác đó, ngoài quảng trường trước nhà thờ chẳng thấy một bóng Zingarella nhảy múa hay mời xem bói nào cả mà chỉ thấy hết tốp nọ tốp kia du khách quần lửng, áo lửng chụp ảnh là chính để chủ yếu về kể, về khoe là mình đã đến. Như thế có bất công với Paris không. Không, ngoài cái nhà thờ và cái tháp Efel nổi tiếng luôn đông nghịt du khách mà trong tâm trí tưởng tượng từ đọc truyện ra anh còn thấy ngưỡng mộ hơn nhiều, thì sông Seine quả là thật thơ mộng và vườn hoa Luxembourg thì quá tuyệt, có những chỗ khuất yên ắng, để trả lại ta cho riêng ta.

Nhưng Paris luôn cất giữ những bất ngờ.

Và bất ngờ là cái chợ giời St. Denis.

      Chợ thì đông người, đúng ra là không hợp với Hải, một tiến sĩ hơn ba mươi tuổi, đã qua một lần đò, lại độc thân, lại đã quen sự tĩnh lặng cô đơn của gió cát sa mạc Sahara, đã đánh mất sự hứng thú với đám đông, những cái nhìn, những đàm luận khen chê. Mọi hôm trước đi qua với Khiêm, trông xa thật buồn cười, toàn thấy mông là mông. Nơi đây là khu dân nhập cư, phần đông người Arab. Hải sang Paris hầu hết thời giờ là lang thang một mình. Khiêm còn bận hàng ngày lên trường. Chủ nhật dậy muộn, Khiêm vẫn ngủ. Hải đi dạo sang chợ giời. Chắc chắn là không gặp người quen, anh nghĩ vậy. Khiêm sống ở đây thì còn phải ngại, chứ mình chỉ ghé qua, ngại gì, có ai biết mình là ai đâu. Thực ra đó mới là cái cảm giác kỳ diệu nhất mà con người có thể có được. Bình thường ta muốn tìm nơi quen biết, muốn mọi người nhận ra ta. Muốn gọi mọi người, muốn nói "Ta đây". Thôi, có cơ hội hiếm hoi rồi, không ai biết mình cả, không người quen, không đồng nghiệp, học trò, có thể vứt vào xó cái thứ cảm giác cái " Ta đó ". Hải nghĩ rồi băng qua đường.

     Trong chợ mọi người xúm đông vào các cái thùng cao đến ngực, nhưng lại không ai nhìn ai, còn mải thò tay lao đầu vào bới quần áo, giầy, tất, túi, đủ loại tạp hoá trong đó... và mỗi một cái lấy ra bất kỳ đều có giá là 6 Fr, nghĩa là nếu lấy ra đôi giày dây buộc vào nhau làm một thì bằng giá cho một chiếc giày rời.

      Hải cũng chẳng biết mua gì nhưng cũng thử len vào đào bới trong thùng xem. Liệu có cái gì chờ mình không. Không biết là cái gì mình cần trong đống thùng vải vóc quần áo cũ lẫn với trăm thứ bà rằn, giày dép, túi xách, bàn là... Hải lại gần một thùng và giống như mọi người, vắt mình qua thành thùng, chúi đầu, xọc tay và bới. Trong cái không gian của cái thùng hàng này mọi thứ trở nên đơn giản quá.

       Ai đó vứt sang một cái khăn và cái túi. Ạnh cũng chẳng buồn ngước đầu lên nhưng cũng với cầm xem hình thêu. Thích như là đi xem viện bảo tàng tranh Ermitage hồi sinh viên ấy. Chưa chừng còn thích hơn với cảm giác rất lạ như trong truyện Liễu Trai, con thú tìm chỗ riêng không ai để trút bỏ tất cả cái hoá trang, trở lại nguyên thần của mình. Và hình như chính ở cái không gian thùng này anh như tìm thấy cảm giác đó....           

      Hải nhặt được một cái áo trẻ con khá đẹp và như mới có in cánh buồm, không biết là cho đứa lên mấy thì vừa. Bên kia có một bà ngước nhìn. Anh liền tung chiếc áo sang đó. Ông bên cạnh anh giơ lên ngắm nghía đôi bốt da cao cổ và đôi găng tay da to xòe như thấy trong phim hoạt hình xưa. Có vẻ chúng là cùng bộ, chỉ còn thiếu kiếm và một cái áo choàng chữ thập là thành một ngự lâm quân. Đây là một ý nghĩ thoáng qua đầu Hải chứ ông khách thì hài lòng, kết thúc cuộc mua sắm, cầm hàng ra trả tiền. Người vào thế chỗ ông là một phụ nữ vì có một mùi hương đi cùng, mùi Chanel Coco mà Angelika, cô nhân viên thư viện trường Đại học Bechar vẫn dùng. Mắt Hải đang nhìn thẳng xuống nhưng sao vẫn cảm thấy đôi mắt to đen Arab ở bên cạnh nhìn sang. Họ có một lợi thế thấy sau cái Niqab (khăn che mặt của người Arab) còn lại mỗi đôi mắt, có thể khá tự do cười nói, dò xét người khác. Hải gạt mọi ý nghĩ về đàn bà ra và lại tập trung vào chuyên môn, xục tay xuống thùng bới đống vải vóc quần áo cả nam, cả nữ, cả dày và mỏng, cả khoác ngoài lẫn đồ lót, giơ lên nhìn để buông ra một chút tưởng tượng hay hoài niệm. Cái anh cầm lên ngắm nghĩa lâu nhất là một con búp bê làm bằng các khúc vải nâu nhồi chặt. Không biết nó có từng được ai đó cắm kim, từng để bùa chú ai đó rồi không và lời cầu ấy có linh nghiệm không. Bàn      tay anh bỗng bóp chặt con búp bê khi trong đầu ý nghĩ đến Hà lại vụt qua, không biết nàng đang ở đâu lúc này. Anh rồi lắc đầu thả con búp bê xuống, tiếp tục bới tìm.

       Mãi rồi anh cũng trở về với mình. Cũng phải tìm được một cái gì để mua chứ, để nhớ. Có lẽ trong cuộc đời sợ nhất không phải là cái nghèo, cái dốt. Anh sợ nhất sự nhàm chán đơn điệu, sợ cảm giác trôi tuột. Mà những cái đó lại mới là phần lớn trong cuộc đời. Đôi khi đó lại là những nhàm chán hoành tráng, những tiệc tùng, chúc tụng vinh danh và cả những gì thực ra rất tuyệt đến mức con người hay lạm dụng một cách dễ dãi thừa thãi nữa.

 ... Đang lan man với những suy nghĩ bỗng tay trái Hải chạm vào một vật ấm dịu. Bàn tay của người phụ nữ như có một dòng điện làm Hải rùng mình. Các đống tạp hoá phía trên che đậy cho hai bàn tay đang quấn lấy nhau. Những ngón tay Hải vuốt xoa từng ngón tay kia. Những ngón tay không để móng dài và mềm ấm. Bàn tay của người phụ nữ cũng chủ động ôm ấp quấn quýt bàn tay anh. Anh bỗng nhớ tới bộ phim vừa xem hôm qua trên TV chiếu bữa ăn có đôi nam nữ để chân dưới gầm bàn ăn cọ xoa nhau. Phía trên mọi thứ vẫn diễn ra bình thường, mọi người vẫn ăn, tranh luận không để ý đến chuyện ăn vụng của đôi chân dưới gầm bàn. Hình như ăn vụng có cái ngon lạ thật. Không biết chủ nhân của bàn tay kia ra sao nhưng bàn tay đó vuốt ve đáp lại bàn tay anh cho những cảm giác thật trìu mến. Hai bàn tay còn lại của hai người vẫn khua khoắng phía trên, với, cầm, giơ, ngắm, vứt các thứ có trong thùng đi.

      Một lúc sau có một cậu vác từ đâu một bịch hàng đứng len vào chỗ hai người, đổ hàng vào thùng. Hai bàn tay họ rời nhau và cũng tuột luôn nhau. Cũng không còn thấy mùi nước hoa nữa. Không phải một mà là hai người khác len vào giữa Hải và người phụ nữ và bắt đầu công việc bới tìm. Hải kết thúc công việc với một cái khăn quàng Nga tìm được. Chiếc khăn to xanh sẫm có in hình hoa mờ nhạt màu ghi. Đẹp thật nhưng ngắm nghía mãi chẳng biết dùng làm gì. Để treo lên tường thay tranh cũng không ổn. Thôi thả lại vào thùng. Đến lúc về rồi, Khiêm chắc đã ngủ dậy....

2.      CÁI LÝ

Khiêm bận, suốt ngày trong thư viện. Ngành văn chương cần nhiều chữ hơn  ngành kỹ thuật. Hải nhìn những đống sách đầy trên bàn của Khiêm mà hoảng. Chỉ buổi tối trước khi đi ngủ là họ xem TV, nói chuyện cùng nhau và Hải tranh thủ nghe Khiêm giảng giải về n chương. Học mót mà được khối. Hải vỡ ra nhiều điều chứ cái môn văn thời học phổ thông thật sự là nỗi kinh hoàng với anh. Thế giới văn chương của Khiêm khác, lung linh kỳ lạ lắm, có lẽ hơn cả cái thế giới khoa học vật lý của Hải. Cũng nhiều khi tranh luận về thế sự, về Việt Nam, Pháp, Đông, Tây và mọi chuyện khác trên đời, Hải hay vin vào lý lẽ, ví dụ kia để bảo vệ chính kiến của mình. Hải vốn hiếu thắng, hay khẳng định. Khiêm hay nhường nhưng cũng có lúc phải kêu: "Ông nói có lý quá nhưng suy cho cùng có cái lý nào để chúng ta sinh ra và ngồi nói chuyện với nhau ở Paris như thế này, bây giờ đâu. Với lại mười phần thì đúng bảy, tám là nhiều, cho người khác đúng với chứ. Tham gì mà tham quá". Hải nghe tức quá mà chịu.

Buổi trưa Hải hay vào trường Đại học Sorbonne của Khiêm, cũng ở gần ngay nhà để ăn cơm trong nhà ăn sinh viên, ngon và rẻ vì nghe nói có tài trợ của các tổ chức cánh tả. Họ tranh thủ sự ủng hộ của nhà trường. Thêm nữa là không khí sinh viên trong nhà ăn làm anh hứng thú. Mọi người cũng tưởng anh là sinh viên và hay bắt chuyện. Người Pháp nói lắm, giống người mình. Hải thì cho rằng dân tộc Việt bị Pháp đô hộ nên có bị ảnh hưởng ít nhiều cái nói lắm. Bị Tàu đô hộ thì đâm ra thích làm thơ, tất nhiên rồi. Cậu giáo sư người Ấn độ dạy học cùng Hải ở Algerie thì còn cho rằng các nước trong khối nói tiếng Pháp, tiếng Tàu toàn hay vờ vịt, nói bằng ngôn ngữ giả vờ. Cậu ấy đố Hải tìm trong các nước đó có phụ nữ nào lên làm thủ tướng được không dù rằng suốt ngày ca ngợi, tôn vinh phụ nữ, nhất là trong thơ. Khối nói tiếng Anh thì đầy, kể cả những nước theo Đạo Hồi vốn trọng nam cũng có nhiều phụ nữ được giữ chức vị cao nhất. Hải tức quá mà chịu, không tìm ra dẫn chứng để bác lại chỉ còn biết tự hứa với mình là sau này có phải bầu bán hay bỏ phiếu, nếu một mười một tám, thì anh bao giờ cũng nghiêng về bên chị em.

Một lần Hải đang ngồi ăn một mình thì có một sinh viên Việt nam đeo kính trắng đến xin ngồi cùng. Hỏi ra mới biết cậu ta được giải nhất Olympic Toán quốc tế và được học bổng sang Pháp do giáo sư Germain giới thiệu. Hải có nói chuyện với cậu về toán, về nhà toán học Việt Nam  Đại học Sorbone Bùi Trọng Liễu và giáo sư Schwartz mà anh rất ngưỡng mộ thời sinh viên. Nói chung Hải rất ấn tượng với những người làm toán, và còn ấn tượng hơn là khi được đọc thơ của họ nữa. Cậu sinh viên đó cũng rất sành thơ, biết cả bài " Tống biệt hành " của Thâm Tâm. Hải nói là ở trường Đại học Bechar Algerie có giáo sư Lê Nguyên Tảo của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sang dạy cùng đã dịch bài thơ này sang tiếng Pháp.

3.      CÁI KHĂN VÀ BÀN TAY

Mấy hôm Hải đến nhà ăn trường Đại học Sorbonne vào giờ đông người, bê cái mâm nhựa ra tìm bàn ngồi. Xa xa có bàn còn chỗ trống. Hải đi về phía đó. Có mùi nước hoa. Có một người phụ nữ quàng khăn mầu xanh sẫm ngồi, cái khăn anh thả lại vào thùng hôm đó. Hình như anh không đắn đo gì để đôi chân đưa thẳng mình đến đấy và nói:

- Pardon mademoiselle, c'est libre? (Xin lỗi cô, chỗ trống chứ - tiếng Pháp).

- S'il vous plait (Xin mời - tiếng Pháp) - Cô gái ngẩng lên nói. Đôi mắt Arab, to đen huyền diệu với khuôn mặt xinh đẹp, làn da trắng nõn. Cô cười, má lúm đồng tiền và chúc người đàn ông châu Á tóc xoăn mà lại có vẻ hiền, lịch sự như một người Âu đó ăn ngon. Cái lúm đồng tiền của người con gái Việt khiến Hải khó rời mắt được.

Hải im lặng ăn, cái nhìn bỗng dừng lại ở bàn tay phải cô gái đang cầm mẩu bánh mì. Cô nàng thuận tay trái. Hải như thấy lại cái cảm giác hôm nọ ấy. Ngón tay giữa tròn dài trắng mịn, búp măng, không để móng, không tô màu. Đúng ngón tay mà Hải đã vuốt xoa dưới đống vải, quần áo trong thùng đây rồi. Cô gái bất chợt dừng cái nhìn ở bàn tay trái của Hải đang cầm miếng bánh mì. Các bàn tay như nhận ra nhau.

Thực ra tiếng Việt là thứ tiếng mẹ đẻ nhưng nó lại làm Hải lúng túng với đàn bà lúc làm quen. Tiếng Nga dễ hơn nhiều. Tiếng Pháp thì tuyệt. Nó gợi.... Hải hỏi cô gái là nhà ăn sinh viên ngày mai có phải ngày ăn cá không và giải thích là ở các nhà ăn của sinh viên các nước Đông Âu quy định thứ năm chỉ ăn cá chứ không ăn thịt. Thường thì các sinh viên Việt Nam ngày đó là bỏ nhà ăn nhưng Hải thì không, nhất là hiện nay đang làm việc ở sa mạc, chỉ ăn toàn thịt cừu, thịt bò. Sang Pháp lang thang trong dịp nghỉ Xuân lại thèm cá và thịt lợn. Rồi bằng mấy câu hỏi về tên Pháp của các món ăn anh đã đi vào thế giới của cô gái lúc nào không biết. Cũng có thể vì Hải hỏi tên cái món như hạt kê ở mâm em mà anh không chọn lúc lấy đồ ăn và em đã xúc cho anh nếm thử. Cũng là cớ để Hải mời cô gái đi uống cafe ở vỉa hè gần trường. Gió mát, em bỏ khăn để mái tóc đen bồng bềnh quanh cái cổ trắng mịn. Chiếc khăn tuột rơi xuống đất. Hải nhặt lên và ngắm nghĩa các hình chữ cổ. Cô gái giải thích cho Hải ý nghĩa của các ký tự Phương Đông trên chiếc khăn. Anh nghe nhưng hiểu ít lắm. Có thể do hạn chế của vốn tiếng Pháp, có thể anh chỉ thấy mỗi bàn tay em, cái ngón tay trỏ chỉ các hình trên chiếc khăn, ngón tay giữa thân quen anh đã vuốt xoa nhiều nhất trong cái thùng ở chợ ấy, ngón đeo nhẫn, cả năm ngón và thấy nao nao như hôm nào....

4.      AISHA

Em tên là Aisha, sinh viên năm cuối ngành Phương Đông. Em nói tiếng Việt thoải mái và muốn Hải chuyển sang dùng tiếng Việt. Giá như nói bằng tiếng Pháp thì Hải có thể khen em đẹp, khen cả đôi bàn tay và cái má lúm đồng tiền nữa. Với tiếng Việt anh lại lúng túng, ngượng ngượng. Ngay cả xưng “Anh“ cũng không ngại, mới quen, cứ phải dùng xưng "Tôi", lại khô quá.

Mẹ Aisha là người Việt, bố là người Algerie, lính trong đội quân Viễn chinh Pháp ở Việt Nam. Aisha nói tiếng Việt lưu loát, giọng Bắc. Tất nhiên nhiều từ em không biết. Có thể ngôn ngữ mẹ đẻ đó với em lại như xa lạ hơn tiếng Pháp để có thể kể về bố mẹ mình thoải mái hơn, không ngượng. Nhà giam tù binh của bố và khu nhà cải tạo nhân phẩm của mẹ gần nhau. Bố bị Việt minh ta bắt còn mẹ thì được đưa từ vùng xuôi lên. Trước mẹ em là gái nhảy trong các bar của quân đội Pháp. Khi Algerie tuyên bố độc lập bố em được trở về nước và mang theo người vợ Việt Nam. Aisha sinh ra là con út, sau hai anh trai. Hai anh thì giống khuôn bố, râu rậm. Em giống mẹ. Dòng máu châu Á trong em hình như mạnh hơn. Cũng không chỉ bề ngoài mà cả tính cách nữa. Em thích những bài tiếng Việt mẹ ru.

- Bao giờ chỗ vắng em sẽ hát ru anh nhé. - Aisha nói với Hải, đôi mắt đau đáu nhìn...

Hôm sau Khiêm có việc đi Tây ban nha ba, bốn ngày. Mấy ngày đó sao Paris đẹp thế. Hai người gặp nhau, cùng ăn trưa trong trường rồi đi uống cafe vỉa hè, đi dạo bộ khắp các phố gần đấy. Họ có khoảng gần hai tiếng bên nhau, sau Aisha trở về trường để học. Hải thì còn đi lang thang mãi một mình. Thói quen có từ thời sinh viên là đến một thành phố lạ là anh cứ lên bừa một xe bus kiếm chỗ ngồi cạnh cửa sổ ngắm phố xá, nhà cửa, con người. Paris cũng không ngoại lệ. Chỉ có đôi khi trở về cho nhanh thì đi Metro thôi. Tiện thật nhưng tàu điện ngầm ở Thủ đô Ánh sáng này nhếch nhác quá, toàn dân lao động, da màu, Arab, Á Đông.

Một hôm Aisha nghỉ chiều và hai người đi Metro ra ngoại ô để vào rừng. Có một ông lôi thôi mũ mãng, áo choàng ghi sẫm cũ rích bước vào toa tàu đứng nói liến thoắng. Hải nghe lõm bõm câu được câu chăng như lúc đi xem Opera ấy. Với sự giảng giải của Aisha anh mới hiểu là ông ta kể cho mọi người về nguồn gốc tổ tiên mình. Nghe đâu là hậu duệ của vua Anh và công chúa Áo, rồi còn thân cận với cả Napoleon nữa. Dòng giống danh giá, lập nhiều chiến công, giàu có lắm và đến đời ông này bây giờ không may bị phá sản, bị người tình lừa lấy hết tiền rồi bỏ đi Nam Mỹ. Cuối cùng là ông ta cầm cái mũ xin tiền. Thế mà cũng có người cho. Hải đùa nói với em giới thiệu anh thuộc dòng giống Trần Hưng Đạo, em thì là hậu duệ của Anibal với Bà Trưng, nhưng trước hết phải đi mua cái mũ giống của ông kia đã. Em cười sung sướng như trẻ con.

Chỉ mấy ngày bên nhau mà vốn kiến thức về Việt Nam của em và vốn từ tiếng Pháp của Hải đã khá lên đáng kể. Buổi tối về anh tranh thủ hỏi Khiêm về các kiến thức văn hoá Việt Tàu để ngày mai giảng giải cho em. Khiêm đưa sách nhưng Hải lười, không đọc. Lúc Khiêm làm việc, viết lách Hải quay ra xem vô tuyến. Có hai chiếc TV, cái nọ chồng lên cái kia. Đến Noel bên Pháp họ hay thải đồ cũ đi, cho không. Hải hỏi sao lấy ít thế thì Khiêm bảo: "Hai là đủ, một cái xem hình, một cái nghe tiếng".

5.      HOA OẢI HƯƠNG

Lại nói về cái hôm đi chơi với Aisha ở ngoại ô ấy. Rời Metro hai người lên đi bộ một lát thì vào đến vạt rừng. Một cánh đồng trồng hoa Oải hương trải dài đến tận toà lâu đài cổ. Em kể là thời xưa người ta dùng Oải hương làm hương liệu khi tắm, và cái tên hoa Lavender gốc là từ tiếng Latin "Lavare " có nghĩa là tắm. Khi xưa xà phòng còn là một thứ xa xỉ, chỉ dành cho tầng lớp quý tộc, thì những người dân bình thường đã tắm trong nước cho thêm hoa Oải hương vào, thơm ngát. Phải đến tháng Bảy thì cánh đồng sẽ rất thơm mùi hoa, sẽ là một mầu tím ngắt những cánh hoa. Còn trong tháng Năm này, trong ngày này Hải chỉ thấy mùi nước thơm Chanel, mùi thơm của tóc em, mùi của môi em nữa...

Đấy là khi hai người leo lên chỗ đồi dốc để đến chỗ gốc cây sồi. Hải rải chiếc áo khoác xuống và hai người ngồi tựa lưng vào gốc cây, duỗi chân ngắm nhìn cảnh mênh mông nhấp nhô đồng, rừng xung quanh. Có một con nhím chạy qua. Chắc còn nhiều con đằng sau rình mò lắm. Mặc kệ, họ hôn nhau. Rồi Hải nằm ngửa gối đầu lên đùi em. Em hát cho anh nghe bài hát ru bằng tiếng Việt. Bài ru mẹ ru em lúc bé và dạy em thuộc sau này. Mẹ biết tiếng Pháp, nói với con trai bằng tiếng Pháp nhưng với em chỉ nói tiếng Việt, rồi dy em viết chữ Việt nữa.

Không hiểu sao Mẹ cứ nghĩ là sau này có lúc nào em sẽ trở về sống ở Việt Nam.

- Mẹ nhớ Việt Nam nhưng không dám về thăm. Với lại cũng không biết về đâu, không nhớ có ai thân. Mẹ chỉ nhớ quê ở Nam Định, có con sông rồi theo từ nhỏ theo bà gì ấy ra Hà Nội bán hàng ở phố. Rồi mẹ đi làm ở quầy bar cho lính Lê Dương, bị Việt Minh bắt đưa lên miền núi cải tạo. Bố em đi lính cho Pháp, bị bắt ở Điện biên phủ. Hai nơi giam cạnh nhau, nhiều người thành đôi. Bố lấy Mẹ đưa về Oran Algerie. Sau khi đẻ em ông bà sang Pháp sống. Bố vẫn lĩnh lương hưu của chính phủ Pháp và được định cư. Mẹ muốn sống ở Marselle, nơi có nghĩa trang người Việt. Mẹ mới chết khi em vào Đại học. Mẹ được chôn ở khu người Việt. Mẹ vẫn nhớ Việt Nam. Mẹ mơ ước trở về Việt Nam một lần mà không kịp. Em học ngành Phương Đông này chắc có cơ hội thay mẹ thực hiện điều đó. Em sẽ học cả nấu món ăn Việt Nam. - Aisha vuốt mái tóc anh. Họ ngắm nhìn nhau. Dòng máu Việt trong hai người tìm nhau.

6. BẦU TRỜI

Đằng sau hai người là rừng cây Dương. Trước mặt là thung lũng thoải dài để bầu trời như rộng thêm. Bầu trời Châu Âu có cái gì đó khác lạ. Đã có lần Hải hỏi Khánh, một người đam mê chụp ảnh: "Sao ảnh chụp mầu bên Tây và ở Ta nó khác nhau đấy. Cùng một loại cảnh, loại cây, sông nước mà có thể đoán không nhầm không phải chụp ở Việt Nam". Khánh nói: "Không khí anh ạ. Nó khác".

Những đám mây trắng trôi trên đầu, có những mảng trôi cả xa xa. Có đàn chim bay nữa, xa dần. Hàng của chúng không đều lắm, như lại có hai chỗ trống nữa. Chúng bay đi đâu hay bay về đâu. Quê Hương. Hải ngước nhìn em. Em cũng đang ngước  lên bầu trời dõi theo chúng, tay vẫn xoa, xoắn những cụm tóc của anh. Hải sực nhớ đến mấy dòng trong Nhật ký Anne Frank vừa đọc hôm trước: "Tôi đang nhìn thấy thế giới dần chuyển thành một sự hoang dại,..., nó sẽ hủy diệt tất cả,... vậy mà nếu ngước nhìn lên bầu trời, lại nghĩ rằng mọi chuyện sẽ ổn thỏa, rằng cái tàn nhẫn sẽ chấm dứt, rằng hòa bình và bình yên sẽ trở lại".

Và em cúi xuống. Một cái hôn thật lâu, thật sâu. Mùi thơm của mái tóc em mùi nước hoa Chanel 5 da diết, mùi hoa oải hương, mùi đất cỏ nồng hăng hắc, tất cả tràn ngập trong anh. Trong giây phút đó với Hải em là cả thế giới, Aisha.

Rồi Hải ngủ lúc nào không biết trong tiếng ru của em. Tiếng em ngân "À ơi, con cò mà đi...", những lời ru theo câu thơ lục bát quen xưa đã đưa anh về quê hương, có dòng sông, con đê, luỹ tre. Trong giấc ngủ anh như thấy mắt mình ướt, nước mắt chảy xuống hai bên. Hình như không chỉ là nước mắt của anh. Hình như bàn tay em vuốt lau nhẹ đi hay sao ấy. Thấy cả những ngón tay quen thân hôm xưa anh cầm vuốt xoa dưới đống vải trong thùng ở chợ St Denis ấy.

Hôm đó em rất chiều anh, nhưng không cho Hải đi quá giới hạn. Phong tục phụ nữ xứ Đạo Hồi mà. Chỉ người chồng mới được quyền đó. Để nguôi anh đi em đứng dậy nhảy, hát và nhún nảy các vũ điệu Arab. Hải lại cứ như tưởng mình là một Pharaon. Chán rồi em chuyển sang nhảy các vũ điệu trẻ Âu Mỹ. Vừa nhảy vừa hát "Comment ça va, comme ça va comme ci.." rồi kéo anh ngồi dậy và hai người chạy đuổi nhau xuống dốc. Hải còn ngoái lại xem có quên gì không. Cái con nhím lại nhảy xuống chiếm chỗ của anh lúc nãy. "Tu es lâche (Đồ hèn - tiếng Pháp)" - Hải chào nó và chạy đuổi túm được em ở mãi dưới đường cái. Vào đến Metro thì mưa, may thật.

7. COMMENT CA VA

Khiêm vẫn chưa về. Buổi tối Hải không muốn đọc những sách của Khiêm như thường lệ nữa. Bật TV xem cũng chán. Chỉ lắm quảng cáo và sex thôi. Lướt mãi đến kênh Viva của Đức có tiếng hát vang lên: " Comment ça va, comme ça va comme ci..". Cái bài hát em hát và uốn vai trêu Hải chiều nay cho anh nguôi những thèm khát đi. Anh lại thấy em chạy xuống dốc, mái tóc bồng bềnh bay, cái túi xách vung theo. Hải nằm nhắm mắt, thật chậm nhấm nháp tour lại cái trailer chiều đó. Rồi tự tạo cho thêm cảnh như trong phim là Hải vùng dậy chạy theo em, đuổi bắt được để em trong vòng tay và lại mùi nước hoa Chanel 5 từ mái tóc, mùi em, vị ngọt lưỡi môi.

Hải ngủ thiếp đi lúc nào với bài hát Pháp đó. Giai điệu vẫn rộn ràng nhưng lại là giọng ca tiếng Việt. Không chỉ có giọng ca sỹ Thanh Lan. Có giọng Hà, trầm hơn. Anh lại nghe thấy giọng đàn ông, giọng Quang:

- Phải đẩy thân chứ Hà, chân chỉ thả mũi rồi xuống gót thôi. Cha Cha Cha là chuyển động tự nhiên, không gò bó. Chuyển động hông mạnh, đầu gối căng giữa hai phách, trọng tâm phía trước khi tiến trên mũi chân. Hai phách đầu là của Rumba khêu gợi, hai phách sau là dướn Cha Cha Cha để...

- Anh, khéo chồng em về.... Thôi mà... Để dành chiều mai ông ấy đi công tác Thanh Hoá bốn ngày

là em sẽ bù.

Hải quay đi, phóng nhanh lên Hồ Tây rồi ra bờ sông. Gió bờ sông khác gió ở hồ, nhẹ bỗng. Có lẽ vì sông còn biết chảy, có dòng. Hồ không. Hải tìm chỗ vắng ở bờ đê, khoá xe nằm ngửa nhìn trời, không thấy đói. Những đám mây trắng trôi trên cao. “Có phải những đám mây xưa không, thời tôi chưa gặp Hà ấy“. - Anh thấy nhói trong tim.

Nửa năm sau đó họ chia tay nhau. Cũng đơn giản vì họ chưa có con. Hà sang Tiệp. Quang đi quản lý lao động bên đó. Hai người rất thích nhạc Pháp, thích khiêu vũ. Họ dân Hà Nội, không như Hải. Hồi quen nhau qua giới thiệu Hải có kể về Hà cho ông anh họ. Ông kêu: "Sao lấy nó được mày. Tao đây, một bài học. Nó đã là gốc Đức Thọ lại sinh ra ở Hà Nội, con nhà trí thức, sao mày chiều được. Đàn ông học giỏi, đam mê sự nghiệp cũng là cái hấp dẫn nhưng cái đó cũng chỉ là phụ mày ạ. Con gái Hà Nội cần những cái khác đã, là tài lẻ, biết chiều, tâm lý, thanh lịch. Chữ nghĩa, công thức cũng chẳng cần nhiều lắm. Cần là mấy bài thơ tình kiểu Hoa Tigon, một chút thơ Tây. Thơ tình Puskin mày đọc chưa" - Ông anh họ nhìn Hải rồi lắc đầu ngâm nga: "Anh yêu em đến nay chừng có thể, ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai...".

Lúc đó Hải có nói với ông anh là bài thơ đó dịch sai bét. Puskin kiêu ngạo lắm và bài thơ bộc lộ điều đó, có sự doạ dẫm thách đố. Puskin luôn thế mà. Ông anhi: "Con gái Hà Nội không quan trọng đúng sai mà là thích nghe lời chiều, lời đẹp, bóng bẩy kiểu Mã Giám Sinh hay Don Juan ấy. Rồi còn phải đi chơi với hội những người thanh lịch Tràng An. Ôi nhiều cái phải sửa lắm, quần áo, dáng đi, lời nói. Hai điều không thể thiếu với gái Hà Nội là hoa và lời yêu. Phiêu lưu đấy thằng em nhà quê à" - Ông anh nhìn Hải thông cảm và lẩy thơ tiếp:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Không phải những viên cuội lăn dưới chân con lừa trong truyện của Anphonse Dodet mà là những câu thơ đọc lên, từng câu một rơi vào nhói trái tim Hải.

Rồi Hải vẫn yêu Hà. Có thể không nhiều, không say đắm, không lãng mạn như trai Hà Nội ấy. Cũng có thể là Hải yêu kiểu khác, kiểu của người Nhà Quê, nhịp khác, không theo đúng cái nhịp Cha Cha Cha ấy. Lấy nhau xong còn nhiều việc phải làm. Hải muốn nghiên cứu tiếp vẫn đề đã có trong luận án ptiến . Rồi còn phải làm thêm các đề tài ứng dụng để có tiền xây lại nhà và dự trữ để còn đẻ con. Muốn gì cũng không thoát khỏi cái ý nghĩ "cơm áo gạo tiền". Ôi cái anh nhà quê trong anh nhiều cái lo quá. Cái lo giữ vợ thì lại không biết. Mà làm sao giữ được. Đi chơi cùng Hà đến hội bạn hát, nhảy, sinh nhật, đám cưới, đám xin anh lúng túng lắm. Thôi để Hà đi một mình đại diện, nói chồng bận. Mà anh bận thật. May có Quang gần nhà, lại chơi chung cùng hội hay giúp đưa Hà đi. Quang là người Hà Nội gốc, thanh lịch.

8. HAI NGƯỜI BẠN

Thực ra chỉ có chuyện hôn nhân của Hải là dang dở còn việc học hành lại gặp may. Tốt nghiệp phổ thông cùng nhau anh được đi học ở Liên xô rồi ở lại làm nghiên cứu sính. Khiêm thì nhập ngũ, hết chiến tranh trở về nhưng cánh cửa các ngành Đại học kỹ thuật không mở cho thương binh loại 3/4 như anh, chỉ còn các ngành Đại học xã hội. Khiêm vào học Văn cho nhàn lại có điều kiện làm thêm đỡ vợ con rồi tốt nghiệp và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy khoa Văn của trường Tổng hợp. Khi Hải đi dạy học ở Algerie thì Khiêm đi sang Pháp nghiên cứu. Cũng chẳng biết Khiêm học tiếng Pháp bao giờ chứ trước đó chỉ thấy Khiêm nói tiếng Nga thôi. Khiêm yêu Văn học Nga. Có lẽ nhà trường cũng nghĩ như vậy nên cho anh đi thi trong đội ngũ quân xanh, ai ngờ lại đỗ đầu. Sang Paris Khiêm như chuột sa chĩnh gạo. Thư viện ở Paris lưu trữ bao nhiêu thứ về Việt Nam, về người Việt. Khiêm đọc ngốn ngấu say sưa. Hải cũng đành kệ bạn, lang thang một mình khắp nơi. Đầu tiên còn ngỡ ngàng nhưng rồi quen dần. Rồi thấy yêu Paris. Paris có đại lộ Champs - Élysées, tháp Eiffel, bảo tàng Louvre, nhà thờ Đức Bà, lâu đài Versailles...có bao nhiêu nơi Hi  như đã đi qua trong các truyện đọc thời thơ ấu, các truyện của Balzac, Hugo, Duma ấy.

Và hơn cả là Paris có em, Aisha.

9. SÂN BAY

Hôm Khiêm phải báo cáo nghiên cứu về cụ Phan Châu Trinh ở hội thảo Việt Nam học trong trường Đại Học là hôm Hải phải rời Paris, trở về Algerie. Hải nói với em đừng đi tiễn. Đến trường nghe Khiêm và mọi người khác nữa nói về quê mẹ em là một cơ hội hiếm hoi. Đằng nào Hải cũng phải về Algerie kịp giờ lên lớp ngày mai. Có Khiêm em sẽ hiểu được nhiều về con đường, những ngã ba mà dân tộc Việt đã đi, đã loay hoay rồi đã lựa chọn và từ sựa chọn đó là số phận của Nó, của từng người, có cả của mẹ. Điều đó sẽ giúp cho sự lựa chọn sắp tới của em. Không vội em nhé, Aisha. Hải nói cho em và cả cho mình.

Hasen tiễn Hải. Anh thứ hai của Aisha tốt nghiệp ngành điện tử ở trường Đại học Alberta ở Canada và làm việc ở Paris. Hasen nói với Hải lúc gửi hành lý xong đang chờ vào:

- Cậu giữ sức khoẻ nhé. Có thể tháng sau tôi sẽ qua Oran có việc. Chúng ta sẽ nói chuyện nhiều về Việt nam, về con bé.

Họ không nói chuyện tiếp được. Một đội cảnh binh từ đâu súng ống chạy vào rầm rập và mọi hành khách bị dồn trở lại một phía. Bỗng có một người đàn ông châu Á thấp chắc mặc quần bò áo vest đen đi đến và đột ngột túm lấy cánh tay Hải, bàn tay cứng như thép. Một câu nói nhẹ bằng tiếng Việt: "Theo tôi". Hải đi theo không nghĩ ngợi gì, cũng không quay lại nhìn Hasen. Ông ta dẫn anh đến cửa vào và buông tay.

Về đến Algerie, tối xem TV thấy nói ở Pháp có vụ tội phạm gây lộn xộn ở Marseille và Paris. Cò Lộc cùng đội đã phá gọn xong trong ngày. 

                                       MARIA THÙY DƯƠNG

Nếu có phép mầu cho tôi làm lại

Tôi sẽ khôn hơn, không sẽ dại khờ hơn

Chẳng đắn đo băn khoăn suy tính

Chẳng công danh sự nghiệp chỉ tình em 

1.      BÓNG VÀ BÀN

Như đã định từ tháng trước, ngày 24 tháng Chạp này câu lạc bộ bóng bàn chúng tôi chơi bóng sớm hơn từ chiều để tối còn ăn Noel rồi đi Karaoke. Lần này chỉ làm hai món thôi, món nem rán thịt có trộn cua bể và món chả cá mực. Món sau thì là từ Nam Định, ông Hưng mang lên, còn món đầu là tự tay ông Lập, chủ nhiệm câu lạc bộ đạo diễn gói và rán. Ông thày Vật lý Đại học Bách khoa này và cũng là thày dạy hát, lại là dân Hà Nội gốc, thanh lịch, tinh thông và sành đủ thứ. Tôi vẫn ước là có được chút cái tài hoa trời phú của ông ấy, chỉ một chút thôi thì chết với tôi.

Đấy là nói về tôi thôi, một người Nam Định tuy lên Hà Nội đã lâu mà vẫn tòi cái đuôi quê kệch lớ ngớ, thấy con người và thế gian này vẫn lạ lẫm mơ hồ chứ trong câu lạc bộ này còn mấy ông khác cùng quê thì cũng thạo việc, thạo người lắm, kh74ông đến nỗi như tôi đâu. Chắc là do họ chăm đi nhiều nên biết nhiều, học được nhiều kỹ năng thôi, tôi tự an ủi mình và tự hứa là sẽ cố chữa xong cái bệnh đau dạ dày đã bị 3 năm nay rồi để cùng đi các vùng miền đất nước với họ, để học hỏi thêm chứ cứ sách với vở, cứ quanh quẩn Hà Nội, cứ gà què ăn quẩn cối xay thì chẳng biết gì cả, chán lắm. Mỗi lần cả câu lạc bộ đi xa về, nghe các ông ấy kể chuyện, khoe các chiến công mà lại thấy chạnh lòng.

Mỗi người một chân một tay, bàn ăn bày đã xong, thịnh soan, trông cũng bắt mắt. Mọi người đủ ghế rồi, yên vị ngồi quanh cái bàn bóng trải khăn, bày các món ăn, cốc, rượu rất thanh lịch, nem vẫn còn nóng. Đó là do câu lạc bộ này có ba nữ, đều người Tràng An cả. Đúng ra là còn hai cô vắng mặt, hình như đi dạ hội khiêu vũ tối Noel trên phố thì phải. Mấy hôm trước đến chơi bóng mà cứ nhún nha nhún nhảy như trên sàn vậy. Rồi lúc nghỉ hai cô lại ôm nhau đi lên đi xuống. Một cô bảo đó là điệu nhảy mới du nhập vào Việt Nam, đang hot lắm, vũ điệu Kizomba gốc gác từ Angola, học rất dễ. Tôi nghe mà cũng thấy hoang mang.. 

Lần liên hoan Noel này ông chủ nhiệm câu lạc bộ lại có phát ngôn gây sốc là mọi người tha hồ nói mọi chuyện chỉ có nhớ cho kỹ rằng "Thơ sẽ không được hoan nghênh". Chẳng là ông ta bị ám ảnh bởi chuyện có một người cùng bộ môn ở ĐHBK Hà Nội xưa sang định cư ở Canada mới về thăm lại nói là bên đó định cấm nhập cư người dính dáng tới thơ. Làm thơ, đọc thơ, phê bình thơ, dài ngắn là cấm tuốt cho bình an. Thơ là thứ đáng ngờ, chắc họ cho là vậy chứ quan hệ ta và họ vẫn tốt mà. Phần đông nghĩ là cái ông Việt kiều về chơi ấy chắc thấy ở trường ĐHBK nhiều nhà thơ quá nên nói trêu vậy thôi. Còn buổi hôm nay cũng có thể là ở câu lạc bộ cứ liên hoan là hết người nọ người kia lại đọc thơ, làm khổ người khác trong đó có ông chủ nhiệm câu lạc bộ, nên ông ấy đe trước.Ông ấy cũng nghĩ đến cái chung thôi, lo xa sợ ai đó lại bỏ đi nhảy mất, đã mất đi hai cô rồi. Người Hà Nội tế nhị nên ông mượn lời ông bạn, cái ông tên là Đỗ Quyên ở Canada về chơi đó, cái ông còn biếu bộ môn hẳn một cuốn tiểu thuyết dày mà tôi đọc thấy hay quá vì chẳng hiểu gì cả.

Mấy nhà thơ trong câu lạc bộ có chút tưng hửng. Có ông đã chuẩn bị thơ trên giấy, có ông thì trong điện thoại. Nhưng thôi, không thơ thì truyện vậy. Canada không cấm truyện mà, trái lại thì có Nhà xuất bản truyện diễm tình Halerquin ở Toronto hàng tháng có tới 6 tác phẩm mới được ra đời và bán tại hầu hết các quầy sách báo ở Canada, Mỹ, Úc, Tây Âu, và có lẽ là hầu hết ở mọi nơi trên thế giới trừ Việt Nam ta thôi. Không động đến thơ, chúng tôi xoáy vào cái tiểu thuyết "Sóng Faifo" của Hưng, ông Đại tá Tiến si Kỹ thuật. Khi xưa, mỗi lần đến chơi bóng, lúc nghỉ anh em lại xúm lại nghe ông kể thêm một mẩu mới viết. Mấy hôm ông ấy vắng mặt, điện đóm mãi cũng không thấy trả lời. Có người lo ông ấy ốm, có người lại cho rằng ông ấy dành thời giờ để hoàn thiện đứa con tinh thần, nghe đâu đến chương thứ 10 rồi. Cũng có người lo xa hơn, liệu ông ấy có dính vào chuyện gì không nhưng tôi gạt ngay. Ông bạn tôi dù sao cũng hạ cánh an toàn rồi. Tôi mong là vậy, mong là sẽ không có biến cố gì xảy ra với người Nam Định nữa.

Hóa ra không phải, ông ấy về Bùi Chu ở Nam Định để thắp hương cho một ma soeur cho kịp Noel. Lần vừa rồi, đầu tháng cả câu lạc bộ  (không có tôi) đi về chơi thăm Xuân Trường quê ông, bận bịu với đoàn, ông không kịp đi thắp hương.

Và chúng tôi nghe ông kể về câu chuyện tình của ông đó, "Chuyện Tình Người Ngoại Đạo".

2.      CHUYỆN TÌNH NGƯỜI NGOẠI ĐẠO

Ông Hưng không ngồi mà đứng kể chuyện giống như mọi lần đứng đọc thơ ấy. Giọng ông trầm ấm, hát cũng hay, có chăng chỉ thua ông chủ nhiệm câu lạc bộ người Hà Nội thôi. Tiếng ông lại lúc lên lúc hạ như theo một giai điệu với những kỷ niệm và cảm xúc được cất giữ trong lòng bao lâu đang trào dần ra. Ông Lập ngồi xa giơ tay ra hiệu để mọi người yên lặng.  

- "Ở huyện Xuân Trường người theo Đạo không đông như bên huyện Hải Hậu, tuy vậy nhà thờ cũng nhiều lắm và đã gắn bó với tuổi thơ chúng tôi. Cứ cuối năm đến là cả lũ trẻ xóm tôi lại kéo nhau đi vào xem nhà thờ lung linh ánh đèn, cây thông, hang đá, xem dân Công Giáo làm lễ cầu Chúa. Những người theo Đạo ấy họ vừa gần gũi lại vừa có gì khác lạ so với chúng tôi. Dương cũng vậy. Tôi biết em từ lúc lên 6, Dương mới lên 3. Tuy khác xóm, nhưng hai nhà cách nhau có mấy bước chân".

Hưng dừng lại, rót thêm rượu và mọi người lại nâng cốc. Trong câu lạc bộ không có ai theo Công Giáo cả. Mọi người vừa ăn vừa lắng nghe kể chuyện. Hưng không ăn, chỉ uống và lại tiếp tục câu chuyện.

- "Chúng tôi lớn lên và gắn bó bên nhau và thuở ấy hình như ngày nào cũng gặp nhau thế mà em vẫn luôn có cái gì đó khác với bọn con gái cùng làng. Chắc là do cầu kinh, do nhìn ảnh Mẹ Maria hàng ngày nên Dương có đôi mắt giống của Đức Mẹ trong ảnh, đôi mắt hay nhìn tôi hiền dịu, đôi khi chỉ nhìn chăm chú, im lặng, không biết em định nói gì. Từ bé em đã vậy. Lớn lên em vẫn vậy. Tôi quen rồi, quen cái nhìn của em, quen đôi mắt lúc như đau đáu, lúc như xa xăm, đôi mắt to nhung đen ấy. Rồi năm học lớp 10 tôi được giải vô địch các cây vợt trẻ bóng bàn của huyện Xuân Trường. Một cảm giác sung sướng tràn ngập khi lên nhận giải thưởng là tôi bỗng nhìn thấy em ở chỗ khán giả, đôi mắt huyền nhìn tôi ánh lên sự hân hoan ngưỡng mộ. Lúc đó tôi tưởng mình như một hiệp sỹ thánh chiến vừa giành được chiến thắng sau trận đấu sinh tử và đến cúi đầu trước người đẹp để nàng đội vòng nguyệt quế lên đầu như trong truyện của Wanter Scott ấy. Buồi tối tôi muốn gặp em nhưng em lại đi lễ nhà thờ. Rồi bà con, họ hàng, thày giáo, huấn luyện viên bóng bàn huyện đến chơi chúc mừng bàn chuyện tiếp theo thi đấu giải toàn tỉnh. Thôi để dành vậy, được giải to ấy tôi sẽ về tìm em sau. Rồi tôi lên thành phố Nam định thi đấu. Gặp ngay Hiếu học sinh trường Lê Hồng Phong của thành phố, sau là danh thủ kiện tướng bóng bàn Việt Nam và thua luôn 0-3, có ván chỉ được mỗi quả, cũng do Hiếu nương tay cố ý giao bóng hỏng. Buồn quá, buổi chiều tôi đi lang thang phố, qua nhà thờ lớn có tượng Đức Mẹ to bên ngoài. Tôi qua mấy cửa hiệu gần đấy bán tranh Công Giáo. Tôi lại thấy những khung ảnh Mẹ Maria treo bày. Lại như thấy Dương và nỗi buồn thua nặng trận bóng bàn buổi sáng vơi đi ngay. Tôi như có em bên cạnh. Lại nhớ có lần em nói là Chúa luôn bên ta mà, Người sẽ đỡ cho ta vượt qua mọi nỗi khổ. Thế là tôi thấy nhẹ đi. Rồi tôi không ngớt nghĩ đến mua quà cho em. Tôi đi dạo các phố, các cửa hàng phố người Hoa nữa, la liệt các hàng đẹp mà không biết mua gì cả, chán thế. Chỉ khi về, lúc xe đỗ nghỉ giải lao tôi thấy cái vòng nhựa bán bên đường. Tôi mua về tặng em. Buổi trưa em đợi tôi ở sân sau nhà thờ, nơi chỉ có mấy con chim sẻ thơ thẩn, hàng cây xanh cũng như đang yên lặng ngủ trưa. Tôi nói dối em là mua cái vòng ở chợ Rồng thành phố. Em đưa tay cho tôi đeo vào. Tôi cầm bàn tay em, bàn tay của Đức Mẹ Maria, búp măng ngón thon dài mà run lên. Em thì vẫn nhìn còn tôi cúi xuống, đôi mắt nhung mê hồn rất gần. Cả hơi thở, cả môi nữa, rất gần.... Vòng rộng. Em nói sẽ quấn thêm một đoạn là chặt. Tôi còn nhớ cái vòng đó mầu xanh lá cây và em thích thật. Em nói nó giống màu cành oliu trong tranh Thánh. Quả thật trước đó tôi chưa hề biết mua quà tặng cho ai cả.

Tốt nghiệp phổ thông tôi đi học Đại học ở Trung Quốc. Được một năm bên đó làm Cách mạng Văn hóa các lưu học sinh Việt Nam đều về nước. Lại đúng lúc chiến tranh đã leo thang ra ngoài miền Bắc. Tôi lại được chọn đi học Đại học Quân sự ở Liên Xô tiếp, nhiều chuyện bất ngờ vội vã quá, chuyện cô bé có đôi mắt Đức Mẹ trở thành ký ức. Rồi học xong với tấm bằng đỏ, tôi được đề nghị chuyển tiếp thành nghiên cứu sinh. Tôi đã là một sỹ quan, phía trước cả một con đường lớn, khoa học, sự nghiệp và nghĩa vụ. Tôn giáo không có chỗ trên con đường tôi đi. Nghe nói em cũng không còn ở làng nữa, đi học xa, tôi không gặp. Sau khi xong nghiên cứu sinh ở trường cũ, tôi trở về công tác ở miền Nam rồi chuyển ra Hà Nội và lập gia đình. Vợ tôi là người Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội. Cuộc sống cứ thế trôi như được mặc định sẵn. Chỉ mỗi năm khi lễ Noel đến, khi nghe những bài hát Giáng Sinh tôi lại nhớ em, nhớ cái nhìn của em, nhớ những chuyện em kể về tình yêu thương của Chúa Jesu với con người. Người đã dùng quyền năng đi khắp nơi để chữa lành cho nhiều người nghèo khổ, bệnh tật, bị phong hủi, bại liệt để họ được lành bệnh, kẻ điếc được nghe, kẻ mù được thấy, kẻ câm nói được. Chúa còn rửa chân cho các môn đệ để dạy họ bài học yêu thương giúp đỡ con người. Lúc đó trong đôi mắt của em ánh ướt lung linh tràn đầy những yêu thương.

Cũng có đôi khi tôi mơ thấy em. - Hưng dừng lại nghẹn ngào. Hình như anh khóc. Tất cả chúng tôi chỉ còn biết yên lặng. Cảm xúc dịu dần, Hưng lại kể tiếp - Tỉnh giấc tôi rất buồn. Một giấc mơ buồn, lần nào cũng như lần nào.Tôi mơ thấy mình đang đứng trong hàng thiếu nhi, đánh trống, đeo khăn quàng đỏ oai lắm. Tiếng loa hô rất to "Đả đảo bọn địa chủ cường hào Việt gian bán nước". Tôi lại gõ trống rồn rã. Mọi người lại cùng giơ tay hô "Đả đảo" ba lần. Bố tôi với mấy ông nữa thì đang bị trói quỳ ở sân, chỗ cây có kiến lửa. Bố bị một người họ xa vu cho là Quốc Dân Đảng. Tôi nhìn thấy Dương đang đứng nép vào mẹ. Em không nhìn tôi, đôi mắt mở to sợ hãi. Có lần em bị kiến lửa đốt ở sân, chỗ bố tôi quỳ đó. Hồi đó tôi lên chín, em lên sáu....

Hưng lại dừng lại. Nhưng kỷ niệm đau buồn đau buồn đang dần hiện lên. Sau cái kính cận trắng đôi mắt anh nhắm lại, cái cằm giần giật. Anh đang xúc động. Chúng tôi vẫn yên lặng. Rồi Hưng mở mắt, kể tiếp:

-Thế rồi một lần tôi về thăm quê, tiện qua thăm nhà thờ Bùi Chu. Buổi trưa vắng vẻ không có một ai, tôi lại đi một vòng dạo một vòng quanh nhà thờ đang đóng cửa, vòng lại tuổi thơ, vòng lại những ngày xưa. Phía sau nhà thờ có một người phụ nữ trong bộ choàng khăn đen đang ngồi tay cầm quyển sách, mấy con chim sẻ thơ thẩn gần bên, vẫn bức tường, vẫn những viên gạch đã ăn sâu vào tâm trí tôi, cả những cây xanh ngày ấy, chúng có cao hơn. Chúng vẫn như đang ngủ trưa, yên lặng - Hưng như lạc giọng đi, chúng tôi cũng lặng đi nghe anh nói tiếp, nghẹn ngào - Và tôi lại gặp em. Em với quyển sách hay quyển kinh trên tay, không mở ra, như đang ngồi đợi trong cái áo đen, khăn đội đầu đen choàng cổ trắng của một ma seur. Vẫn cái vòng nhựa xanh đậm trên cổ tay tròn trắng mịn với những ngón búp măng thon dài đặt trên sách. Em ngước nhìn tôi, cái nhìn vẫn xưa trong đôi mắt nhung to ngỡ ngàng...."

Hưng dừng lại. Chúng tôi cũng yên lặng chờ đợi. Anh đang xúc động, lấy khăn lau mắt. Anh kể là Dương chăm sóc trẻ em bị bệnh Phong. Sau cũng bị lây và chết. Đúng hơn là Maria Thùy Dương lại trở về với Chúa.

3.      VĨ THANH

Mọi người sau đó đi hát Karaoke. Tôi xin lỗi phải về để kịp xem bộ phim Ấn Độ, bộ phim về Tình yêu của những con người theo tôn giáo khác nhau. Người ta bảo tôn giáo nào cũng dạy ta làm điều Thiện. Riêng có Thiên Chúa Giáo thì Chúa vì yêu thương loài người nên đã chịu cực hình đến chết, đã hy sinh để dâng lên cho Cha của Người xin ơn tha thứ cho nhân loại. Đó là Đạo của Yêu thương và vì thế tình yêu nam nữ cũng là có Đạo bên trong, là để dâng lên Chúa chứng giám. Tôi sực nhớ đến câu thơ của Wislawa Szymborska, nữ thi sĩ Ba Lan Wislawa Szymborska " Với Lòng tin ở Chúa chúng ta sống dễ dàng hơn và ra đi cũng nhẹ nhàng hơn ". Đúng vậy, mọi thứ trở nên dễ dàng và đơn giản khi có Chúa ở bên, có một Lòng tin, có Yêu thương. Buổi tối Noel Hà Nội thật đặc biệt, lung linh màu sắc và các giai điệu thánh ca. 

                                                                    MƠ HỒ

Cứ day dứt mãi không ra

Mình là Ai, Ai là Ta, là Mình 

1.      HỒ GƯƠM

Hưng, Tùng và Lịch học cùng nhau ở Liên Xô, tốt nghiệp về nước được phân về dạy ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Sau này Lịch xin về công tác ở nhà máy cơ khí địa phương tại Nghệ An quê anh. Tùng thì đi nghiên cứu sinh. Còn lại mỗi Hưng.

Lịch ra Hà Nội giải quyết một số công việc, xong rồi đi thăm bạn bè và các thầy cũ cùng Hưng. Ra khỏi nhà thầy Tuấn chủ nhiệm khoa, Hưng đưa Lịch lên Bờ Hồ chơi. Bình thường mỗi tuần Hưng cũng phóng xe lên vòng hồ một lần, ăn hàng một lần cho đỡ quên là mình đang sống ở Hà Nội. Hôm nay anh kéo Lịch vào hiệu sủi cảo ở phố Tạ Hiện. Ăn xong hai người dựng xe ngồi ghế đá ngắm cuộc sống Hà Nội quanh bờ Hồ, ngắm người, ngắm gái. Lịch nói chuyện đã cưa xong một cô giáo cấp hai ở quê. Có lẽ sang năm cưới. Lịch quay sang hỏi Hưng:

- Thế cậu đến đâu rồi, không nói chuyện trai gái yêu đương cưa cẩm nữa mà chuyện lấy vợ ấy. Nếu bí quá thì về quê mình. Gia đình cô bạn mình còn cô em đang làm ở bưu điện huyện ngay nhà, nhưng cũng phải quyết nhanh vì con bé cũng nhiều anh ngấp nghé lắm. Mình có kể về cậu thấy nó lắng nghe. Nhà chỉ có hai chị em. Cậu làm cọc chèo với mình thì được coi như con giai luôn..

Hưng cười. Anh đang mải quay đầu nhìn ra đường. Hình như Nga ngồi sau chiếc Vespa vừa đi qua, bị khuất những xe khác. Em mặc chiếc áo xanh. Còn chàng trai mặc toàn đồ trắng, con trai Hà Nội. Không biết có phải cái cậu có ria mép hồi đó không. Hình như mầu xe khác. Hai người im lặng. Lịch biết Hưng yêu Hà Nội. Không hiểu có cô Hà Nội nào đang dây dưa trong lòng cậu con trai Nam Định này không.....

Hai chàng trai quay ra ngắm hồ. Đẹp thật, lại gió mát nữa, chỉ có ở đây, giữa lòng Hà Nội. Cũng có lúc gió dừng như lặn xuống lòng hồ để sóng yên đi. Các cây quanh hồ vẫn thế, những cành lá xanh, các loại khác nhau, quen thân quá. Lịch quay sang nhìn rồi đập vào vai bạn:

- Thôi đến giờ ra tàu rồi. Hè về với mình nhé. Có nhớ cái bài hát Nga xưa không về những người bạn cũ cùng binh đoàn ấy.

Hưng cũng như chợt tỉnh và cười đứng dậy khẽ khẽ ngân đủ cho Lịch nghe một chút bài hát Nga xưa mà ba đứa đã hát cùng hồi sinh viên:

Nếu bạn còn thiếu một cô nàng

Thì bạn ơi, xin bạn chớ buồn

Ở quê tôi - vùng đất giàu lời hát

Các cô gái thật đẹp mê hồn.

Hai người bạn dắt xe đạp xuống đường. Hưng lai Lịch qua Tràng thi, phố có nhiều cây bàng rồi qua Quang Trung, phố cây hoa sữa rồi dừng lại chút ở hồ Hale chờ Lịch chạy vào thăm hỏi người bác quen ở đó...

2.      KIẾM VÀ SÓNG

Hưng sang bên đường, cho xe lên vỉa hè tựa gốc cây sữa ven hồ đợi Lịch. Từ hồ Hale này, như thầy Tuấn nói, ngày xưa còn nhìn thấy cái mái sóng trên toà nhà chính của trường Đại học Bách khoa. Sáng nay thầy có kể về trường:

- Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Liên Xô quyết định giúp Việt Nam xây dựng một trường Đại học Bách khoa Kỹ thuật ở phía Nam Hà Nội. Một kiến trúc sư Nga được cử sang để tìm hiểu và chọn ý tưởng thiết kế. Đến Hồ Gươm, được nghe chuyện về Lê Lợi hoàn kiếm cho rùa thần, hình ảnh về một trường Đại Học mang cái hồn từ ngàn xưa đó đã xuất hiện, ám ảnh người kiến trúc sư Nga.

Đó là sóng nước Hồ Gươm bắn lên từ lưỡi gươm thần chém xuống nước của Lê Lợi đã trào về phía Nam (theo hướng phố Tràng Thi bây giờ), cuộn dừng lại thành hồ Thuyền Quang (còn gọi là hồ Ha Le), rồi trào ập sang thành hồ Bảy Mẫu. Những đợt sóng nối tiếp nhau hình thành trường Đại học Bách khoa. Có thể thấy những ngọn sóng trên nóc tòa nhà chính. Các hành lang, tòa nhà khác cũng lượn lên xuống theo nhịp sóng. Và chỉ có con sóng nào vượt lên, tách khỏi đám đông, bay lên trên những cái tầm thường của đời thường, chấp nhận sự thách thức cô đơn thì mới dám hiến dâng thật sự vào khoa học, con đường đầy chông gai. Đó là hình ảnh cổng Parabol, cái ngọn sóng Soliton đơn độc...

Bây giờ có ai còn nhớ người kiến trúc sư Nga đó không. - Thày thở dài - Chỉ biết rằng sau đó người ta xây thêm nhà, làm khuất đi cái cổng Vòm. Ở phố Trần Nhân Tông cái cổng công viên cũng được xây cao lên, khuất hết, thấy tiếc.. - Thầy Tuấn lại thở dài rồi im lặng lúc đó. Thầy tiếc.

- Xong rồi, ra ga thôi - Lịch xuất hiện lúc nào.

3. TÌM VỢ

Trên sân ga chờ tàu lại chuyện về gái. Lịch bảo:

- Nói cậu thời sinh viên học giỏi nổi tiếng là con Ngân thích lắm. Nó mơ một người chồng hơn nó một cái đầu trí tuệ, vẫn nhớ câu " Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy " mà các cụ dạy. Dân Thanh Chương mà. Trong chữ “yêu của đàn bà có sự ngưỡng mộ rồi đến “thèm”“thương”. Kể về cậu có một mình, không bố mẹ, họ hàng thân thích quê quán thêm nữa là mọi người cứ nao lên. Mẹ vợ mình là sốt ruột nhất, chỉ mong cậu vào chơi, cũng lại sợ cậu có ai rồi. Một cô Hà Nội nào đó.

- Thế gái Hà Nội khác à? - Hưng tò mò hỏi.

- Khác chứ. Thực ra do hoàn cảnh kinh tế, văn hoá mỗi vùng miền khác nhau nên cá tính và quan niệm cũng có khác nhau ít nhiều. Hà Nội là thành phố chịu ảnh hưởng nhiều của Văn minh Pháp, nhà cửa, phố xá, công viên, kiến trúc, rồi sách vở, tiểu thuyết, thơ tình, phim ảnh, âm nhạc, nhảy đầm nữa, bao nhiêu cái mới Tây Tầu đủ cả. Con gái Hà Nội suy nghĩ tự do hơn, vì mình hơn, thích hưởng thụ, sống trong hiện tại nhiều hơn.

- Và yêu nhiều hơn. - Hưng kêu.

- Phần nào. Với lại ở Hà Nội thoáng hơn. Ở nhà quê có chuyện gì thì cả làng biết. Không dễ hôm nay yêu người này, mai người khác. Ấy là mình nói con gái nhà lành chứ không phải các cô nổi loạn Thị Mầu đâu. Thị Mầu thì luôn sẵn, thèm khát cho nhận. Tình yêu như khách qua đường, ta không bàn. Còn phần đông gái quê vẫn hay yêu trong mơ ước đã. Tất nhiên đó là mơ những cái mà ai cũng thấy rõ cũng tính toán như con người, hình thức, học thức, tính cách, gia đình.

- Hà Nội cũng thế mà.

- Mức độ thiên lệch khác cậu ạ. Thực ra để lấy chồng thì có lẽ họ đều tính toán như nhau. Khác nhau một chút là ở cái thương và rồi sau này là cái nghĩa thôi.

- Con gái quê biết thương nhiều hơn.

- Họ thực tế hơn, có chồng và lo con cái, giúp chồng lo sự nghiệp cuộc sống tương lai, thông cảm với gánh nặng của người đàn ông hơn. Nhiều nơi họ nói từ Thương thay từ Yêu. Mà bọn mình đây sắp cưới rồi hình như hai đứa cũng chưa nói từ đó. Cứ ngường ngượng. Thôi để dành.

- Úi giời! Thế còn gái Hà Nội.

- Cũng vậy mà. Nhưng mình đã nói họ bị ảnh hưởng ít nhiều văn hoá Pháp, thích hưởng thụ nhiều, chiều chuộng giải trí nhiều hơn. Tình yêu cũng bị những cái đó choán chỗ nhiều hơn. Cậu đọc Vũ Trọng Phụng và Merimee đi. Nên nhớ là yêu cô gái Hà Nội cậu sẽ có nhưng tình địch như Xuân Tóc Đỏ hay Don Juan đấy. Có thắng được không.

- Cậu nói nghe chán quá. Sợ lúc thắng xong chúng ta sẽ chán chính chúng ta.

- Có mà thắng được khối ấy. Không dễ đâu. Đẹp trai, học giỏi, sống có ích ư, vứt. Phải nhớ những ngày sinh nhật trước cô nàng thích gì, những bản nhạc này của ai, câu thơ này nữa, những cái mà người Hà Nội gọi là tinh tế ấy. Mấy anh Ivan quen chém to kho mặn lại hay bận bịu với chuyên môn khoa học sao lại được. Cái anh chàng Kim Nham lo chữ nghĩa sách vở học thi ấy, có lúc quên mất vợ là nàng Xuý Vân nhưng các loại Trần Phương nó không quên, rồi tán xong nó bỏ. Các nàng chỉ còn biết giả dại. Mà cũng chẳng biết dại vờ hay dại thật. Câu chuyện của trái tim mà.

- Tây cũng thế thôi, Natasa ấy, còn theo cả Anatole, bỏ Bolconski trước ngày cưới.

- Các tiểu thư đâu cũng thế thôi, tình yêu của họ mong manh lắm. Về quê mình đi, gái quê, yên tâm. Về làm là phù rể cho mình đấy rồi làm rể luôn vậy. Nu, paka (thôi, chào - tiếng Nga)- Lịch nắm tay Hưng rồi nhảy lên tàu.

4. GÁI QUÊ

Chia tay Lịch xong, Hưng chưa muốn về, rong xe đi lên Hồ Tây. Anh tìm được một chỗ yên tĩnh bên bờ hồ, có ghế, chéo bờ bên kia là trường Chu Văn An. Hồi mới về nước Hưng hay rủ Lịch, Tùng lên Hồ Tây ra phía sau trường bơi. Bờ đó bãi cỏ lại có trồng hoa mười giờ. Những bông hoa đỏ thắm cứ như trên trời cắm xuống chứ không phải mọc dưới đất lên.

Nhanh thật, mới ngày nào ba anh nhà quê đi học Liên Xô về Hà Nội, ngỡ ngàng. Tùng bây giờ đang ở trường cũ bên ấy, đang bò ra với các công thức, thí nghiệm và các môn thi dành cho nghiên cứu sinh. Thời giờ còn lại lo mua hàng gửi về cho gia đình. Bố Tùng ốm nặng, mẹ phải ở nhà chăm, không chạy chợ được nữa. Có một y cùng quê đỡ đần. Chắc sẽ lấy nhau thôi. Tình yêu đẹp nhưng tình nghĩa bền hơn nhiều. Nó thật hơn.

Hưng lại nhớ lần mấy anh em rủ nhau về thăm bố Tùng đi cấp cứu ở bệnh viện rồi phải về ngay cho kịp công việc. Thế mà lúc ở bến xe, mọi người lên xe rồi, xe sắp chuyển bánh thì có tiếng gọi cuống lên: "Các anh ơi, các thầy Bách khoa ơi". Nụ hớt hải chạy ra, mặt đầy mồ hôi. Rồi không biết nói gì, cô xin xe chờ mấy phút, mua vội một đống bánh gai, bánh mật ở quầy đưa chúng mình. Xe chạy, cô còn đứng nhìn mãi. Quân thì nói là nếu không có chuyện biên giới, nước nọ nước kia và Tùng đợi, Tùng gọi chắc cô nàng sẽ đi bộ sang với nó. Phúc thì nói: "Mẹ Tùng bảo Nụ nó mến Tùng từ bé mà, trước cả khi Tùng đi học ở Liên xô. Nó đợi, mong. Bao nhiêu người đến nó đều từ chối. Người ta đã đợi thì sẽ đợi được cả đời mà". Trên xe Phúc còn hứng lên ngâm nga bài "Đợi anh về" của Simonov nữa.

5. TRÀNG AN NÀY

Mải trở về với những ý nghĩ kỷ niệm về hai người bạn học của mình, Hưng bây giờ mới để ý còn có một người nữa ở ven hồ, một chàng trai có vẻ dân tỉnh lẻ, nhìn đồng hồ, nhìn trời, lúc thì vịn cây, lúc lắc đầu đi đi lại lại rồi bực dọc bỏ đi. Chắc đợi không được. Dân tỉnh lẻ hay sốt ruột. Lại hẹn hò gái Hà Nội chắc. Phải kiên nhẫn chứ, xách dép cho các Xuân Tóc Đỏ, Don Juan.

Hưng chợt thấy Hà Nội cũng giống một cô gái quá, còn chưa đầy đặn, không tự tin, cố giấu kín những run rẩy thèm khát, đam mê dưới cái vẻ kiêu xa, tinh tế của người Hà Thành mà nếu ở một nơi khác có lẽ sẽ bung ra để thành những cơn bão, để bù lại, để trao, để nhận, để nuốt chìm. Ở đây Em luôn nhớ, và giữ vẻ kín đáo, một chút dối lừa chính minh, luôn đến muộn trong các cuộc hẹn, luôn có các lý do, nhưng thực quyến rũ, cô đơn như không biết tựa vào đâu. Giá như... Thật nực cười, làm gì có phép mầu.

Sóng hồ chao, lại thấy cơn gió nhẹ, như câu thơ của Trần Sỹ Kháng, cậu bạn học cùng ngành nhưng năm dưới đọc hôm nào khi Kháng từ miền Nam ra công tác, ghé thăm.

Trăng thanh tao hao gầy

Tây Hồ sóng mờ say

Tóc mây buông gió lạnh

Mảnh mòn đâu bờ vai…

Nàng mơ màng thương ai

Tràng An còn xa ngái

Lệ thầm trên Phố Phái

Cổ thành nhớ chiều tàn

Nàng đợi ta chờ ai

Xa hoài sâm cầm bóng

Liễu hồ biếng gương soi

Thổn thức tình thu phố

Ta đi tìm Thị Lộ

Để em chờ Ức Trai

Không hay còn hy vọng

Tràng An mộng mơ này…

"Giá như cái cô Ngân em vợ tương lai của Lịch lại là cô gái Hà Nội". - Ý nghĩ thoáng qua như chiếc lá ở đâu bay vèo qua. Hưng bỗng bật cười. Lại giá như. Hưng yêu Hà Nội. Lần đầu tiên Hưng lên Hà Nội là hồi hết phổ thông để tập trung đi học ở Liên Xô. Ba ngày ở trong trường Kinh tế Kế hoạch cho đến tối trước hôm rời quê hương Hưng rủ Nhớn ở cùng phòng đến từ Vĩnh Yên trốn ra đi tàu điện lên Bờ Hồ rồi đi bộ về. Và Bờ Hồ ánh nước lung linh với các cô gái, rồi hàng cây đường Bà Triệu, mùi hoa sữa đường Quang Trung, những đôi trai gái ngồi trên ghế đá ven hồ Ha Le đã đọng lại trong anh suốt những năm tháng đi du học đất trời Âu.

6.      NGA

Mẹ có dặn Hưng là ở Hà Nội  mẹ cũng có người quen. Mẹ đưa địa chỉ đến thăm chú thím Thư ở Ngõ Huyện, sau nhà thờ lớn. Chú học cùng ba Hưng, đi kháng chiến cùng nhưng sau bỏ về Hà Nội còn ba Hưng là tình nguyện quân sang chiến đấu bên Lào rồi hy sinh. Chú kể là chú dinh tê không phải vì đói khổ mà vì con người làm chú bị hẫng. Cũng không chỉ có chú, còn ông Phạm Duy, ông Hoàng Giác nữa. Hồi Nhân văn giai phẩm chú cũng dính nhưng không nặng lắm. Hưng thích đến chơi nhà chú để nghe đĩa nhạc Sterio chú có cùng Dung, cô con gái đầu của chú thím. Dung cũng thích nói chuyện về văn học nước ngoài. Dung hay chiều anh bánh ngọt tự làm với Cafe. Hưng thích lắm, nhất là lại có thể thấy Nga, cô em gái ra chải tóc ở sân để tiếng nhạc Sterio như từ mái tóc dài buông bay ra tràn ngập lòng anh. Nga học Trường Múa. Những lúc đó Hưng thường hay nhắm mắt lại để giữ hình em trong Tâm, giữ lâu không muốn nó tan đi. Dung thì lại nghĩ là Hưng đang thưởng thức nhạc.

Một lần Hưng đến chơi, cả nhà đi vắng còn mỗi Nga. Nga rủ chơi bài và Hưng thua phải để cho em véo tai như giao hẹn. Em véo nhẹ sợ Hưng đau. Lần sau được em thay vào là lấy tay rứt, kéo, lùa các ngón vào xoa tóc Hưng. Tóc Hưng đen dầy và xoăn. Hưng nhắm mắt. Nụ hôn đầu. Khi đó, năm năm trước, Hưng hai bốn còn Nga mười bảy. Bây giờ em hai hai.

Cái hôn đầu tiên và cũng là duy nhất đến bây giờ. Trên ghế đá chiều Hồ Tây này Hưng bỗng dưng lại nhớ, lại nhắm mắt, liếm môi và lại thấy nguyên Nó, cái hôn đầu ấy, có môi Nga, cái môi dưới hồng trễ xuống, cái miệng em mở đón và vị ngọt của nước cái hôn. Hơi thở của em nữa, mùi em...và Hồ Tây, cây cối, nước, sóng, mọi thứ xung quanh như không còn hiện hữu, chỉ còn Nga và Hưng, trong vòng tay bay lên về nơi xa, xa lắm, đến tận dòng suối tận Chiang Mai bên Thái Lan. Chỗ đó hết dốc, nhiều tảng đá,hơi nước mát lành, lại cũng khuất, nhìn lên không thấy chùa. Mẹ cũng không nhìn thấy Hưng nữa. Bên bờ có cái hốc đá kín lắm, ít người qua lại để ý. Trong hốc đó là những viên sỏi Hưng đã vớt dưới đáy nước lên dấu vào. Mẹ cấm. Mẹ bảo dưới suối có Hà bá cắn. Hưng vẫn trốn mẹ ra suối tìm sỏi...

Đã mấy lần Hưng định đưa mẹ ở Nam Định lên Hà Nội chơi thăm chú thím Thư nhưng rồi không làm được. Cũng chẳng nhớ lý do gì nữa. Nhiều khi cứ lần lữa, cầu toàn quá để rồi lỡ hết, để rồi không bao giờ còn làm lại được nữa. Hưng biết mẹ mong con trai có một người con gái nào để ý. Ước mơ của người mẹ thật đơn giản. Một người con gái hiền lành nào thương con mẹ, thay mẹ chăm sóc Hưng sau này thôi. Mẹ cũng chỉ nói xa thôi nhưng Hưng hiểu. Mẹ hỏi về các cô con gái của chú thím Thư, về Dung, Nga. Thanh thì còn bé quá. Chú Thư một lần cũng nói xa xôi: "Nhờ có ba cháu tình cờ rủ đi xem chiếu bóng mà chú quen được thím, thế là có các em". Thím Thư thì hay nhìn Hưng, lúc nhìn Dung.

Gần tết Hưng đến chào chú thím để về quê. Ngồi nói chuyện với chú và Dung ở phòng ngoài. Thím đi mua hàng về bước vào nhà gọi Nga là có bạn đến đợi. Hưng nhìn ra phố thấy một người đàn ông bảnh bao trên chiếc Vespa chờ trước cửa. Nga từ trong ra thấy Hưng vừa mừng rỡ, vừa có chút lúng túng, chào và nói: "Anh ở lại ăn cơm nhé, em đi thăm bạn ốm, về ngay đấy". Khi Nga ra ngồi sau xe, người đàn ông Hà Nội nói gì và quay lại nhìn Hưng, cái nhìn mà anh không kịp tránh. Xe đi, Nga quay lại nhìn, ánh mắt như muốn nói điều gì, cái điều mà anh đoán không ra. Mái tóc không buông mà buộc túm lên để hở cái gáy trắng ngần ánh chiếc dây chuyền vàng óng. Chiếc dây chuyền và cái áo phông mỏng cành mai của Thái lan Hưng nhìn thấy lần đầu ở Nga

Hưng ở lại ăn cơm. Ăn không ngon. Nga không về ăn cơm trưa hôm ấy. Sau này Hưng có đến chơi mấy lần. Toàn lúc Nga đi vắng. Dung chuyển công tác vào trong Nam. Những giai điệu, bài ca tiếng Pháp của Dalida, Mouscouri đôi khi đâu đó bắt gặp làm Hưng lại nhớ. Anh nhớ mái tóc buông theo gió dưới nắng sân của Nga, nhớ nụ hôn của em. Cứ mỗi lần lên Bờ Hồ anh lại vòng xe qua phố Nhà Chung, không rẽ vào phố Ngõ Huyện, chỉ đạp chậm lại, nhìn vào phố nhỏ đó. Nga không phải của anh, một cán bộ giảng dạy nghèo, tỉnh lẻ, mồ côi, không có họ hàng thân thích. Nhưng Nga là của thơ anh. Năm năm rồi không biết Nga giờ thế nào nhưng Hưng vẫn thế, không thêm bài thơ nào cho ai khác, vẫn chỉ có những bài thơ dành cho Nga.

Mặc cho năm tháng trôi qua

Tôi là tôi đấy, vẫn là tôi xưa

Một lần cứ tưởng trong mơ

Mà còn cho đến bao giờ, hình em

Dòng đời người gặp ngẫu nhiên

Khắp ngả đường, khắp mọi miền mình đi

Gặp nhau rồi lại chia ly

Trong em còn lại chút gì với tôi

Trong tôi còn giữ nụ cười

Môi tôi như có hơi môi em kề

Thế thôi hơn nữa làm chi

Em là mộng ảnh tình si

em à

Mỗi khi phố ấy đi qua

Bồi hồi sao vẫn...

Lòng ta

nhớ nàng.

Nhớ lại bài thơ xưa. Mỗi khi lên Bờ Hồ anh đều như vậy. Và lúc về như không nghĩ, chân anh lại đưa xe đi qua chỗ có thể nhìn thấy nhà Nga. Thôi hôm nay có Lịch anh đã không rẽ qua phố ấy vậy. Để dành khi chỉ có một mình. Để dành cả mình đến bao giờ. Một câu hỏi thoáng qua để một câu thơ từ đâu, mới như có ai gieo vào đầu Hưng.

 Trong mơ em của riêng anh

Trong tôi hồn vẫn để dành, vẫn nguyên

Thơ đúng là không có thật. " Hình như cả mình cũng không có thật trên đời thật này "- Hưng nghĩ. Anh nhớ tới câu nói của Baudelaire: “Thi ca là cái gì thật hơn, cái gì hoàn toàn đúng và chỉ có trong một thế giới khác”. Những cái gì của anh, cả nụ hôn đầu đó nữa, cả những bài thơ nó đều đúng, chỉ là cho một thế giới khác.

7.      MƯA BÓNG MÂY

Hình như có mưa, thấy mặt nước hồ lốm đốm. Ánh nắng vẫn vàng rực trên các lá cây, mé hồ gần bờ chỗ Hưng ngồi mặt nước vẫn bằng yên. Mưa bóng mây thôi, nó vẫn phải tiếp tục con đường của nó kệ những gì bên cạnh. Hưng nhìn theo cơn mưa rồi bỗng ngơ ngác, nó biến mất lúc nào cứ như chưa từng có. Lại có một cô gái dắt xe đến bên hồ. Cô này chắc không biết có cơn mưa vừa chạy qua không. Cô ấy chắc không biết là có một anh chàng đã đứng chờ, đã sốt ruột, đã bỏ đi rồi. Hưng liếc khẽ. Cũng xinh nhưng không bằng Nga, chính xác là cái thân hình ấy. Mà sao bằng được, Nga học trường múa cơ mà. Có lần ngồi uống cafe nghe nhạc với Dung thấy Nga đang dậy mấy đứa trẻ nhảy ở sân, lúc như bay, lúc như bơi. Những đường cong, đôi chân và thân hình vũ nữ và chuyển động bung ra như gợi làm Hưng rạo rực. Dung bảo đó là điệu Mambo, thanh niên, trẻ con rất thích.

Thôi đi về, Hưng đứng dậy dắt xe đi để lại sau cái ghế đá cho cô gái đến muộn đó. Đúng là con gái Hà Nội, luôn đến muộn trong các cuộc hẹn, luôn có lý do. Họ khá giống nhau, những cô gái Hà Nội. Còn những chàng trai tỉnh lẻ về Hà Nội thì lại khá khác nhau. Trên đường về Hưng bỗng lại để ý nhìn mọi người trên đường xem có thấy cái anh chàng tỉnh lẻ đã đứng đợi ở bờ hồ rồi bỏ đi đó không. Biết đâu thấy thì Hưng sẽ gọi và bảo rằng có một cô đang đợi đấy bên hồ. Cô ấy đến muộn thôi mà...

8.      MẸ

Gần về đến trường thì cơn mưa ập đến. Gió mang mưa đến để mưa đuổi theo người. Kệ, Hưng vừa vuốt nước trên mặt vừa phóng xe, về đến Ký túc xá thì ướt sũng. Phải tắm ngay cho khỏi ngấm lạnh, không được ốm. Ngày kia là chủ nhật rồi, ngày giỗ mẹ. Hưng sẽ về Nam Định ra Ngĩa trang thắp hương, làm giỗ mẹ luôn ở đấy. Mai đi mua đậu rán sẵn. Mẹ thich ăn đậu rán với nước mắm Hải Hậu.

Quân đi dạy Tại chức ở Thái nguyên, còn lại mình Hưng trong phòng. Một buổi tối yên tĩnh cho một thế giới riêng một mình. Ăn cơm xong Hưng lấy chiếc va li gỗ cũ mở ra. Ảnh mẹ. Lại thấy mẹ nhìn anh chăm chú. Thời gian như tour ngược lại. Hưng rải xếp các thứ có trong va li ra chiếu, toàn đồ của m. Anh lại ngồi với mẹ. Những quyển vở ghi chép, nét chữ của mẹ, mấy đồ trang sức gưong lược. Những bức ảnh đen trắng của hai mẹ con bên Chiang Mai, bên dòng sông Pink thanh bình với ngôi chùa, sườn đồi đầy hoa, một quyển kinh phật tiếng Thái. Nhưng có lẽ thân thiết nhất với anh lại là cái áo dài của phật tử mẹ mặc bên Thái xưa khi lên chùa. Hưng vẫn lấy cái áo ra cho vào mắc áo treo lên khi chi có một mình, thường là vào những ngày lễ, tết mọi người về hết, rồi lại gấp cho vào va li. Những lúc đó anh như lại thấy m, thấy cả mùi, thấy tuổi thơ, chùa, sông núi Chiang Mai. Ý nghĩ lại đưa anh trở về với những chiếc đèn lồng thả trên dòng sông Pink của lễ hội Loi Krathong. Chiếc đèn của anh đang trôi len vào những chiếc đèn khác trên sông.

Chủ nhật Hưng về Nam Định từ chuyến ô tô sáng sớm, mang theo xe đạp gửi treo trên nóc ô tô. Một buổi sáng đồng quê trong trẻo. Nghĩa trang vắng vẻ, chỉ có một người con trai mặc chiếc áo bay Liên Xô mầu cỏ úa một mình rải tấm ni lon lên mộ, bày đĩa đậu rán, bát nước mắm, bát cơm quả trứng, mấy quả cam, ít tiền vàng mã. Xong rồi anh thắp nén hương khấn mẹ, khấn luôn cả bố nữa. Mẹ không kể về bố bao giờ, cũng không thấy làm giỗ. Hưng nghĩ sau này sẽ có lúc nào hỏi mẹ nhưng không kịp. Anh lấy cái bay mang theo dọn cỏ. Gió đưa vài sợi tóc lòa xòa xuống vùng trán, che cả mắt. Anh vẫn lúi húi cắt chặt cỏ, chỉ lắc đầu để hất tóc lên. Hai tay dính đất và các lá cỏ xanh. Cả mấy nụ hoa dại nhỏ xen lác đác cỏ gấu, cỏ gà. Mấy con châu chấu nhảy tanh tách. Đã hai năm rồi...

Tàn hưong, Hưng lấy chai nước trong túi xách đổ ra rửa tay, thu xếp gói ghém mọi đồ lễ vào túi, hoá vàng, xong rồi chắp tay đứng lặng khấn và nhớ mẹ. Lên đến đường cái anh quay lại nhìn lần nữa rồi đạp xe đi. Im ắng quá, nhà ai bên đường mở nhạc. Cũng kỳ diệu, giọng ca tiếng Pháp của Mouskouri mà anh nghe bao lần với Dung hồi nào. Tiếng hát mỗi lúc một xa, nhỏ dần, những sơi âm như dái mỏng ra, như đang tuột về phía sau xa. Thôi cứ thẳng đi xe đạp về Hà Nội vậy, có gì vội đâu. Quân sống cùng phòng phải mấy ngày nữa mới về. Bầu trời đẹp quá, cánh đồng, hàng cây cũng đẹp quá mẹ ơi. Lại văng vẳng bên tai anh giọng ca cô ca sỹ Hy Lạp, bài Mama ấy. Hưng lại tháy trong lòng rộn ràng, không chút cô đơn. Chắc chẳng có ai như mình, vừa đạp xe Hưng vừa nghĩ. Chẳng làm được gì cho mẹ cả. Liệu sẽ đến bao giờ có cô gái nào anh dẫn về đây cho mẹ yên tâm. Cái tính cầu toàn lại thêm mơ mộng nhiều hão huyền này chắc phần lớn di truyền từ mẹ anh, phần nữa là từ tuổi thơ anh ở Thái lan, bên con sông nhỏ ở Chiang Mai.

Mẹ kể là khi trung đội tình nguyện Việt Nam bị dồn đến biên giới Lào, Mẹ có mang anh, được lệnh vượt sông Mekon sang đất Thái Lan. Trước đó người trung đội phó, bố anh đã hy sinh. Cả trung đội quay về phá vây. Anh đẻ ra và lớn lên Thái Lan. Mẹ bị thương, bị ốm. Sau này được một số bà con Việt Kiều giúp đỡ đưa hai mẹ con về thành phố miền Bắc Thái Lan sinh sống. Mãi đến năm 1960 mẹ mới có điều kiện mang Hưng hồi hương về nước theo lời kêu gọi của nhà nước Việt Nam. Người thân chẳng còn ai, họ di cư vào Nam hết, người thì đi xa lập nghiệp. Với lại Việt Kiều về ai cũng có một chút thu vén để dành. Mẹ trở về chỉ với hai bàn tay trắng, mà chỉ cái đó cũng không thể tìm họ hàng được. May mà trong đơn vị xưa có một đồng đội của mẹ giờ làm lãnh đạo ở Hà Nội. Ông thu xếp cho mvào làm phục vụ ở nhà khách Tỉnh y Nam Định quê mẹ và có chỗ ở luôn trong đó cho hai mẹ con. Ông cũng giúp mphục hồi được một phần lý lịch, nhất là lý lịch cho cậu con trai. Nhờ đó mà việc học hành của Hưng xuôn xẻ.

Sau khi tốt nghiệp Đại học ở Liên xô Hưng về nước làm cán bộ giảng dạy của trường Đại học Bách khoa Hà nội được hai năm thì mẹ mất. Ấy là tất cả những gì Hưng biết về hai mẹ con, bập bõm, mơ hồ, không kịp.

Mẹ mất cũng đột ngột quá. Cơ quan mọi người kể lại là buổi sáng không thấy mẹ đi làm, phòng lại cài cửa bên trong. Đến trưa mấy chị phục vụ thấy lo, gọi bảo vệ phá cửa. Mẹ vẫn trên giường, người đã lạnh. Mẹ ra đi trong giấc ngủ. Tin mẹ mất đến với Hưng trên giảng đường. Lịch gọi anh ra để thay dạy tiếp. Tùng đã chờ anh bên ngoài trên chiếc xe máy Nga Minsk ai cho mượn.

Sau khi chôn cất mẹ xong Hưng trở về trường với một chiếc va li gỗ đựng những kỷ vật của mẹ. Chiếc va li nhỏ của mẹ, cả một thế giới tuổi thơ của Hưng.

9.      MƠ HỒ

Quá trưa Hưng về đến trường, vừa dắt xe lên cầu thang thì gặp Lai sống cùng tầng nói là Tùng ở Liên xô có gửi cho Hưng quyển sách tiếng Nga về chuyên môn, tối sang mà lấy. Mẹ Hưng mất, có lẽ người gần gũi nhất với anh là Tùng. Hai người đã sống chung phòng với nhau sáu năm ở Liên Xô. Thực ra tính cách họ khác nhau. Tùng sôi nổi, nhiệt tình tham gia các công tác. Tùng là linh hồn các phong trào văn nghệ, thể thao sinh viên. Hưng thì trầm hơn. Trừ những lúc chơi cờ là cái thú đam mê của Hưng, còn lại là nếu không cần thiết anh thường kín đáo cứ như lùi ra xa giấu mình và mọi người đôi khi cũng quên cả sự có mặt của anh. Hưng cũng nhận ra là anh rất khác mọi người. Có lẽ vì anh không đẻ ở Việt Nam, tuổi thơ lại ở đất Thái. Có lẽ vì anh không có nhiều quan hệ, không có gì nhiều để kể. Có lẽ có những khoảng trống mơ hồ về con người mình, có từ lúc mới sinh ra trong một hoàn cảnh không bình thường giữa lúc trời mưa, trong một ngôi làng nhỏ miền Bắc Thái Lan. Nỗi mơ hồ về mình cũng mơ hồ như thơ của anh vậy.

.. Phải chăng ta đã chào đời

Giữa cơn mưa đất với trời tìm nhau!

Những chùm bong bóng từ đâu

Trong ta từ thuở ban đầu trẻ thơ…

Buổi tối đọc thư Tùng, thấy Tùng nói không về phép hè mà ở lại để tranh thủ làm nhanh luận án rồi về hẳn. Thế hơn, Hưng viết khuyên bạn vậy vì chuyến về cũng ít nhiều mạo hiểm. Chẳng là hồi Tùng đi nghiên cứu sinh bị trục trặc đợt đầu vì có thư nặc danh kiện thầy giáo quyễn rũ nữ sinh. Sau anh thoát được đi nhưng không dám thông báo, không có hành lý, kể cả nhận quần áo ấm, chỉ một túi xách lên máy bay thôi.

Dù sao Tùng vẫn còn may. Vấn đề đi nghiên cứu sinh có ai đó ở bộ môn nêu lên Hưng đều lảng tránh. Thật khó cho anh khi khai lý lịch. Có nỗi mơ hồ về mình mà anh không thể chia sẻ với ai kể cả Tùng. Đó là có một lần anh đến thăm bác Trọng, người bạn chiến đấu của ba mẹ anh, đã giúp đỡ bảo trợ mẹ con anh xưa để xem ông có giúp gì được những khoảng trống trong lý lịch bây giờ. Ông bây giờ là một cán bộ cao cấp ở Hà nội. Người nhà ông nói ông bị bệnh đang nằm ở bệnh viện. Anh đến bệnh viện thăm ông. Ông đang ngủ, xung quanh là vợ con. Mọi người thấy Hưng hỏi thăm đều ngẩn người nhìn anh. Thái độ không thiện chí của bà vợ ông và nghe loáng thoáng có ai nói anh hệt ông hồi trẻ làm anh giật mình. Anh về soi gương thấy phân vân. Cũng thấy mẹ rất ít khi nhắc đến b anh. Cũng không có cúng giỗ. Vậy cái ông tên là Nguyễn Văn Xuyên trong lý lịch của anh có phải thật là bố đẻ của anh không, Nguyễn Trọng Hưng ấy. Còn bác Trọng thực là thế nào với mẹ, với anh. Anh không dám hỏi mẹ và chẳng bao giờ hỏi được nữa. Rồi những công việc thường nhật bề bộn trong cuộc sống, sách vở lôi cuốn anh. Chỉ đôi khi,  những lúc một minh,  anh lại thấy cồn cào. Một cảm giác mơ hồ tràn ngập như câu thơ anh viết khi nào.

…Cứ day dứt mãi không ra

Mình là Ai, Ai là Ta là Mình          

                                    VŨ ĐIỆU VALSE BÊN HỒ

Nếu có thể lại trôi theo dòng nhạc

Với bàn tay ai nắm tay mình

Và Valse em trắng màu tinh khiết

Không trộn phai lẫn lộn, dịu hồn anh 

1.      VỀ QUÊ

Có lẽ phải một năm rồi mới gặp lại Hạnh mà Lâm tự nhiên thấy xao xuyến. Không phải là vì sắc đẹp của người đàn bà này, cũng không phải ở sự quyến rũ ở dáng đi và đôi chân dài như của các cô nàng trên kênh Pro 7 của Đức trong chuyên mục " Các cô gái Florida "  mà Lâm hay xem trên TV ở Ba Lan năm xưa. Có một cái gì hài hoà cả chất Latin tự nhiên sôi nổi với chất  Standart kiêu xa đầy nữ tính trong Hạnh. Có cái gì khá lạ đối với người Hà Nội.

Tất cả những cái đó có thể làm chết bất kỳ một gã Hà Nội nào. Đi với Hạnh qua sân Lâm đã thấy những ánh mắt nhìn trộm, không chỉ của cánh đàn ông mà cả của chị em nữa. Nhưng thực ra những cái đó lại không làm anh xao xuyến thật. Lâm đã từng sống ở thành phố Bechar miền Nam Algerie, nơi có những cô nàng Arab đẹp như trong truyện cổ tích. Cái đẹp bề ngoài cũng chỉ đến thế là cùng. Đây là một cái gì khác. Cái khác là ỏ trong cái nhìn của Hạnh, trong dáng đi, trong cách xách cái túi con, trong cách đứng chờ ở sân lúc Lâm vào nhà xe lấy xe. Tất cả Hạnh ấy gợi  Lâm nhớ  chất Nam Định, làm anh lại nhớ về Nam Định, nhớ tuổi học trò, nhớ một thời xưa, nhớ chính mình.

Hạnh thích khiêu vũ. Năm ngoái có một ông bạn của Lâm lại là vũ sư cùng câu lạc bộ khiêu vũ Tầm Xuân của ông về Nam Định giao lưu nhân dịp sinh nhật câu lạc bộ khiêu vũ Bạch Tuyết ở Nam Định. Ông ta thông báo về chuyến đi đó và Lâm bỗng hứng thú tò mò xem cái văn minh Nhảy Đầm đã được đưa về Nam Định quê anh đến đâu và cũng là tiện có dịp để ngồi tán chuyện với người vũ sư cùng quê, cùng một chuyến tàu liên vận đi du học Liên Xô xưa, lại cùng chuyên môn Cơ khí. Vợ ông xếp hai người ngồi cạnh nhau luôn " để nói chuyện hết đi, để rồi lúc dạy khiêu vũ thì ông ấy tập trung mà dạy ". Chẳng là lớp Đại học Tại chức mà Lâm dạy buổi tối lại cạnh ngay lớp học khiêu vũ của đôi vợ chồng vũ sư. Nghỉ giữa giờ anh hay chạy sang xem và tán gẫu với ông chồng, kệ cô vợ phải dạy đi cả chân nữ và gánh lẫn chân nam

2.      THƠ VÀ NHẢY

Trên xe mới biết hoá ra có nhiều người quê Nam Định, vùng đất của thơ văn. Xe vừa mới ra khỏi Hà Nội là đã người nọ người kia đọc thơ. Toàn dân đi nhảy mà còn thơ thẩn cũng lạ. Lâm vẫn cho rằng cả hai món đó rất khác nhau nhưng cũng lại có cái chung là đều không dùng cái đầu. Một anh thì suy nghĩ bằng chân, đếm nhịp bằng chân, anh kia thì suy nghĩ bằng trái tim, bằng cảm xúc. Anh đầu thì quá chính xác, đúng nhịp, phách nào ra phách ấy, anh sau thì càng ngây ngô, dối trá mọi người càng thích, cốt sao cho sướng cái tai. Lâm tranh thủ kể cho ông bạn vũ sư về chuyện hục hặc giữa thơ và khiêu vũ. Chuyện là trước tết tổ dân phố phường Yên Hòa, nơi Lâm có miếng đất cho thuê, gửi giấy mời Lâm xuống dự và đóng góp tùy tâm ủng hộ câu lạc bộ khiêu vũ ra mắt. Ở đó anh mới thấy sự thay đổi nhiều của cuộc sống ở cái Làng Cót xưa này. Chị em váy tóc đủ màu, các quý ông cũng vest đen, vest đỏ, giày đen, giày trắng. Sau những diễn văn chúc mừng và phong bì tài trợ của các quan chức, các đoàn thể của phường (Lâm cũng phong bì gọi là, nhờ bác tổ trưởng dân phố đưa hộ) là đến lượt hội thơ. Thế là ông hội trưởng đọc bài diễn văn bằng thơ rồi lần lượt các hội viên lên đọc thơ của họ, vừa đọc lại còn vừa giải thích mới khổ chứ. Họ chẳng thèm để ý đến những tâm tư của chủ nhà với những đôi nhảy nhấp nhổm, đôi chân ngứa ngáy.

Sau gần hai giờ chịu đựng thơ, một ông già có lẽ trên bảy mươi, áo xanh, quần và giày da đều mầu trắng đứng dậy bất ngờ đi lên và bật nhạc. Tiếng nhạc nhảy to hết cỡ. Mấy đôi nhảy ùa ra vừa nhảy vừa vẫy mọi người đứng lên dọn ghế. Mọi người cũng đứng lên tất cứu buổi khiêu vũ. Lâm nhận ra giọng hát của Alain Barier trong bài “Em bỏ đi rồi”. Anh muốn hòa vào giai điệu Rumba đó, mời một cô mặc váy xẻ, nhưng cô ấy lắc đầu, quay mặt, rồi bỏ đi khỏi. Chắc cô ấy ở hội thơ và chưa kịp đọc thơ. Anh thấy thương thơ...

Nhưng bây giờ trên xe chỉ còn thơ và các nhà thơ. Hay thật. Có lẽ các hội thơ, các lớp dạy thơ nên tổ chức trên xe, không chạy đi đâu được. Lâm chợt nhớ tới câu thơ của nữ thi sỹ Ba Lan Szimborska “ có dăm bảy người còn lại nghe thơ chỉ vì họ phải trú mưa ” và đọc cho ông bạn ngồi bên nghe. Ông vũ sư khoái chí chế luôn  “ có cả đoàn ngồi nghe thơ chỉ vì họ ở trên ô tô ”.

Nói thế thôi chứ có thơ trên xe làm mọi người gần nhau hơn, cười nhiều hơn và quãng đường cũng ngắn lại.

3.      NAM ĐỊNH

Sàn nhảy của câu lạc bộ Bạch Tuyết ở trong Trung tâm Văn hoá Thể thao Nam Định, xây ngay trên bãi rác cạnh nhà Lâm xưa. Cả tuổi thơ của anh là đi bới ở đống rác đó. Rồi sau đó bãi rác được làm thành sân bóng để chiều nào Lâm cùng lũ bạn hò hét, rê sút. Gần như từng mét đất của sân anh thuộc lòng. Bây giờ chỗ này không còn dấu tích gì. Một toà nhà to, hiện đại, sân xi măng, cây cảnh, bãi đỗ xe chiếm hết. Chỉ bên kia đường là cái nhà thờ mái vòm vẫn mang nhiều nét xưa, những gợi nhớ thân thương và đượm buồn. Các quý ông Nam Định trông rất lịch thiệp, nhiều người mặc gile, vest đỏ, đi lên đi xuống bậc thềm toà nhà. Cũng mấy ông quần áo giầy trắng, đeo nơ như trong phim thời xưa, dáng trịnh trọng. Các quý bà thì hình như chỉ có hai màu đen đỏ, kiểu giống nhau sườn xám. Ô tô đỗ xong là mọi người ở Hà Nội xuống xe và lo tìm chỗ thay đồ ngay cho Nam Định nó khỏi coi thường. Cũng phải nói về phía chủ nhà Nam Định số đông là chị em. Điều này làm cho cánh Hà Nội có một số điều chỉnh về hành vi - các quý ông có thêm sự động viên kín đáo và các quý bà phải tập trung hơn. Cẩn thận không thừa.

Lâm có lẽ là nhếch nhác nhất, chẳng khác đi vào rừng, vẫn quần bò áo blouson thôi. Đưa mắt tìm xem trông số các quý ông Nam Định có ai quen không. Chẳng thấy ai. Lâm cũng không lạ. Lũ bạn anh không chỉ ở Nam Định mà ngay bọn ở Hà Nội cũng không tự tin lắm với món khiêu vũ này. Chắc giống anh, vận động một tí là ra mồ hôi, mà có phải lúc nào cũng gặp may, gặp cô ngạt mũi đâu. Lâm thì khỏi phải nói, còn thêm món mồ hôi dầu, cô nào chịu được. Nhiều lúc anh nhìn cảnh người ta khiêu vũ, ăn mặc rõ lịch sự mà cô nào cô ấy tay vẫn níu tay nam, mặt phải quay đi chỗ khác cho khỏi ngạt thở nghĩ thấy tội. Thực chất là vậy nhưng ông nào cũng che giấu bằng một câu giải thích giống nhau: "Cái món nhảy đầm là của đàn bà. Đàn ông đi nhảy dễ mất đi cái nam tính trời cho lắm". Không cãi được với hội bạn đâu. Chúng luôn đúng.

Nhưng hôm ấy cuối năm ngoại lệ, trời lạnh. Trong phòng nhảy Lâm tìm chỗ cởi áo ngoài ra rồi như con thú tự hít mình. Không có mùi, ổn. Mấy năm trước, mùa hè nóng nực đi dạo buổi sáng ở hồ thấy có cái bãi ở góc công viên, có nhạc, mọi người nhảy nhót, lại có ông bạn quen ở đó vẫy anh vào gán cho một cô đứng không. Ông bạn thì mồ hôi mồ kê nhễ nhại bận xoay vần một cô béo hơn. Nhảy xong điệu Rumba rồi cô ấy dúi vào tay Lâm một cục nhỏ. Anh về mở xem. Hoá ra là cái lăn nách. Lâm không dùng, chỉ giữ làm kỷ niệm.

Nhạc nổi lên. Lâm không cầm được chạy ra nhún nhảy luồn lách một mình cho khí huyết lưu thông đỡ những bí bách ngồi xe vừa rồi. Có lúc anh cảm tưởng như mình vẫn như hồi nào đang ở bãi rác xưa xoay người che bóng, luôn lướt ra chỗ trống. Thời sinh viên Lâm lại chơi bóng rổ, cái thèm muốn nhảy cẫng bay lên lên tung bóng vẫn thôi thúc anh. Những cảnh ôm ghì nhau lắc lư, te đổ đỡ Nữ nằm xoài xuống sàn hay ngoái ngáng xoạc chân về phía sau quả xa lạ với anh.

 Nữ ế nhiều. Có nhiều chị em nhảy với nhau hoặc ngồi xem. Với lại đông quá, ngoài câu lạc bộ Hà Nội xuống còn câu lạc bộ Bến Đò Quan bên kia sông Đào sang nữa. Sàn lại là gạch men trơn chớ không lát gỗ. Ông vũ sư bảo anh ra mời ai đi chứ, giao lưu mà. Thực ra nói là giao lưu chứ ai nhẩy với bạn nhảy của mình thôi, theo bài theo bước mà đồng diễn. Cùng câu lạc bộ cũng chưa chắc đã dám mời nhau nữa là mời người câu lạc bộ khác.

Lại nhạc Rumba ỉ ơi tiếng Việt cất lên, từng đôi đứng dậy. Lâm đi dạo ra sân hút thuốc. Cũng chẳng có chỗ ngồi mà xem. Còn sớm quá, hay đi dạo ra hồ vậy.

4. HỒ VỊ XUYÊN

Hà Nội xưa có 36 phố phường thì Thành phố Nam Định cũng có đến 40 phố cổ phần lớn là các phố nghề như Hàng Vàng, Hàng Bát, Hàng Nâu, Vải Màn, Hàng Tiện, Hàng Cấp, Hàng Thao, Hàng Đồng, Hàng Sắt v.v... Hiện nay, còn ít những con phố giữ lại được tên cổ như ở Hà Nội, và cũng không còn buôn bán những mặt hàng truyền thống tuy nhiên nó vẫn còn phần nào giữ được dáng vẻ cổ kính của nó. Phố Bến Nứa nhà Lâm xưa đã đổi tên từ xưa. Các phố lần lượt chuyển sang mang tên người. Các thành phố tỉnh lỵ cả nước đều thế. Người dân quen cái mới rất nhanh, cũng chẳng nhớ tên xưa cái cũ làm gì. Chỉ những người đi xa có dịp trở về có lúc thấy tiếc, thấy nao nao, thấy nhớ. Thực ra cũng là nhớ vớ vẩn, nhớ chính mình thôi.

Hồ thì chưa, vẫn gọi là Hồ Vị Xuyên. Hồ khác xưa nhiều với khuôn viên, những con đường nhỏ đi dạo, các tượng đài nhà hát và nhất là cây cối. Lâm đi vòng hồ tìm các cây hoa gạo tuổi thơ của anh. Cây Hoa Gạo ở Nam Định in sâu trong lòng người đi xa cũng như cây Hoa Sữa đối với người Hà Nội. Sáng nào mấy cậu bé nhà gần hồ cũng chạy ra đây bì bõm trong đống bèo Tây cho những con cá mương nhỏ đâm rỉa vào người. Chỗ này đây, cây gạo xưa vẫn đây. Buổi sáng hôm đó thấy cây chuối đổ bên bờ hồ Lâm đã kéo cây xuống nước, nhờ Hùng đẩy chuối theo bên cùng Lâm bơi sang bờ kia. Cậu bé úp mặt giữ hơi bơi sải, đến giữa hồ ngóc đầu gọi đứa bạn bơi bên cạnh đưa cây chuối làm phao bàm. Hùng nói là bỏ chuối lại rồi và Lâm đành hít thở nhắm mắt bơi tiếp. Sao mà hồi ấy thấy hồ rộng thế và cả quãng đường nửa cái hồ dài thật. Lâm hít một hơi dài như lại có cái cảm giác mình vừa bơi qua bên kia hồ thuở nhỏ, bơi qua cả tuổi thơ.

Người Nam Định có cơ hội là bỏ quê hương lên Hà Nội. Họ trọng cái danh. Mà gì thì gì chứ cái danh gắn liền với hai từ Hà Nội kiểu “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An“. Thêm nữa do người Nam Định chăm học, coi việc học hành là cái con đường duy nhất để có cuộc sống đầy đủ, không đánh đu mạo hiểm. Khi con cái thi đỗ Đại học, lên Hà Nội học là hy vọng chúng sẽ trụ lại đấy không về. Những gia đình có điều kiện thì mua luôn nhà cho con trên đó, coi việc ở Nam Định chỉ là ở tạm, đến tuổi nghỉ việc là chuyển lên đó luôn. Ai chưa có điều kiện di đi hẳn thì coi như ở hai nơi, đi đi về về, chỉ hai tiếng trên ô tô là xong. Xe chạy cũng sẵn. Mấy lần trước về Nam Định đến chơi với Hùng cũng chỉ thấy cậu bạn nói chuyện hai đứa con đang sống ở Hà Nội. Chuyện Nam Định chẳng có gì.

Vì thế Nam Định vắng người. Có lúc người đông nhưng vẫn như vắng một cái gì, khó nói.

Hồ cũng vắng. Có một đôi nam nữ đang tựa gốc cây. Lâm đi nhanh qua. Họ buông nhau nhìn anh. Lâm lại ngượng rảo bước nhanh. Kỳ thật, phải ngược lại mới đúng chứ. Rồi như để xoá đi cái cảm giác xấu hổ anh bỗng nhảy tưng tưng chân sáo như một đứa trẻ cứ như cả không gian chỉ còn mỗi ta. Mà đúng thật, có ai ở đây biết mình đâu, quen mình đâu. Một cảm giác hoàn toàn tự do lâng lâng tràn ngập như muốn bay lên, muốn nhảy, muốn xoay, muốn lướt.

Cứ thế Lâm chạy nhảy một mình vòng nốt đoạn bờ hồ. Anh chỉ dừng lại gần cổng. Có một cô nàng đang đứng nhún nhảy theo tiếng nhạc Rumba. Hai cặp mắt nhìn nhau. Lâm sững lại. Cô này trông quen quá. Cô ta dừng lại, tiếng nhạc từ chiếc điện thoại cầm tay vẫn vang lên thúc giục. Lâm cười hiền, nói:

- Sao cô không vào sàn mà chơi. Mọi người đang khiêu vũ ở đấy. Có giao lưu với hội Hà Nội đấy. Đông vui lắm.

- Anh chở họ xuống à - Cô nàng nhìn anh, chắc tưởng là người lái xe đưa đoàn xuống.

- Tôi đi cùng thôi, tôi quê Nam Định đi nhờ xe về thăm quê rồi chờ họ nhảy xong cùng lên. Gọi điện cho mấy người thân bạn bè chẳng có ai ở nhà. Họ đi vắng cả. Tôi chạy ra hồ chơi thôi. Xưa tôi sống ở nhà kia - Lâm chỉ tay về cái nhà nhỏ phía xa.

- Em có ông bác ở phố ấy xưa. Bây giờ chẳng còn ai. Mọi người lên Hà Nội hết. Nhà em xưa ở phố Hoàng Văn Thụ, phố Hoa Kiều xưa.

- Phố Khách, toàn người Tàu, phố bán đồ sứ, vải, phố thuốc bắc. Nhà tôi xưa cũng ở đấy, gần ngõ Văn Nhân, xưa có phở Văn Nhân. Thế chị… à cô vẫn ở Nam Định chứ.

- Không, em ở Hà Nội, về có công việc đây thôi. Sáng nay  con bạn em là cô giáo ở đây rủ em ra chơi sàn nhưng đông quá, chen chúc, không nhảy thì phải đứng mỏi chân, cũng chẳng có ghế trống ngồi. Một ông mời em, xô đẩy, sái cả cổ tay, trẹo cả chân và đứt cả giây giầy. Bạn em thì nó có cạ nhảy cùng Câu lạc bộ. Thôi em ra hồ chơi chờ nó vậy.

Lâm nhìn xuống bàn chân cô nàng, chiếc giày nhảy màu vàng chân trái bị đứt quai. Anh cười nói:

- Đưa giày tôi buộc tạm cho rồi vào mà nhảy Lọ Lem ạ. Biết đâu bây giờ mọi người nhảy mệt rồi phải nghỉ, sàn thoáng, lại có một hoàng tử nào đến nhảy một mình đang chờ cô đấy.

Anh cúi rút con dao nhỏ cắt dây giầy của mình ra một đoạn và quỳ xuống nối buộc giày cho cô Lọ Lem. Hạnh, tên cô gái, không kịp phản ứng và thấy mọi thứ diễn ra nhanh quá, một cách vô thức cũng như tay cô chống lên đầu anh lúc nào vậy đễ giữ thăng bằng lúc anh tháo giầy ra để buộc...

Cái tự nhiên đến hồn nhiên của anh chàng tóc xoăn mắt xếch nhưng đầy vẻ hiền chỉ có thể có ở những người lính hay những người đã đi học nước ngoài xưa, Hạnh thầm nghĩ trong lúc cũng Lâm rời hồ về sàn. Cô cũng tự nhiên hơn:

- Anh chắc khiêu vũ giỏi lắm, lúc nẫy em thấy

anh chạy Valse nhẹ đẹp thế.

- Tôi thích chuyển động mà. Tôi chơi bóng đá và bóng rổ thời đi học, cái môn chạy, nhảy, dướn, hãm dừng, xoay thân và giữ thăng bằng.

-Nhưng đấy ở chỗ rộng, trên sàn chật ních người anh ạ.

- Phải giữ thăng bằng trọng tâm mà. Đấy là nguyên lý chuyển động của nghệ thuật nói chung còn “Khiêu vũ là chuyển động của trọng tâm theo dòng nhạc“

-Khó lắm anh ạ.

- Sao khó, phải biết giữ thăng bằng trên một chân sau mỗi một chuyển động, một chân treo hờ thôi. - Lâm làm bước đi dạo gót mũi cho cô xem - Nếu vướng thì lách thân, thả cái chân tự do đó về chỗ trống hay nói cách khác phải rất rõ chân trụ và chân chờ.

- Có một thầy cũng nói là phải dùng thân dẫn chân.

- Ông ấy nói đúng đấy, thực ra "Khiêu vũ là ngôn ngữ của cơ thể, là sự khao khát của phần thẳng đứng của thân theo phương nằm ngang, là bộc lộ sự dướn bay lên của cơ thể gắng thoát khỏi những níu kéo của sức hút trái đất nữa". Chân là cái sau. Cái thân cần để ý, chính nó tạo ra đẩy, kéo và hút. Muốn thế lúc tập phải dùng tay vịn hoặc cột để tập chuyển động thân.

- Thảo nào vừa rồi em thấy anh chuyển động khác quá, toàn dùng thân.

- Đâu có. Đấy là do thói quen hồi bé toàn lội sông hồ nước đến ngực thôi.

- Thực ra em học khiêu vũ sáu năm nay rồi. Học mấy lớp nâng cao nhưng không có bạn nhảy. Có mấy ông họ định ghép cho em nhưng các ông ấy không hợp chân. Nhảy nó cứ như cãi nhau ấy.

- Đấy là cô học Dancesport - Khiêu vũ thi đấu rồi, để biểu diễn cho khán giả xem, cho trọng tài chấm điểm và trên sàn không có chướng ngại vật. Quan trọng là phải khớp đôi, thuộc bài, thuốc bước. Còn ra sàn đông người thì không được, chen chúc, các chướng ngại vật cũng lại di động nên cũng như chơi bóng rổ ấy, rất cần học phản xạ và đầu tiên là học quay đó. Cô thấy cái con quay không, có bao chướng ngại vật chạm vào nó có đổ đâu.

- Hay thế, cái con quay ấy.

-Và học thăng bằng trên trên một chân sau mỗi một chuyển động, giải phóng chân kia..

Mải nói chuyện về khiêu vũ và chuyển động họ về đến sàn lúc nào. Họ vui vẻ với nhau cứ như là quen thân từ lâu lắm.

5. TRONG SÀN

Trong hội trường có vẻ quy củ hơn không lộn xộn như lúc đầu giờ. Chắc có một số người tò mò đến đã về. Họ cũng kiếm thêm một loạt ghế nhựa ở đâu vào để không ai phải đứng nhốn nháo cả. Đang là vũ điệu Rumba. Có một ông trong bộ đen giày trắng vừa nhảy vừa nhai kẹo, mắt nhìn đi đâu, tay cũng vậy, hời hợt. Cô nàng quay múa quanh ông rồi được đỡ ngả dài xuống sàn. Kết thúc vũ điệu ông ta bỗng đưa mắt nhìn Lâm và Hạnh, cái nhìn là lạ. “Chắc họ có gì với nhau“ - Lâm nghĩ - “Nói gì thì cô này cũng là đẹp nhất ở sàn rồi“. Vừa hay có múa Lào. Hạnh cầm tay Lâm rủ nhảy. Lâm nói:

- Thực ra tôi chỉ biết đi thẳng, đi ngang và quay tại chỗ.- Anh uốn vai thả chân quay tròn một vòng rất gọn rồi nói tiếp - Chỉ cần quay tại chỗ nửa vòng trên một chân, rồi thả chân kia bên cạnh, chập chân là xong một vòng valse

- Valse cối xay - Hạnh nói.

- Xoay thì đúng là cối xay trên một trục Pivot, nó an toàn không vướng trên sàn đông người. Nếu có chỗ thì khi thả chân theo chuyển động tạt ngang chân. Bước một tiến là cối xay xoay quanh chân trụ là chân phải và thu chân trái treo bên, hai là tạt hay là duỗi trượt chân trái, ba là xoay thêm chút và chập, rất nhàn chỗ đông người.

Đi đến góc sàn Lâm làm thử Hạnh xem. Hạnh cũng làm được theo ngay và thốt lên: “Dễ quá anh“.

- Dễ mà. Bóc tách mọi thứ ra thì đều dễ, khi xoay chỉ xoay trong một cái mâm. Khi chuyển động thẳng ngang hay dọc thì chỉ thẳng, không xoay.

- Thế anh học khiêu vũ ở đâu.

- Không, tôi dân kỹ thuật, chuyên môn thiết kế Robot mà.

- Thế anh làm một Robot để dẫn nữ nhảy được không.

- Đang có một con Robot múa Lào đây còn gì.

Lâm đưa Hạnh về chỗ, hai người vừa ngồi xuống, nhạc vũ điệu Cha Cha Cha lại vang lên ngay. Cái ông giầy trắng nhai kẹo lại mời Hạnh rồi ghế Hạnh ngồi lại có một cô ở đâu ngồi mất. Nhìn sang thấy Hạnh nhảy xong ngồi dãy cùng mấy cô bên kia. Ông giày trắng cũng bên ấy. Đến điệu Salsa anh định sang mời Hạnh ấy nhưng chậm rồi. Lại cái ông giày trắng. Cái cô béo nhảy với ông điệu Rumba lúc nãy biến đâu mất. Lâm lại ngồi xuống xem. Không chỉ là kỳ lạ nữa mà là kỳ diệu, chuyển động của Hạnh đẹp quá,những đường cong no tròn nữa, khêu gợi quá. Ông ấy mấy lần muốn ghì Hạnh để ôm te đổ nhưng Hạnh như tránh đi bằng các chuyển động quay tại chỗ, nhanh và gọn. Lâm thầm khen.

Thôi được, chỉ cần đến Valse nhanh. Chỉ Valse nhanh thôi, được dẫn Hạnh đi Valse đó, bước một chỉ xoay Pivot, bước hai duổi ngang, bước ba chập. Cái Valse “xoay - tạt“ đó anh vẫn chỉ nhảy một mình và mô phỏng được cho con Robot trên máy tính. Vẫn chỉ một mình nó. Có ghép đôi chúng được không, anh không biết. Hình như làm mọi thứ không chỉ đủ các dữ liệu, điều kiện, câu lệnh, phương trình, thuật giải là xong. Nó cần một cái gì đó nữa. Người ta gọi là Duyên. Khó thế.

Bạn của Hạnh, Mai là cô giáo dạy văn lại nhiệt tình quá. Với lại cô đã trót hứa giới thiệu ông Sáng, chủ hiệu ảnh Tương Lai ở trung tâm thành phố cho Hạnh. Sáng nay giao lưu với câu lạc bộ Hà Nội xong, tối mới là sinh hoạt theo lịch của câu lạc bộ Nam Định. Ông Sáng nói sẽ đến đón Hạnh. Ông ấy học được nhiều bước nâng cao lắm, tối chỉ có hội viên Nam Định, thưa người ông mới đem ra thử trình diễn được. Ông Sáng còn thuê cả một thầy lại là trọng tài quốc gia ở Hà Nội xuống dạy. Ông thầy hứa là cứ học cá nhân cho tốt rồi lên câu lạc bộ Cầu Vồng của ông ấy ở Hà Nội chọn nữ ghép đôi cho khớp, cuối năm đi thi giải Dancesport mở rộng, bét ra cũng huy chương đồng. Hạnh còn dạy học ở Nam Định một tuần nữa, ông Sáng định sẽ mời Hạnh qua xem Studio và chụp ảnh các vũ hình hai người. Chưa treo vội. Để khi nào có ảnh đứng trên bục cùng Hạnh cổ đeo huy chương đã. Mà lúc đó cũng cần đổi tên hiệu ảnh. Tên Tây. Tên một vũ điệu chẳng hạn.

Nữ vốn thụ động. Mấy lần Hạnh cùng ông Sáng đi vòng qua chỗ Lâm ngồi, cô liếc nhìn anh, thấy anh cười lại vỗ tay. Đúng là hâm. “Thôi không sao, qua mấy điệu nữa mình lấy cớ ra ngoài rồi tính sau“ - Cô nghĩ thầm.

Đến điệu Tango Hạnh cũng không sao thoát được ông Sáng. Mai còn vun vào nói ông nhiếp ảnh là chuyên Tango đấy. Hạnh cũng thích Tango nhưng cũng miễn cưỡng vì nhạc nổi lên lại là nhạc Việt, lại ỉ ơi. Đã thế lại bản nhạc lại dài quá, đi Tango vòng qua chỗ Lâm ngồi lại không thấy anh đâu. Ông nhiếp ảnh vẫn cứ khoá chặt cô trong vòng tay, mùi nước hoa Calvin Klein ông dùng khéo ám cả vào tóc cô mất. Bàn tay ông ghì cô chặt quá. Mà không chỉ có bàn tay…

Mấy điệu sau Hạnh không nhảy, nói mỏi đau chân phải nghỉ đã. Đưa mắt nhìn cả sàn không thấy Lâm đâu. Ông Sáng mời một cô khác trong câu lạc bộ. Hạnh lấy cớ chạy ra ngoài. Ngoài sân không có Lâm. Hạnh nhìn ra hồ rồi như không nghĩ gì, kệ đôi chân. Hồ không có ai. Lại thế, lại một ảo ảnh sao - Một ý nghĩ thoáng qua đầu như ngọn gió lạc. Một con chim sẻ bỗng nhảy chuyền qua cành cây rồi biến mất. Hạnh lững thững đi về. Ông giày trắng cũng đang đứng gọi điện thoại trước sảnh, dáng đứng Rumba.

6. BẠN CŨ

Bên kia sông có một chiếc xe Ford đen đi về hướng biển. Hùng một tay giữ volant, tay kia thay cái đĩa nhạc. Tiềng nhạc ngập trong xe lúc rộn ràng, lúc da diết đến nao lòng. Cứ mỗi lần gặp Lâm cậu ta lại mở bản nhạc này, bản My Way với giọng ca của Frank Sinatra. Hùng còn tự gõ ghi ta, tự hát rồi ghi âm lại. Hùng nói là khi nào chết để mọi người tiễn đưa Hùng với bài hát này. Thực ra người hâm thì Nam Định không thiếu nhưng đúng là mỗi người một vẻ hâm. Trong lớp thì Hùng là đứa nhiều tài nhất và di dỉ dì di cái gì cũng biết. Từ Phong thuỷ, Kinh Thi đến Mạc Ngôn, Trương Tửu, từ Pele, Pavel đến các trường phái biểu tượng của thi ca, từ Bát Nhã Chân Kinh đến Cựu Ước, Tân Ước,...thiên văn, địa lý Hùng nói được hết. Hùng vẫn ở cái nhà có vườn trong ngõ xưa. Hai con ở Hà Nội. Trong nhà ngổn ngang các sách và ghi chép. Xưa khi còn mẹ ở Nam Định Lâm thương xuyên về và lần nào cũng vậy anh lại mang một gói cafe, một bao thuốc lá đến thăm Hùng và hỏi rồi nghe. Không hỏi cũng không sao, Hùng sẽ tự nói. Đến với Hùng làm Lâm thêm lười đọc sách, nghe Hùng nói sướng hơn. Lúc cao hứng Hùng còn lấy ghi ta bập bùng phổ nhạc vào thơ và ngân nga:

Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men

Say thơ xa lạ, mê tình bạn

Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen

Có điều không như trong câu thơ Xuân Diệu viết “Những bước song song xéo dặm trường…“, Hùng hầu như chẳng ra khỏi Nam Định. Thế giới dặm trường đối với Hùng là những bài ca, băng đĩa, sách báo, vô tuyến và bây giờ là chiếc máy tính. Hùng yêu Nam Định. Hình như yêu nhiều, đam mê nhiều lại biết nhiều quá thì chẳng còn làm được gì. Dân Nam Định yêu thơ gộp lại chắc không bằng Hùng yêu. Nhưng Hùng chưa hề làm một bài thơ trọn vẹn nào, cũng không có ý định làm. Ai mà đọc thơ cho Hùng nghe cũng khổ. Hùng sẽ đọc ngay một bài của ai đó na ná có trước, không của ta thì cũng của Tàu, của Tây. Hùng cũng hiểu điều đó. Bi kịch của con người là biết nhiều người giỏi quá và thấy mình thua kém và rồi thành quen chấp nhận. Cứ điếc mới không sợ súng. Lũ bạn cùng lớp đều nghĩ là giá Hùng đọc ít đi, biết ít đi thì Hùng bét ra đã thành nhà thơ hay nhà văn có tác phẩm rồi. Hùng cũng phụ hoạ thêm là vì không hiểu hay hiểu lơ vơ phụ nữ thì mọi người mới lấy vợ được. Hai đứa con của Hùng may quá không giống tính bố, nói chung là không động đến sách vở, ít chữ, thạo cuộc sống mới thành đạt được và Hùng mới có ô tô mà vi vu.

Lâm theo lời Hùng lấy cái phích con kim loại rót cafe uống. Mùi cafe thơm phức. Hùng nói:

- Chỉ một tiếng là về đến Quất Lâm. Thằng Vinh khai trương nhà nghỉ. Bọn chúng nó gặp ông sẽ trợn tròn mắt ra đấy. Lần trước tụi này tụ tập ở Hà Nội mà không có số của ông, có cả bọn con Loan ở Vũng Tàu ra, con Hải ở Đức về. Đứa nào cũng nhắc ông. Lần này ông đúng có duyên. Tôi đã phóng xe đi rồi quên điện thoại trở về lấy mới thấy cuộc gọi lỡ. Thế về đây nhảy nhót với ai.

- Đi nhờ xe thôi, về thăm Nam Định. Có ông bạn làm thày dạy nhảy đưa câu lạc bộ về giao lưu với câu lạc bộ khiêu vũ Nam Định. Xong nhảy nhót họ sẽ đi ăn rồi thăm đền Trần trước khi về. Để tôi nhắn tin cho cậu vũ sư là có việc về Hà Nội trước cái đã.

Lâm vừa lúi húi nhăn tin vừa nói chuyện. Bên ngoài trời nắng vàng. Cảnh vật thay đổi nhiều quá. Nhiều thứ mới, cũng nhiều thứ mất đi. “Mà làm sao không mất được. Nơi cất giữ tốt nhất, lâu nhất một cái gì quý giá đó chỉ có thể là trong tâm trí con người thôi, may ra“. - Hùng nói.

Lâm nhắn tin xong, bâng khuâng. Anh nhìn xuống chân, dây buộc chiếc giầy chân phải  đã bị cắt cụt. Hình ảnh chiếc giày cao gót màu vàng và bàn chân trắng nõn của cô nàng bên hồ sáng nay lại hiện lên. Mình vẫn chưa biết tên cô ta nói chi đến số điện thoại. Chỉ mỗi một điệu múa Lào, tay em còn chưa - Lâm thoáng nghĩ.

7. QUẤT LÂM

Quất Lâm thay đổi nhiều quá. Các hàng quán mọc lên chật đặc dọc theo bãi biển đã đổ bê tông. Các nhà nghỉ thì ở phía sau. Hồi bé mẹ có đưa Lâm về đây một lần. Lần đầu tiên ấy, những con thuyền cánh buồm ngoài khơi và chân trời sóng nước ấy đã in sâu trong tâm trí anh. Và hình ảnh mẹ nữa. Đúng như Hùng nói, mọi thứ đều thay đổi cả, đều mong manh, chỉ có những thứ nào được cất giữ trong tâm trí mới không thể mất được. Mà những hình nào đã cất được thì mãi vẫn còn với thời gian, không phôi pha nhất là những hình đen trắng. Bao nhiêu năm rồi, cũng không hề nghĩ đến, nhớ đến kỉ niệm xưa, ngày mẹ đưa về Quất Lâm hồi nhỏ ấy, thế mà hình ảnh hai mẹ con trên bãi biển chiều có lúc lại đến với anh trong giấc mơ. Hình như anh có hỏi mẹ là xa tít ngoài biển kia có gì nữa không. Hình như mẹ không trả lời.

Nhà nghỉ của Vinh xa bờ biển nhưng khá to. Lâu lắm Lâm mới gặp lại hội bạn học xưa mà thấy đứa nào vẫn thế, lũ con trai Nam Định, đứa nào đứa ấy thơ văn sách vở, đến già không khôn được. Thằng Châu giải ba học sinh giỏi văn xưa toàn quốc xưa giờ bán vải ở chợ Rồng. Thằng Sỹ cũng giải nọ giải kia giờ lang bạt đâu ở Sài Gòn, chưa vợ. Thằng Hiền văn toán toàn diện lại vô địch bóng bàn, kiện tướng nữa giờ sự nghiệp còn lại có cái quán nước ở phố Nhà Chung. Ông chủ quán độc thân mỗi ngày viết một bài thơ trên cái bảng treo ở góc tường. Vợ con đều định cư bên Đức. Có cái thằng Vinh lười như hủi, học dốt như bò thì lại được cái khôn. Vinh cũng tốt nghiệp Đại học Kinh tế đàng hoàng, vợ bé, thê thiếp có cả. Bây giờ lại dựng cái nhà nghỉ Thuý Kiều này thì nàng hầu thì vô kể. Dù sao Vinh cũng chưa phải là khôn nhất, vẫn còn đi theo con đường kinh doanh, cũng nhiều gian truân lắm, tóc bạc trắng chứ không như mấy đứa khác, sách vở cố gắng học thuộc lòng mấy chục Câu Gỗ mẫu rồi cứ thế thành kỹ năng, dùng đúng chỗ và đi vào quan trường và thành đạt, để lại tiếng thơm cho cả họ. Đúng là cá tính rất khó thay đổi. Lũ bạn biết rõ hoàn cảnh độc thân của Lâm, biết anh đã giải quyết chia tay chính thức xong với cô vợ đang ở bên Đức. Mà đâu chỉ mình Lâm, thằng An này, cả thằng Hải lớp 10B nữa, cho vợ đi sang Đức là coi như đi đứt. "Thôi thì trong lúc chờ đi bước nữa mấy đứa chịu khó xuống làm khách của thằng Vinh vậy" - Hùng vỗ vai Vinh.

Chiều Hùng đưa Lâm ở trạng thái say khướt vào xe và phóng về Hà Nội. Lâm đã nâng cốc hết với người nọ người kia. Kệ thôi, lâu lắm mới gặp nhau, rồi vào xe ngủ. Cũng có lúc cần say để cho bình an, Hùng hiểu tâm trạng Lâm và giữ lời hứa, gạt đi mọi phương án khác. Anh cũng nói đùa với cô nàng có thân hình tròn lẳn của gái biển, da ngăm nhưng đôi mắt lá răm lúng liếng với rèm mi mượt mà như nhung đen mà Vinh lựa chọn gọi đến cho Lâm là lúc khác sẽ đưa anh chàng này xuống giao cho cô ở trạng thái không thảm hại vô tích sự như thế này. Bây giờ Hùng phải đưa bạn về vì ngày mai anh ta có việc rất cần ở Hà Nội.

Hùng nhìn vào gương thấy Lâm đã nằm ngủ ở ghế sau. Chắc về đến Hà Nội thì anh chàng tỉnh rượu. Hùng lấy kẹo cafe nhai xua cơn buồn ngủ đang ngấp nghé. Sợ nhất là đường vắng, tốc độ đều, cái đơn điệu làm díp mắt lại một phút là xong cuộc đời, lại còn thằng bạn ghế sau nữa. Hùng bật nhạc, có giọng ca Lệ Quyên “Anh đi đi, người điên không biết nhớ và người say không biết buồn …“. Anh bạn này không điên nhưng đang say - Hùng nghĩ - Buồn thì không rồi, say không biết buồn nhưng liệu hắn có còn nhớ gì không. Lúc Vi, em họ Vinh, cô gái có thân hình tròn lẳn, đôi mắt lá răm đến là lúc hắn đã say khướt rồi mà. Hùng bỗng buột miệng ngân nga câu thơ của ai đó.

Ai mang đôi mắt lá răm

Hớ hênh qua ngõ cấy nhầm vào tôi

Người đi rồi người dưng ơi

Còng lưng tôi hái một đời vị cay

Mắt lá răm chỉ có ở Nam Định thôi, ở Hà Nội không có, Hùng lục lọi trong trí nhớ và cơn buồn ngủ qua nhanh. Xe phóng vun vút, đường vắng, tối. Không gian mênh mông.

Lâm cũng nằm co lơ mơ, chập chờn trên ghế sau trong xe. Tiếng nhạc Tango tràn ngập anh. Anh lại thấy chiếc giầy vàng đứt quai được buộc nối bởi đoạn dây giầy đen của anh cắt ra. Anh thấy bàn chân của cô gái đặt lên giầy, cả năm ngón. Rồi một người đi đến dẫn cô vào điệu Tango, một hoàng tử đi giầy trắng, ánh mắt nhìn anh diễu cợt. Họ đi lẫn vào dòng người, mờ dần. Anh tỉnh hẳn. Cô ta chắc không nhớ mình. Dân đi nhảy mà.

8. VỀ HÀ NỘI

Trở về Hà Nội là Lâm lại chúi mũi vào công việc chuyên môn cơm áo gạo tiền, thời giờ rỗi thì lại loay hoay với hình những con Robot trên máy tính. Anh cũng chỉ cho mô phỏng được những bước Walk dạo một mình cho Robot và thử xem các chuyển động với cách xoay các khớp hông, đầu gối, cổ chân của chúng rồi ghép nhạc. Anh vẫn chưa ưng, chưa thể ghép đôi chúng được. Cũng có lúc tiện anh ghé vào sàn nhảy nghe nhạc, giết thời giờ, xem các đôi nhảy. Cũng chưa một lần nào thấy lại cái cô Lọ Lem gặp ở Hồ Vị Xuyên xưa.

Ở Hà Nội nhiều người thường chọn một trong hai thứ giải trí bình dân là karaoke hay Khiêu vũ Thể thao. Có một thời người Việt sốt Thể dục Nhịp điệu nên bây giờ chuyển sang khiêu vũ cũng quen nhanh. Lại được các thợ dạy thợ dắt huấn luyện cứ thế là nhún nhảy, lắc hông. Không chỉ các vũ điệu Latin mà cả Standart cũng lắc lư, nhún nhảy. Đấy là nói các bà, còn các ông thì chỉ te đỡ các bà ngả xuống sàn là thích. Những chuyển động chao, lướt, trượt, bay, hãm hầu như không có. Nhưng phải nói dân Việt họ tài thật, ngày nào cũng từng ấy bản nhạc tour đi tour lại, cũng lại bài ấy, người bạn nhảy ấy. Có lần anh hỏi một ông ngồi cạnh chờ cô bạn nhảy đến muộn: " Ngày nào cũng thế mà không chán à ". Ông ấy bảo là đồng diễn mãi cũng chán nhưng cũng đành chịu thôi, cùng rủ nhau đi học bốn năm rồi, thuộc bài, thuộc cỡ của nhau, mắc kẹt vào nhau rồi, không nhảy với người khác được nữa. Hoá ra con người cũng vậy, con Robot, một chương trình mặc định sẵn. Nghĩ thế anh lại thấy thương những con Robot. Mà không hiểu cái cô nàng Lọ Lem đó giờ vẫn một mình hay đã có ai, nói đúng hơn mắc kẹt với ai. Chiếc giày nhảy nữ màu vàng óng ánh và bàn chân trần của cô gái lại hiện lên. Mà hình như có một nốt ruồi đen nhỏ trên mu bàn chân.

Không chỉ hình ảnh bàn chân và chiếc giày Lọ Lem được trí nhớ của Lâm sao chép lại mà còn một cái nữa, khuôn mặt cô ấy. Nó không rõ lắm nhưng chắc anh phải gặp ở đâu rồi. Chính cái đó làm anh bứt rứt và hay lục lọi trong trí nhớ của mình cái khuôn mặt với cái môi dưới mọng hơi trễ một cách quyến rũ ấy nhưng vẫn không ra.

Rồi Tết đến, Lâm đến thăm anh Ngữ dạy ở Đại học Y Hà Nội. Anh Ngữ hay đi dạy tại chức ở Nam Định. Anh bảo ở đấy có nhiều hội thơ lắm và anh cũng hay được mời đến nghe thơ. Khi về Hà Nội lần nào cũng mang theo mấy quyển thơ được tặng để trên bàn làm việc. Đến chơi với anh lần này Lâm bỗng dưng lại dở từng tập của tác giả nữ ra xem, chủ yếu là ngắm nghía ảnh các cô in ở bìa cuối hoặc bìa đầu, địa chỉ, rồi mới xem các bài thơ. Anh Ngữ biết Lâm không đọc thơ mà chỉ như đang đi tìm thơ, tìm người. Anh lấy các tập thơ được tặng từ những năm trước đã cất lên trên giá sách cho Lâm chọn. Kìa, cô Lọ Lem đây rồi. Giống quá, nhưng không thể nào. Có tên và địa chỉ đây. Cô nhà thơ này là bác sỹ ở tận Nghĩa Hưng bên kia sông.

- Em gặp một cô giống hệt cô này ở Nam Định nhưng không biết tên và địa chỉ, nhưng cô ta nói là ở Hà Nội xuống có việc. - Lâm chia sẻ với anh.

- Cũng xinh. Nhưng thiếu gì người giống nhau. Có cô này, bác sỹ điều dưỡng ngay tại thành phố Nam Định, không hiểu sao lại cao số mà bên ngoài còn xinh hơn nhiều. Nhiều bài thơ hay lắm, cầm về mà đọc. Mà thôi cầm cả đi. - Anh Ngữ lấy túi cho tất cả các tập thơ có trên bàn vào bảo Lâm mang về.

Lâm cười khổ nghĩ thầm "độc thân mà dính vào món này coi như hết đời". Mấy năm trước cậu kĩ sư em họ Lâm, cũng độc thân, được hội bạn giới thiệu cho một cô khá xinh rồi không thành. Cô ta bỏ chạy. Sau mới biết có đứa chơi xấu vu cho cậu em là làm thơ, lại cả in tập thơ riêng nữa.

Nói thế thôi chứ về nhà Lâm cũng dở tập thơ của cô bác sỹ ra xem. Có cả lời giới thiệu của một nhà thơ chuyên nghiệp, khen kinh thật. Vừa rồi nghe nói người ta có làm inh chuyện đạo thơ. Đúng là hết chuyện, con người chỉ có vậy, từ ngữ trong thơ chỉ có vậy, loanh quanh cũng chỉ yêu thương giận hờn rồi bốn mùa mưa nắng. Có đạo lời giới thiệu, lời, bình lời khen thì có. Cũng lại " những ước vọng của một trái tim giàu xúc cảm, tinh tế nhạy cảm, khao khát được đến bến bờ hạnh phúc, được sẻ chia, đồng cảm với những xúc cảm đời thường mà vô cùng cao quý ". Rồi lại vin vào cả cái ông Belinsky nữa “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”, rõ khổ. Đây, có một bài hơi riêng, bài "Tình Muộn"

Em, tình muộn vì là anh, anh đấy

Trời xui em lại đọc thơ anh

Lại để anh cầm tay, thấy mình trong ánh mắt

Để bóng hình anh không gạt nổi khỏi lòng

Trời ạ, Lâm để rơi tập thơ và ngủ quên đi lúc nào. Trong giấc ngủ anh lại thấy vũ điệu Valse. Chỉ lần này không thấy Lọ Lem và patner của nàng. Anh cũng không ngồi xem, đợi hay tìm. Anh cũng bước len vào dòng người chuyển động xoay, duỗi, chập và hoà vào dòng nhạc, tan ra, bay lên...

Rồi một buổi sáng thứ Bảy cậu bạn làm cùng đến đưa Lâm đi siêu thị nhờ xem hộ mấy đồ nội thất cho ngôi nhà của cậu vừa sửa xong, sau đó hai anh em đi ăn trưa. Không hiểu sao Lâm lại mang theo cả cái laptop để định lúc ăn trưa có mấy thứ chuyên môn tranh thủ trao đổi luôn. Thấy Lâm xách cái máy cậu ấy bảo để nó lên chỗ để chân xe ga của cậu ấy cũng được, đỡ khổ. Đến nơi Lâm có điện thoại, xuống đứng gọi, cậu ta thì dắt xe đi gửi. Thế nào mà lên đến tầng hai siêu thị hai người mới sực nhớ ra cái laptop, chạy xuống, mất rồi. Bao nhiêu thứ trong máy tính, cả một kho tài nguyên của Lâm mới tiếc chứ.

Thôi, của đi thay người, đành nghĩ thế vậy. Còn nhiều cái mất đau hơn chứ. Lâm mua cái máy mới và tập trung vào các vấn đề cần nhất, không dính dáng đến các con Robot hay nhảy nhót gì nữa. Anh cũng không ra sàn nữa, theo cậu bạn đi chơi bóng bàn, cái món thể thao đối kháng nhiều bất ngờ hơn. Lâm cũng thôi không nghe nhạc Valse khi ngồi trước máy tính và cũng không nằm mơ thấy nàng Lọ Lem ở Nam Định nữa.

Một năm trôi qua nhanh nhưng Lâm cũng chưa một lần nào về thăm lại Nam Định. Lâm bị cuốn hút vào chuyên môn với những con Robot công nghiệp, có mỗi cái thân, không có chân, đỡ nhảy nhót. Những cánh tay máy lo cầm nắm, với chỗ nọ bỏ sang chỗ kia cho chính xác, khéo léo. Cũng chẳng có nhạc nhung gì nữa, hết đề tài nọ đến đề tài kia cần hoàn thành nhất là sau chuyến đi nghiên cứu ở Nhật. Rất nhiều anh chàng Độc thân sau khi sang Nhật nghiên cứu bị ảnh hưởng văn hoá Samurai thì ít mà chủ yếu là tiếp thu luôn cái văn hoá Ở Vậy của nhiều người Nhật.

9. MỘT NĂM SAU

Tưởng như sau đó mọi việc cứ thế an bài thì câu lạc bộ bóng bàn của anh lại phải đi giao lưu tân Hà Đông. Lâm lại là chủ lực.

Sáng thứ Bảy đẹp trời Lâm đến các cửa hàng bán đồ thể thao ở phố Trịnh Hoài Đức tìm mua cái mặt vợt mới để dán thay một bên vợt cho trận đấu ngày mai. Lúc mua xong dắt lùi xe xuống đường anh lớ ngớ để đuôi xe xô vào một cô vừa ra khỏi taxi. Cô nàng loạng choạng quay suýt ngã. Bốn mắt nhìn nhau ngỡ ngàng. Anh cũng không kịp xin lỗi mà lại cúi xuống nhìn bàn chân cô gái, vẫn cái cổ chân tròn đây rồi, chắc gần đấy phía dưới là cái nốt ruồi đen. Lúc ngẩng lên định nói gì thì gặp ánh mắt cô nhìn đau đáu, môi mấp máy: "Anh".

Hạnh cùng anh đi vào nhà thi đấu thể thao ngay cạnh mấy cửa hàng đó. Có cuộc thi giải Dancesport Hà Nội mở rộng. Bây giờ họ đã biết tên nhau, biết cả nghề nghiệp nữa. Hạnh dạy tiếng Anh ở trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Hạnh thi cùng một ông ở Nam Định lên. Thầy là trọng tài quốc gia ở Hà Nội, bạn thân của ông ấy. Gửi xe ở sân xong Lâm theo cô lên tầng hai nơi các vận động viên đang khởi động. Ông patner của Hạnh đã đang gọi điện tìm, lo Hạnh đến muộn. Trông ông quen quen nhưng trẻ hơn cái ông anh gặp ở sàn nhảy ở Nam Định xưa. Ông mải khởi động, chạy bài, chạy bước. Rồi Hạnh xuất hiện trong cái váy dài vàng óng, chiếc giày cũng màu vàng. Có phải chiếc giày xưa đứt quai được Lâm buộc tạm dây ấy không, Lâm không chắc. Chỉ bàn chân anh nhớ. Rất nhớ. Hạnh cười nhờ Lâm coi hộ túi quần áo và lát nữa quay video cho Hạnh. Ông patner gọi Hạnh vào đôi, đôi mắt đảo qua Lâm. Đúng ông ấy rồi. Vẫn cái liếc nhìn rất nhanh, khó tả. Lúc sau họ rời nhau, Hạnh ra ngồi cạnh Lâm nói chuyện:

- Anh Sáng thi cùng em hai nội dung Tango và Valse chậm. Ông thầy dạy anh ấy là trọng tài quốc gia chọn cặp cho, ghép em vào sau chuyến em về dạy học ở Nam Định năm kia. Lần trước thi ở Hải Phòng bọn em được Huy chương bạc. Lần này ở Hà Nội khó hơn, nhiều đối thủ mạnh hơn. Chỉ cần được Huy chương thôi mang thành tích về cho Nam Định. Anh Sáng có ông bạn nữa ở huyện Quất Lâm, giàu lắm, cũng định mở sàn ở đó. Hai cô gái trẻ kia là ở Quất Lâm lên đấy. Ông đại gia ấy tài trợ hết để các cô học khiêu vũ nhưng chuyên về các vũ điệu Latin. Sau ông còn định cho họ học múa cột nữa. Dân Nam Định chịu chơi lắm. Nếu lần này được Huy chương vàng ông ấy hứa sẽ tài trợ cho vào Sài Gòn thi và học hỏi thêm.

Không biết có phải thằng Vinh bạn mình không, Lâm thầm nghĩ và đưa mắt sang nhìn hai cô gái trẻ ngồi ghế tường bên. Một cô cũng vừa quay lại nhìn anh, đôi mắt lá răm, gặp rồi. Ở đâu nhỉ. Cô ta cũng nhìn Lâm, miệng mấp máy như muốn nói gì. Hạnh nhận ra, cũng nhìn anh. Lâm đánh trống lảng:

- Có phải ông Sáng là người nhảy với Hạnh ở Nam Định hôm đó không, sao hôm nay trông ông ta trẻ thế.

- Ăn mặc hoá trang vào mà, ai chẳng thế. Với lại phải cạo ria đi. Luật thi đấu không cho để râu ria anh ạ.

- Tội nghiệp - Lâm thốt lên, giọng đầy ái ngại khiến Hạnh buồn cười. Cô thấy cái anh này cũng lạ, trẻ hơn lại được ôm gái mà bảo tội nghiệp. Đã nhiều lần cô phải tỏ thái độ và đẩy patner về đúng chỗ cả theo nghĩa đen và bóng.

Phòng tẩng hai nhà bên này dành cho các đôi nhảy khởi động. Các đôi chọn nội dung là các vũ điệu Standart thì ăn mặc kín đáo cao sang như các hoàng tử công chúa vậy. Trang phục dùng cho các vũ điệu Latin lại rất hot, hoang dã hở khoe lưng vai và những đôi chân dài tròn trắng nõn hoặc màu mật ong ấm nóng, khoe cả những hình xăm, những kiểu tóc nâu, vàng, đỏ, đen như trong phim hoạt hình của Nhật. Lâm bỗng dưng thấy nhớ những con Robot của anh trong cái laptop dù chỉ là mô phỏng.

Đến giờ sang nhà chính thi đấu, Hạnh và patner đứng vào hàng chuẩn bị vào sàn, Lâm lên khán đài tìm chỗ ngồ xem. Anh không biết là phía dưới Hạnh đang ngước lên dõi theo anh, bồn chồn. Lâm chỉ nhận thấy có mấy người ngồi dãy trên cùng nhau đổ dồn ánh mắt vào anh. Có mấy cô trẻ, có cả một đôi mắt lá răm nữa. Lại có một bàn tay vẫy. Vinh, thằng bạn xưa Nam Định, đại gia, ông chủ nhà nghỉ Quất Lâm đứng dậy đón bạn. Cậu ngồi bên đứng dậy leo lên hàng ghế sau nhường chỗ cho Lâm. Phía dưới lần lượt các tốp sáu đôi một ra trình diễn các vũ điệu. Đôi Nam Định chưa đến lượt, còn đứng ngoài sàn. Vinh tranh thủ nói chuyện với Lâm:

- Trong chuyện làm ăn, không được làm những cái mà thiên hạ đang cần mà là những cái thên hạ sẽ cần. Tôi vừa đi một loạt các nước Mỹ Latin về. Họ có nhiều tính cách giống dân Việt, hội hè, nhậu nhẹt và nhu cầu chia sẻ cảm xúc. Bãi biển Nam Định không trong, bùn lấy, không thể làm ăn giống các bãi tắm miền trung biển trong cát trắng được. Nó không xa nhưng lại khuất trên đường Bắc Nam. Cái khó bó cái khôn nhưng cũng có thể trong cái khó nảy cái khôn. Tôi đến Nevada, một sa mạc hoang vu mà trở thành một ốc đảo thiên đường trung tâm giải trí cờ bạc nước Mỹ. Khách sạn Quất Lâm của tôi còn nhiều đất lắm. Cũng sửa sang nhiều hơn, sắp tới ông xuông xem góp ý, các ông đi nhiều, biết nhiều. Hôm kia, con thằng Hùng giới thiệu tôi một máy phát điện chạy bằng sức gió. Họ bán thanh lý sắt vụn. Không cần ra điện, cần cái cột và cánh quạt của nó để tạo sự khác biệt. Cảm giác ban đầu là có năng lượng sạch, công nghệ sạch rồi sẽ thèm có một môi trường sạch. - Vinh thở dài - Rồi một Quất Lâm sạch ông ạ. Thêm nữa tôi muốn đưa các vũ điệu Latin về, ăn mãi ngủ mãi, hát mãi cũng chán, phải có nhảy nhót rồi mời các câu lạc bộ Hà Nội xuống giao lưu.

Vinh quay xuống dặn dò câu cầm máy quay, nhìn mấy em ngồi bên, rồi lại nói tiếp với Lâm:

- Mấy em ở Nam Định đây lên xem thi đấu rồi sẽ thu xếp lên học một khoá cơ bản. Thầy xịn nhé, đi tu nghiệp ở Italia về. Ông cũng tham gia đào tạo các em cho tôi nhé - Vinh nháy mắt rồi quay sang giới thiệu Lâm với các cô gái- Đây là anh Lâm bạn học của anh, rất đa tài, bao giờ lên Hà Nội học có gì cần chỉ bảo cứ hỏi anh ấy nhé. Bài đầu tiên là Vi tập làm giám khảo đánh giá các đôi nhảy cùng anh Lâm xem.

Vinh đổi chỗ cho cô gái sang ngồi cạnh Lâm và bận bịu với hai cô khác. Cái cô tên là Vi ấy có mùi nước hoa Chanel. Lâu lắm anh mới thấy mùi thơm đó. Cô hỏi anh về các vũ điệu, đôi mắt lá răm lúng liếng. Đôi mắt đó anh đã thấy khi nào ấy. Có lần thấy nó trong giấc ngủ. Không phải đôi mắt to đen ngỡ ngàng của Hạnh. Anh cũng không thấy đôi mắt của Hạnh trong giấc ngủ, chỉ thấy bàn chân có nốt ruồi. Bàn chân của Hạnh, đôi mắt của Vi, mình thật vớ vẩn, anh nghĩ. Vi đã nghiêng hẳn sang anh, hương thơm sang trước:

- Ông Sáng đi được cả Standart và Latin. Cô patner của ông thì chỉ Standart. Ông ấy muốn cặp Latin với em nhảy Latin nhưng ông thày bảo Latin và Standart nó phá nhau. Em thích Latin, nó trẻ trung và khoe được các chuyển động cơ thể của nữ.

Hạnh và Patner đã có cả một bộ sưu tập Huy chương ở giải các giải Dancesport trong hơn năm qua ở Thái Nguyên, Thanh Hoá và mới hai tháng trước là ở Hải Phòng. Nhưng lần nay thi ở Hà Nội cô bỗng thấy mình là lạ, một cảm giác xao xuyến, bất an từ đâu đến, không thoát được. Có thể tại tuần trước họp lớp mọi người hỏi chuyện, gán ghép Hạnh nhiều, chuyện chồng con, cao số. Hạnh nói bừa là đã có người yêu, một chuyên gia về Robot, cuối năm nay sẽ tổ chức… Ông Sáng hình nhận ra tâm trạng của Hạnh. Ông chủ hiệu ảnh, quen quan sát, nghề mà. Ông Sáng bảo Hạnh:

- Em cứ tập trung vào nghe thân nhạc của anh. Chỉ cần thế thôi. Vẫn những bài thi cũ, thuộc lòng và khớp đôi xong rồi. Mình cố gắng bộc lộ thêm sự tự tin. Sẽ tìm cách, chọn thời điểm bứt ra đến chiếm khoảng trống trước ban giám khảo và làm các vũ hình chào họ, nhớ quay vòng cổ duyên vào và nhìn lên khán đầi chào mọi người. Dân Nam Định sẽ vẫy. Cậu Tiến ở Đức về chơi sẽ quay video mang sang bên ấy cho bà con đi nhảy xem. Lần này trọng tâm của chúng mình tốt lên nhiều rồi.

Hạnh vẫn cảm thấy bất an…

Chỉ khi bước đi đầu tiên bắt vào nhịp, những xoay kéo của ông Sáng, giai điệu Valse chậm da diết như thấm hoà vào chuyển động, sự bất an trong Hạnh mới tan đi. Trên sàn các đôi chuyển động, lúc tụm lại, lúc dãn ra. Vi ghé đầu vào gần hỏi Lâm:

- Đôi Nam Định áo vàng kia anh ạ. Còn áo xanh là đôi ở Hà Nội cũng cùng là học trò của ông Hoàng vũ sư trọng tài quốc gia. Anh chấm đôi nào.

- Khiêu vũ thể thao mà. Quan trọng là bắt lỗi kỹ thuật, đầu tiên là đúng nhạc, đúng bước đã. Với các điệu nhảy Standart thì quan trọng nhất là nam có vững trụ không, nữ thì chỉ cần theo thôi cho khớp. Còn để đẹp thực sự thì khó, phải bộc lộ được cái khát khao bay lên thoát khỏi sức hút của trái đất thấy được sự thăng bằng của chuyển động ở vị trí cao nhất. Cái đó khó.

- Khó mới thích chứ anh - Vi ngước nhìn Lâm nói. Tiếng nhạc to nghe không rõ, anh quay sang hỏi cô nói gì. Môi họ thật gần nhau.

- Khó vì ở ta có thói quen học bước nhảy, vũ hình, không có thói quen học cách nhảy, cách thăng bằng và chuyển động. Khi tập không quen dùng tay vịn để đẩy thân cho chuẩn, cứ làm các bước, các bài lặp đi lặp nhiều lần sẽ thuộc, thành thói quen, thành tật. - Lâm nói dù biết Vi nghe không hiểu gì, chỉ đôi mắt lá răm nhìn anh như muốn nuốt.

Và đúng lúc đó dưới sàn, trước dãy trọng tài ngồi một đôi nhảy đã bứt ra được để người nam nghiêng duỗi thẳng lưng đến chân đỡ người nữ trong chiếc váy dài màu vàng lấp lánh. Cô gái quay một vòng cổ và ngước lên, chợt như ... chết lặng.

Sau đó cứ như là người nữ quên mất bài nhảy, người nam phải kéo cô đi mấy bước mới lại vào nhạc được, đôi nhảy mới trở lại thăng bằng và đi một cách máy móc, cho xong.

Trên hàng ghế giám khảo có một ông nắm lấy tay đấm xuống đùi và cắn môi.

Trên khán đài nhiều khán giả ngơ ngác. Ông Vinh quay sang bảo Lâm: ”Trưa nay ông đi ăn với bọn mình, có nhiều chuyện để nói đấy. Bây giờ tôi phải đi có câu chuyện đã. Vi nhớ lát nữa gọi điện đặt bàn trước và đưa anh Lâm đến“.

Lâm tiễn Vinh ra cổng. Vinh nói thêm: ”Cái Vi là em họ con gì ruột tôi đấy, nó cao số nhưng ngoan chứ không hư đâu. Ông để ý nhé. Biết đâu“.

                               KHUNG TRỜI Ý NIỆM

Trong Không trống mọi Sắc mầu đều có

Hoà trộn cùng lại trở về Không

Qua lăng kính lung linh từng ánh Sắc

Có Sắc nào mang tên gọi Tình Yêu 

Có ba ông Tường, Lượng và Dân hợp tuổi, chơi được với nhau.Ông Lượng kém ông Tường ba tuổi, hơn ông Dân năm tuổi. Ông Tường nhiều tuổi nhất đã về hưu hai năm rồi. Chuyện về hưu còn gì để viết, mà viết thì ai quan tâm. Có lẽ còn mấy ông nào đó hay đi khiêu vũ là quan tâm thôi. Vợ ông Tường đẹp, nhìn đằng sau không ai nghĩ đó là người đàn bà đã gần đến ngưỡng năm mươi, khối cậu trẻ còn bị hút hồn bởi các đường cong đầy chất Latin ấy. Vợ ông lại đam mê khiêu vũ như rất nhiều các cô, các bà đất Hà Thành. Với họ có lẽ không nên mất thời giờ đọc từ đầu về truyện này mà vào luôn phần hai có chút kể về Khiêu vũ, phần có tên là LAN.

Còn để đọc phần đầu có tên là TƯỜNG thì cũng vẫn cần ít nhiều kiên nhẫn, cái đức tính của cái thời chưa có facebook, điện thoại, vô tuyến hay khiêu vũ thể thao ấy. Cái thời người ta còn chưa hối hả kiếm tiền, chưa hối hả các thú chơi, chưa lo đi đúng nhịp nhảy của vũ điệu, của vuộc sống,... còn viết thư, còn có những "Khoảng  trống" trong thời gian và cả trong tâm hồn nữa. Cái thời nào mà tưởng đã rất xưa, đã như truyện cổ tích.

Phần cuối truyện có tên là CÀ PHÊ SÁNG dành cho ai buổi sáng quen uống cái món nước nâu nâu đăng đắng để đôi khi còn nghĩ lung tung. Ở đây họ lại nghĩ về tình yêu, một thứ nghe rất quen. Bao nhiêu người nói về nó, hại nhau cũng vì nó, hàng ngàn người đi tìm nó, có cả một đôi nam nữ chết vì nó (lâu lắm rồi mà ở tận Venise nước Ý cơ), rồi có phim về họ, lại có bài hát trong phim về "Love Story" nữa. Nó là gì mà thiên hạ nhắc đến lắm thế, có thật nó không hay chỉ một ảo tưởng....

1.      TƯỜNG

Việc ông rời khỏi đất Tràng An về quê làm Câu lạc bộ bóng bàn hụt hẫng quá, nhất là ông Dân.

Đôi Tường - Dân đã từng hạ rất nhiều đôi có hạng. Ông Tường luôn biết cách thả bóng khó sang đối phương và nhường khéo chỗ để cho ông Dân vào dùng quả giật Topspin mà ông ấy gọi là quả "Slowfox" để kết thúc. Ông ta gọi vậy cũng đúng vì quả giật của ông Dân lúc đầu bóng đi rất chậm, Slow. Chạm bàn sát lưới bên kía thì Fox một cái bóng vọt lên. Sau này mọi người được ông Dân kể mới biết là ông đặt tên cho quả giật vồng là Slowfox vì cô vợ ông ta là nhà vô địch vũ điệu đó trong giải Dancesport mở rộng ở Thanh Hoá với một cậu bạn nhảy cùng trong câu lạc bộ "Bồ Câu Em". Cũng nhiều khi mọi người thắc mắc về chuyện để vợ đi nhảy còn chồng lại mê món khác.

- Mình nhảy dù thì người ta nhảy đầm, cũng là khao khát thoát sức hút của nhau mà. - Ông Tường này trước học ngành Kỹ thuật Hàng không ở Pháp, rất mê môn nhảy dù thủng thẳng giải thích -

- Mình nhảy dù thì người ta nhảy đầm, cũng là khao khát thoát sức hút của nhau mà. - Ông Tường này đã học ngành Kỹ thuật Hàng không bên Pháp và chơi môn nhảy dù rồi giải thích - Mỗi lần rời khỏi máy bay, bước vào khoảng không bao la mới hiểu thế nào là tự do thực sự, mới có cảm giác hết cái trái đất này, nó níu kéo, cái sức hút của nó mãnh liệt như thế nào, mới thấy cái khao khát được bay lên thắng được cái sức hút của trái đất đó của con người nó là như thế nào ông ạ... và thoát không được. Một đằng thì bị trái đất nó hút xuống, một đằng thì còn bị điện tích khác dấu nó hút. Mình giờ thì trơ rồi, mất hết điện tích, chân đau khớp, chỉ có cái chai rượu thuốc này là hút mình thôi. Đời sống cao thì ai cũng phải nghiện một cái gí đó. Các bà này bỏ nhảy thì mình bỏ rượu, bỏ thuốc à. May quá, các bà ấy không cai được nhảy. Dọa cai mấy lần rồi xong lại đi nhảy bù.

- Và họ có bạn nhảy - Một ông hỏi.

- Tất nhiên rồi, có điều họ không hút nhau, họ mắc kẹt ở nhau, loay hay với nhau, cãi nhau, chán ngấy nhau nhưng rất khó thoát khỏi nhau - Ông Tường nói, giọng cứ tửng từng tưng - Khiêu vũ Thể thao, Dancesport mà.

- Cái món này kể cũng hay thật đấy. - Ông Thọ tham gia vào - Dân mình cứ như bị nghiện, say lắm. Tôi đi dạo một vòng hồ công viên Thống nhất buổi sáng mà đếm ra có ngót nghét chục bãi nhảy. Có lúc mình đứng xem họ cũng lôi vào nhún nhảy cùng rồi rủ đi học.

- Thế ông có đi học không

- Về rủ bà xã nhưng bà ấy không có thời giờ, tham gia đội múa gậy, múa cầu, múa quạt rồi. Với lại mình cũng thấy ngại. Lần đó thấy có một đôi nhảy giỏi. Đang nhảy bỗng buông nhau để cãi nhau. Nghe nói là cặp này nổi tiếng lắm, đi thi tận nước ngoài. Thảo nào người ta bảo khiêu vũ là nhảy đầm, nhảy đàn bà. Hơi tí cãi nhau.

- Mười cặp học khiêu vũ thì hết chín cặp cứ cãi nhau hoài, vì thích nói đúng sai, có gì không ổn là đổ lỗi cho người kia. Bà Lan nhà này hồi xưa đi nhảy về cứ ôm điện thoại nói chuyện ca thán patner, đúng sai, bước nọ, bước kia. Tôi bảo làm gì có đúng sai, ngay cái việc đi nhẩy nghĩ nó đúng thì nó đúng mà nghĩ sai thì nó sai. Khiêu vũ để vui chơi, để giữ gìn sức khoẻ, thoải mái đầu óc. Nhảy giỏi là nhảy được với nhiều người. Đông, họ nhảy sai mình vẫn nhảy được và vui vẻ. Đừng có mắc kẹt với một patner nào cả.

- Cũng khó đấy với người mình- Có ông chen vào - Người mình thích sở hữu. Nữ thì sở hữu anh bạn nhảy. Nam thì có khi sở hữu một nàng còn cảm thấy chưa đủ. Tham lắm.

- Cũng tuỳ thôi. Sở hữu chứ có sức đâu sử dụng được mà tham.

Một lần sau trận giao hữu với Câu lạc bộ khác mọi người kéo nhau đi uống bia nhậu nhẹt. Ông Dân vì đang viêm họng nặng nên không tham gia được, xin về trước. Tường nhờ luôn bạn tiện đường qua sàn nhảy Hoa Lư đón đưa vợ ông ta về hộ. Ông Dân bảo sao không gọi điện nhờ patner của bà ấy. Ông Tường nói là mọi lần thì việc ông là lai vợ ra sàn nhảy xong đi chơi bóng, còn về thì đã có patner. Lần này cạ bị đau khớp, phải nghỉ nhảy, khổ thế. Cũng chẳng biết là ai khổ hơn, ông Tường ấy, cạ vợ, vợ cạ hay là bà Lan vợ ông. Nhưng thôi từ giờ nhắc tới bà ta chúng ta sẽ gọi là cô cho trẻ. Mà thực là trẻ thật, kém ông hơn một giáp, là hoa khôi của trường Chu Văn An xưa. Còn các ông ấy, nhất là ông Dân chúng ta cũng gọi luôn bằng tên cho tiện…và bằng anh cho trẻ.

2.      LAN

Trên đường về lần ấy Dân được Lan kể khá nhiều về cái Văn hoá nhảy đầm ấy. Phải đi học có đôi, rồi thuộc bước, thuộc bài, lại thuộc cỡ của nhau nữa. Cũng phải mất hàng năm. Thế rồi thành một "Cặp đôi hoàn hảo" đi thi đấu hoặc đi nhảy sàn với nhau. Lan cũng thật thà nói thêm là hiện nay đang bơ vơ vì cạ nhảy bị vợ nổi ghen, cấm đoán chứ ông ta có bị đau khớp đâu. Lan ra sàn ngồi suốt vì nam thì ít, mãi mới có ông mời, đã thế lại không thuộc cái bài mà cô nàng học, không hợp chân, nhảy liêu xiêu quá. Cô nào có cạ thì nhìn sang Lan với đôi mắt đề phòng. Các ông cạ thì bức xúc mà không biết làm gì để đến với người đẹp. Tội.

Thoắt cái đến ngã tư Đại cồ việt, có một chiếc xe Vespa phóng vụt lên trước, ông mặc đồ trắng ngồi trước quay sang nói gì ấy và tranh thủ nhìn Lan. Cô nàng ngồi sau quay lại nhìn Dân mãi. Gió tung cả vạt váy xanh diêm dúa để lộ phần đùi tròn trắng mờ. Chắc họ cũng vừa từ sàn nhảy về. Lan ghé tai thầm thì, bàn tay đặt lên lưng Dân

- Họ tò mò về ông xe ôm là anh đấy. Mà sao anh không đi khiêu vũ. Hay khiêu vũ ở nước ngoài mãi xong về Việt Nam thấy chán. Phải thử chứ anh. Biết đâu anh lại thích. Đôi kia họ cũng mới đi học nhảy đấy mà đã mê lắm rồi.

- Chắc cũng như anh nhà, chồng Lan thôi. Sống ở nước ngoài đã quen nhảy nhót lung tung ngẫu hứng rồi. Bây giờ lại phải đi học nhảy kiểu Việt Nam, học bài, học ghép đôi ngại lắm. Với lại còn quần áo súng sính, nước hoa, đầu tóc là lượt, giầy dép, lại còn hay ra mồ hôi nữa. Thôi, chơi cái món bóng bàn này, quần đùi, may ô, cần thì cởi trần ra, tự do và tiện hơn, mồ hôi mồ kê nhễ nhại có khi văng đầy bàn. Loại bọn Võ Tòng tôi mà đi nhảy thì các em chạy hết, chỉ còn lại trên sàn khéo toàn các đực rựa mất.

Dân kịp ngừng không nói tiếp với Lan sợ không tế nhị. Một phần sực nhớ ra là mình sở hữu cái mồ hôi nặng, cánh đàn ông nó còn kêu. Chắc là ngoài trời gió thoảng nên nó không rõ, không làm Lan ngồi sau kinh. Nhiều lúc anh thấy môi Lan như chạm vào đầu, lại như có mùi nước thơm của hoa, mùi đàn bà. Phần nữa mà Dân không dám kể là câu lạc bộ bóng bàn của anh được mọi người tự gọi là "Câu lạc bộ Võ Tòng" để phân biệt với câu lạc bộ khiêu vũ tầng trên được gán ngầm cho cái tên "Câu lạc bộ Mã Giám Sinh". Thực ra đó chỉ là do bề ngoài đập vào mắt thôi chứ chẳng ai nghĩ sâu xa văn vẻ đâu. Đi lên cùng cầu thang, lấy xe máy dưới sân mọi người hàng ngày chạm trán nhau đến quen mặt. Mấy anh Võ Tòng thì lôi tha lôi thôi, áo vắt vai trần, quần đùi, bô bô mày tao, gọi nhau đi uống bia và cũng chẳng thèm để ý đến các cái nhìn của các quý bà xiêm áo mơ màng. Còn cánh đàn ông khiêu vũ nhảy đầm thì đúng là "Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao" với những đôi giầy đen gót cao quý phái, những cái nhìn khinh khỉnh mà mấy ông nhà văn, nhà nghiên cứu "Hà Nội học" gọi là "Kiêu hãnh".

Chiếc Vespa trắng đã rẽ. Đường lại vắng tanh. Gió thu mát rượi. Lan kể tiếp về họ:

- Cô này là bác sỹ ở bệnh viện Bạch Mai. Còn ông này là bệnh nhân của cô ấy. Quen nhau, ông khỏi bệnh rồi đi học nhảy. Ông ấy còn xin thôi việc làm sếp một dự án ở Quảng Ninh để về Hà Nội có thời giờ dành cho đam mê khiêu vũ và cho nàng. Ông ta có một biệt thự ở Linh Đàm tầng trên lát gỗ, có gương, làm thành một sàn nhảy mini. Thuê hẳn vũ sư về dạy riêng

- Có đắt không -Dân tò mò

- Sáu trăm ngàn một buổi với lại quà cáp, các dịch vụ khác coi như một triệu đi. Ăn thua gì. Ông ấy kể là khi làm sếp bên B chiêu đãi ông tươi mát hàng chục triệu không ít.

- Thế á - Dân buột miệng - Bọn tôi đi dạy Tại chức tỉnh xa một giờ với học hàm cao rồi mà chỉ là được năm mươi ngàn một giờ. Hình như bây giờ người ta trả hơn là 60 ngàn.

- Có thế các giáo sư mới thích chơi bóng bàn và đánh cờ chứ. Nhưng đấy là học đôi riêng thì tốn kém tiền trả thầy chứ đi sàn chơi thì cũng không đáng gì. Mà học để có đôi, có bài bước giữ nhau cho chặt chứ ra sàn thì cần gì học.

- Sao thế?

- Đơn giản là khi học thì anh nhảy trên sàn rộng, tha hồ tiến lùi rẽ trái rẽ phải, te đổ. Còn ra sàn đông phải đi theo đường nhảy của sàn. Các vũ sư ra sàn cũng thế thôi, còn thua cả mấy cậu tiếp viên. Mà cái món nhảy đầm này đã dính vào rồi thì khó bỏ lắm. - Lan đã cởi mở kể thêm về thế giới khiêu vũ của cô.  Chưa kể chuyện ghen tuông mà bình thường là cãi nhau suốt, chán nhau rồi mắc kẹt trong nhau.

- Phức tạp nhỉ- Dân buột miệng và giật mình. Chiếc xe qua ổ gà, tưng nhẹ. Đôi quả tròn mềm từ sau áp vào lưng anh. Mùi nước hoa, mùi Lan làm anh như bị nghẹn. Anh hít thở sâu để tập trung vào tay lái. "Đoạn đường này vớ vẩn quá, chẳng chịu sửa gì cả" - Anh lại buột miệng.

- Biết bao giờ mới lại có được patner thuộc bài, thuộc bước, thuộc cỡ của nhau. - Có tiếng thở dài bên tai Dân. Lan thầm thì tiếp:

- Sắp tới lại có giải Dancesport Hải Phòng mở rộng rồi. Thầy cô vũ sư lại là giám khảo có ghép cho em với một ông cũng thâm niên nhảy lâu năm, lại là giám đốc, có ô tô. Ông ấy để ý đến em mấy năm rồi, từ hồi em chưa đi thi đấu, chưa có huy chương cơ. Nhưng thử nhảy khó quá. Cỡ khác. Nhất là cái bụng ông ấy to quá, sếp mà" - Lan thở dài. Dân dù tập trung lái xe mà cũng thấy chạnh lòng. Chắc cô vợ bạn đang nhớ tới cái cỡ, cái bụng của ông bạn nhảy bị vợ ghen đây.

Đã đến cổng nhà Lan. Chia tay Dân mới ngắm kỹ. Dưới ánh đèn người đàn bà Hà nội này trông đẹp huyền ảo như trong bộ phim Pháp về khiêu vũ mà Dân đã xem ở Ba Lan xưa. Thực ra hơn hai chục năm sống ở nước ngoài anh xem khá nhiều khiêu vũ và phim có khiêu vũ. Anh yêu âm nhạc và chuyển động mà. Anh cười chúc Lan ngủ ngon và quay xe. Lan bỗng gọi lại, giọng là lạ: "Cảm ơn anh nhiều nhé, đưa em về" - Cái nhìn Lan cũng là lạ, đau đáu - "Giá anh không phải bạn của chồng em nhỉ" - rồi quay đi.

Hôm đó là mùa thu mát rượi. Và câu nói nhanh kia vẫn như theo Dân, cái nhìn là lạ cũng vậy, "Giá như...". Anh bật cười thành tiếng: "Thì". Ồ không, anh lại tự cười. Sinh ra làm Võ Tòng có bao giờ thành Mã Giám Sinh được đâu. Nhưng có lẽ Lan nói là ở ý khác. "Con thầy, vợ bạn, gái cơ quan" mà. Vợ Tường lại là người Hà Nội gốc.

Dân không đi ngược lại để rồi trở về nhà theo đường cũ mà rẽ vòng qua hồ Hoàng Cầu. Anh thèm cơn gió từ hồ nước cho xua đi những xáo động là lạ mới xuất hiện trong lòng mình. Không may con đường ven hồ lại đang bị sửa ngập đầy nước và gạch và tệ hơn là trời lại đổ mưa bất ngờ. Dân trú vội vào dưới mái hiên ngôi nhà ven hồ. Mùa thu thật đỏng đảnh. Cơn mưa hối hả đến cứ như đợi người trước ở chỗ hồ này, rồi lần chần mãi không ngớt. Anh bỗng thoáng nghĩ về Lan. Chắc cô nàng đã yên vị trên ghế đệm xem TV hay chat chít điện thoại. Một lúc sau đường càng ngập hơn, anh đành phải mặc áo mưa và chơi cái trò len lỏi xe trên vỉa hè, vừa căng mắt tập trung nhưng cũng không xua nổi những ý nghĩ từ đâu đến thì thầm. Cái này không nên gọi là kỹ năng mà là một nghệ thuật vì lần nào cũng cho ta cảm giác mới lạ như lần đầu. Có tay nhà thơ nào đó viết là Yêu là một thứ nghệ thuật kỳ diệu vì nó cho ta cảm giác lần nào cũng như lần đầu. Bố láo. Yêu là kỹ năng thôi, giống thơ lục bát, giống Khiêu vũ Thể thao, giống giờ học toán, giống các cuộc họp thấy và không thấy trên TV, lặp đi lặp lại các thao tác chứ còn lâu mới là nghệ thuật được. Nghệ thuật cần bất ngờ, cần cả phiêu lưu, biến cố và nhiều thứ khác chứ. Trời mưa, lách xe trên vỉa hè lộc ngộc đầy chướng ngại vật mới là đich thực nghê thuật. Nó làm dịu đi những xáo động trong lòng, đỡ tá hỏa đi nhiều lắm để sống dễ dàng hơn.

Tối hôm đó lúc đi tắm, làm sao Dân lại hít cái áo của mình. À hôm nay mình đánh bóng ít, không có ra mô hôi hôi nhiều như mọi khi. Tắm giặt xong anh bật TV xem thời sự chờ bộ phim Ấn dài tập. Ngoài sân không còn tiếng mưa. Mưa nữa thì tối thu nay thật kỳ diệu, mà mưa thì chẳng lần nào giống lần nào, nghệ thuật của tự nhiên.......

3.      KHOẢNG TRỐNG BÊN HỒ

Thôi, phải bỏ cái chuyện Dancesport lại để trở về với nhân vật chính là ông "Tá về hưu". Từ hồi về quê ông ấy không dùng điện thoại nữa sao ấy. Còn cạ bóng bàn của ông Tường, ông Dân ấy gọi ông mấy lần không được, lại không có người đánh đôi, lại đau khớp vai nên cũng thôi bóng bàn, chuyển sang đi bộ buổi sáng và buổi chiều ở công viên hồ nước gần nhà.

Rồi có một lần ở góc hồ, ở cái sân cạnh hàng rào nơi các cụ tập đủ các loại dưỡng sinh như múa quạt, Thái cực quyền và khiêu vũ, Dân lại thấy Lan vợ ông Tường về hưu đang nhảy với một người. Ông này mặc áo đen, quần đen có sọc, dáng cân đối, khoẻ mạnh, khá đẹp. Lại thấy Lan có vẻ hướng dẫn, làm mẫu cho ông ấy. Thế thì chắc không phải cái ông cạ Huy chương rồi. Càng không phải ông giám đốc bụng to. Chắc là Lan tìm được patner khớp cỡ, số đo trước đã rồi tính chuyện khớp bước sau. Để khớp với một ai mới đó thì cần xoá cái ăn khớp, cái thói quen đã có với một ai. Học có một kỹ năng đã khó, xoá nó đi khó gấp trăm lần, nhất là trong khiêu vũ thể thao, " không dễ như có hay xoá một con người ". Tốt nhất là có tờ giấy trắng muốn vẽ gì lên thì tuỳ. Bạn nhảy sẽ là một học trò, đỡ cãi. Việc còn lại là dạy anh ta cho khớp chân, khớp bước, khớp bài.

Đắn đo rồi Dân cũng đến gần chào Lan để hỏi thăm về ông Tường. Lan thấy bạn chồng mừng quá chạy ra rồi như sực nhớ quay lại dặn bạn nhảy tự làm mấy động tác Slowfox một mình cho thuộc. Lan kéo kéo Dân ra xa gần hồ, xa tiếng nhạc ồn quá. Trước khi quay đi Dân chào xin lỗi ông áo đen và liếc nhìn cái bụng ông ấy. Không đến nỗi, ổn. Lan trông cũng xinh ra nhiều, dáng  vũ nữ. Không biết đã có thêm huy chương nào chưa. Hồi xưa Lan kể là có 30 cái rồi, tỉ lệ vàng ngày càng tăng. Lan rối rít:

- Anh đến chơi với anh Tường đi. Hôm qua anh ấy cứ nhắc anh mãi, mà không có số điện thoại của anh.

- Anh nhà ở Hà nội hả. Tôi gọi anh ấy nhiều lần không được, có số của anh ấy không.

- Đây - Lan đọc và không giấu được vẻ mừng rỡ - Đúng là thiêng thế nào ấy. Hôm kia lúc vừa tỉnh xong anh ấy nhắc đến anh ngay.

- Sao - Dân ngỡ ngàng.

- Chồng em bị đột quỵ, may có ông hàng xóm... Rồi đưa cấp cứu lên kịp 108. Cũng ổn rồi. Anh có rỗi vào với chồng em nhé. Nhà neo quá. Thằng Dương có khách làm ăn từ Ba Lan về. Em lại phải bảo cái cậu patner này cho thuộc bài, ngày mai có sinh nhật thầy cô vũ sư của câu lạc bộ rồi, tổ chức ở sàn Hàng Cót. Tháng sau thì có thi đấu giải ở Hải Phòng. Anh ấy cũng chăm lắm, xin nghỉ làm để tập sáng chiều nên cũng tạm ổn rồi, có điều mấy bước chuyển của Slowfox vẫn giật cục lắm, chưa khớp với em.

4. NGƯỜI LÍNH

Dân chào Lan và vội phóng xe đến Bệnh viện 108 thăm bạn. Đã hơn một năm rồi Dân mới lại vào đây, sau lần cuối vào thăm anh Điền, anh rể Dân, một cựu sỹ quan xe tăng. Anh Điền bị đau đầu kinh niên, thường hay từ nhà ở Nam Định lên đây chữa. Chị gái Dân nói lại là chồng mình vẫn còn mảnh đạn trong đầu, sau cái trận đánh ở Huế năm Bảy nhăm ấy. Anh Điền có mấy người bạn chiến đấu. Họ lần lượt ra đi trước, do ốm các bệnh khác nhau, lần nào dù xa mấy, dù mệt anh ấy cũng cố lên đường đi tiễn ho. Lần này anh Điền đi đột ngột quá. Với gia đình, người thân thì thấy đột ngột vậy chứ anh ấy chắc không. Bạn chiến đấu của anh, những người lính xe tăng còn sót lại sau chiến tranh cũng chẳng còn ai. "Anh là may hơn họ và họ đợi anh" - có lần anh Điền nói với Dân như vậy: “Còn gia đình, vợ con thì các anh cũng chỉ biết làm đến thế thôi. Dù sao chiến tranh, khói lửa cũng hết, cũng hoà bình rồi, không bom đạn. Khó hay không là do mình thôi“.

4.      LƯỢNG

Dân đang loay hoay gọi điện thoại cho Tường chưa thấy có trả lời thì lại thấy ngay ông Lượng, một Võ Tòng trong câu lạc bộ bóng bàn xưa của anh. Lượng vẫn thế, kính trắng, áo sọc quần trắng, tóc nhuộm đen chải. Hồi xưa đi chơi bóng anh chàng ăn mặc vẫn vậy, áo vẫn trong quần, đánh bóng, còn đỏm dáng hơn khối quý ông ở sàn khiêu vũ tầng trên. Chỉ khác là thay vì đôi giày nhảy gót cao là đôi giầy thể thao. Khi chơi bóng Lượng lên xuống nhẹ nhàng như trong điệu Rumba rồi bất ngờ dùng quả ve trái hiểm. Tất nhiên là để tạo dáng và đối phó với người lạ thôi chứ không qua nổi bốn, năm bóng khi gặp Dân hay Tường. Hoá ra là chính ông Lượng chở ông Tường lên bệnh viện này. Mà ông Tường có phải bị đột quỵ tim mạch như Lan nói đâu. Ông Tường lên nội phẫu cái u xơ tiền liệt tuyến. "Xong rồi, chuyện nhỏ như con thỏ ăn cỏ" - Lượng nói rồi dẫn Dân lên phòng điều trị bệnh nhân.

Ông Tường coi như đã bình thường và ngẩn người ra vì thấy Dân. Bất ngờ quá với ông, Dân cũng ngỡ ngàng vì có mấy năm mà ông bạn Tường đã già nhiều đi như vậy, lại mốt tóc búi củ hành cũng nhiều sợi bạc như râu. Nhìn sang Lượng thì vẫn thấy còn một chàng Mã Giám Sinh, còn khối cô chết, chắc thế. Quy luật cung cầu mà. Có Kiều thì có Mã Giám Sinh và ngược lại. Nói chuyện với Dân và Tường mà mắt Lượng vẫn liếc đảo ra ngoài hành lang rất nhanh, nhất là khi có tiếng ríu rít chim oanh của các cô nàng áo trắng đi qua. Lượng cũng là bác sỹ. Hơn chục năm sống ở bên Đức sau khi đi chuyên gia ở một nước châu Phi. Mãi rồi ông mới trở về thăm mẹ. Được mấy tháng mẹ mất thế là ở lại luôn, không sang Đức nữa. Con trai sang Mỹ học rồi lập nghiệp, lấy vợ xong đón mẹ sang. Lượng thôi. Sống mãi ở Tây chán. Vợ thì hết hạn sử dụng, sau này chỉ còn việc lo bế chơi với cháu nội. Gần xa cũng thế, đã có Internet. Cần quá, nhớ Tây, nhớ cháu lại đi sang thăm, ở lâu cũng chỉ đến hai tuần. Thế giới phẳng mà, chỉ sợ không có tiền.

Dân quan tâm ngay cái vụ tiền liệt tuyến, hỏi ông Tường:

- Thế là lại bình thường chứ. Ông thấy có sao không

- Bình thường là thế nào, phải thử mới biết chứ - Ông Lượng ngạc nhiên - Mà như ông này thì thử làm gì, vẫn như trước thôi. Hoà thượng "Thích đủ thứ trừ một thứ" thế này mới đau chứ - Ông Lượng nhìn bệnh nhân với vẻ ái ngại thương xót.

Dân tranh thủ hỏi ông bạn bác sỹ, cũng một phần là để tăng thêm kiến thức y học lo xa sức khoẻ cho mình:

- Tôi nghe nói là bóc xong cái món đó đi không ảnh hưởng gì lắm đâu. Tôi có một ông bạn vong niên là nhà văn, mổ xong vẫn khối em theo.

- Không suy từ người này ra người kia được đâu ông ạ - Lượng lắc đầu rồi đỡ Tường dậy đi vệ sinh sáng. Tường đứng dậy bảo: “Các ông cứ kệ tôi. Mọi việc bình thường rồi, chiều nay xuất viện mới các ông về nhà tôi. Tôi còn chấp luôn bác sỹ ba bóng đấy".

Còn lại hai người trong phòng Dân hỏi chuyện về câu lạc bộ Võ Tòng của mọi người dạo này thế nào. Lượng nói:

- Tôi lại đang định hỏi ông. Tôi rời Hà Nội một năm nay rồi. Cái nhà nhỏ của tôi trong ngõ có phòng khám chữa Nha khoa ở tầng một tôi bán rồi. Nhà bên nó mua xây lại thành hotel chín tầng. Lối đi kia của nhà nó nhìn ra phố lớn. Bán được giá. Tôi mua một căn hộ chung cư sống cho nhàn.

- Thế còn phòng khám, còn nghề răng?

- Có mấy đứa mở phòng khám tư, rỗi mình góp vốn ăn cổ tức, có lúc đi làm thuê cho đỡ buồn, cũng chẳng phải vì thiếu tiền.

Dân hỏi chuyện Lượng về thơ văn. Hoá ra anh chàng đã ra cả một tập thơ. Năm xưa mới quen Lượng ở câu lạc bộ bóng bàn Dân có đến chơi và Lượng khám răng luôn cho Dân. Lúc về Dân có đùa tặng bác sỹ câu thơ và nói thêm một chút về về cái món nghệ thuật đó. Không ngờ mấy thứ vu vơ tầm phào của Dân lại lây cả sang bác sỹ, lại đánh thức hồn thơ của người nghệ sỹ nha khoa này.

Phòng khám của Lượng trong ngõ thành ra vắng khách. Tiền bạc không quan trọng với người độc thân sở hữu một loạt sổ tiết kiệm và cổ phần cổ phiếu như Lượng. Thời giờ rỗi ông ta hay rong ruổi chiếc Ford đen đi câu cá ở các khu sinh thái để cân bằng sức khoẻ. Thế nào mà ông ta lại phát hiện ra hội thơ "Trường Xuân" gần ngay nhà ông. Ông tham gia để học hỏi, khám phá con người, đất nước bù cho những năm tháng xa quê. Ông cũng đọc thơ cho mọi người nghe. Thơ ông làm đúng luật, chặt chẽ như trồng răng vậy. Những bác đọc thơ thiếu răng thành ra âm nghe không tròn, không cảm, không rõ phí cả thơ lại có điều kiện đến để ông chăm sóc, không đau, không đắt. Các cô thì hình như trả đắt hơn vì nguyên liệu răng của họ đòi hỏi cao hơn. Với lại Lượng còn thêm dịch vụ tẩy xoá nốt ruồi. Các nhà thơ nam thì không cần. Bây giờ ông đi làm thuê khám răng bên ngoài còn những việc chăm sóc răng đơn giản hay tẩy nốt ruồi, trứng cá thì có thể đến làm tại nhà. Tất nhiên phải hẹn trước theo điện thoại.

6. KHOẢNG TRỐNG VÀ CON NGƯỜI

- Quan trọng là phải luôn chuyển động và cân bằng. Thông bất thống, thống bất thông, Hải Thượng Lãn Ông đã nói rồi. Hẫng hụt hoặc bế tắc thì sẽ đau, phát ra chỗ nọ, chỗ kia, ông thì dính phổi, ông thì thận, dạ dày, cụ này thì tiền liệt tuyến - Lượng quay lại chuyện bệnh của Tường, cái mà Dân đang hóng. Dân đáp:

- Nhưng ai chứ ông Tường thì có bao giờ không cân bằng và bị hẫng hụt đâu. Ông ấy bằng lòng với mọi thứ mà. Tính ông ấy từ xưa đã vậy, đắc đạo như một kỳ nhân trong truyện Kim Dung ấy. Thực ra ông ấy cũng bị ảnh hưởng nhiều cái sắc sắc không không của Phật giáo lại thêm cái duy tâm của các nhà vật lý Phương Tây, coi thế giới này là khoảng trống có biên.

- Sao lại cần biên?

- Khoa học mà, để có thể chia tiếp các khoảng trống có biên đó ra nhiều khoảng trống con kiểu như ta hay nói là tiểu vũ trụ ấy. Nếu không thì sa vào cái tù mù không biết làm gì tiếp, chỉ còn biết lên chùa gõ mõ tụng niệm thôi.

Lượng bỗng dừng lại lắng nghe mấy em nói gọi gì nhau ngoài hành lang. Chờ im ắng ông mới yên tâm nói tiếp:

- Và con người cũng vậy, sống và hì hục lấp các khoảng trống trong mình bằng một cái gì đó, lấp cái tâm hồn mình, cả những khoảng trống của thời gian của thời gian mình có, thế thôi.

- Cũng hay, cũng có thể giải thích được nhiều điều kiểu " Nhàn cứ vi bất thiện " ấy. Người nghèo thì lo lấp khoảng trống của mình bằng những gì ra cơm áo gạo tiền. Nhà khoa học thì bận lấp bằng sách vở, công thức. Sinh viên thì bận học. Người tốt là người quá bận bịu với những cái khoảng trống vô hại để không còn khoảng trống thời gian cho những điều ác.

- Không hẳn vậy. Có những người đi lấp khoảng trống của mình bằng những việc họ coi như có ý nghĩa cho cuộc sống như nghiên cứu, sáng tạo hay giúp đỡ ai vậy. Đơn giản như mấy cậu Tây sang mình cứ rỗi xách xô đeo găng ra nhặt rác ở hồ Thành Công. Họ thích trông thấy cái hồ sạch.

 - Tây nó cũng lạ, nói về ta thôi. Nếu cái khoảng trống đó nó hoàn toàn của riêng mình, không liên quan đến ai thì ổn, thật là đơn giản như Robinson trên hoang đảo, hay các ông sư nhắm mắt gõ mõ đọc kinh ấy. Lôi thôi là khi những khoảng trống trong mình không được bóc tách riêng ra, cứ lùng bùng đan xen với nhau. Tệ hơn là cả khi một khoảng trống thời gian của mình trùng với người khác, rồi lẫn lộn không biết cái gì của ta, cái gì của họ. Thế là có chuyện. Yêu thương thù hận danh lợi và trăm thứ khác từ đấy mà ra.

- Ồ, cái thuyết “Khoảng trống” hay đấy - Dân buột miệng thốt lên rồi im ngay để nghe Lượng nói tiếp.

- Cũng còn chết hơn nữa là các “ Khoảng trống con “ lại đòi đặt tên . “Khoảng  trống mẹ “ lại chia ngăn ô để chứa những đầy những thứ con người tha về xong lại dán các nhãn tên bừa bãi. Kiểu như các chai nút kín đựng cái gì trong rồi dán ngoài nhãn Tự do, Hy sinh, Tha thứ hay Nhân ái, lắm khi dán lẫn nhãn chai nọ sang chai kia, lắm khi bên trong là đồ rởm. Loạn. Có mấy cái nhãn tên nghe sướng thế là dán vào đủ các chai. Có cái chai bên trong là chất Mã Giám Sinh lại dán nhãn Thư Sinh thế là các Kiều Thơm cứ lâng lâng. Các nhà thơ, nhạc sỹ, triết gia thì tha hồ lấp khoảng trống bằng những thứ tù mù nhãn mác ấy, nhất là cái nhãn “Tình yêu”. Thế giới loạn ngôn. Loài người hụt hẫng.

- Mãi rồi cũng quen thôi. Cũng như trên Ti vi thấy một cô nàng hát bài ca thất tình chia ly, lời đau xót đầy nước mắt mà nhảy nhót cười sung sướng. Khán giả thì vỗ tay.

Có tiếng chuông điện thoại ở đầu giường. Bản nhạc Slowfox du dương. Dân đã xem Luca và Lorene trên Youtube đi theo giai điệu này bao lần mà không chán. Ông Tường xuất hiện đúng lúc, cầm máy và nói chuyện:

- Lan à, mọi việc ổn rồi, anh khoẻ, em và con đừng lo. Tí nữa đến thủ tục xuất viện, có cái Hà con anh Lân làm ở đây đến dẫn đi làm, rồi ông Lượng đưa xe anh về quê nghỉ luôn.

Ông im lặng nghe Lan, trông ông lại trẻ đi, không thấy già như lúc mới gặp. Khuôn mặt ông rất hạnh phúc. Ông đưa mắt nhìn Dân:

- OK, ông Dân sẽ về cùng mà. Không phải lo cho anh, công chúa phải gai mồng tơi thôi. Em cứ tập trung mà luyện tập cho tốt nhé. Giữ sức khoẻ. Cuối tuần sau anh sẽ chuẩn bị rau cho, nhiều đấy để mang lên cho bố mẹ và các cậu nữa, ừ, sẽ có nhiều rau sống, có diếp cá. Mẹ thích ăn rau ngót....

Xong chuyện nói điện thoại ông Tường bảo hai người đi sang quán cafe bên kia đường. Ông tìm Hà cùng thu xếp thủ tục ra viện sang sau, rồi đi luôn. " Lan hôm nay có việc bận và gửi lời cảm ơn các ông. Cô ấy cũng mời các ông xuống thăm trang trại luôn " - Ông Tường nói.

Dân cũng gọi điện về nhà thông báo về chuyến đi dã ngoại không định trước này. Với anh là ngày chủ nhật ấn tượng đây, mấy khi cùng một lúc mà ngồi hàn huyên nghe chuyện của hai kỳ nhân " Trên thông thiên văn dưới tường địa lý " này....

7. TÌNH YÊU

Trong quán bên kia đường có hai người vừa nhấp nháp cafe vừa nói chuyện tào lao. Dân thoáng nhớ đến Lan, thoáng cái tối mùa thu xưa ấy, cái tối mà mọi thứ đều nằm trong giới hạn của nó. Lúc này anh muốn biết thêm về Lan, đúng ra là về đàn bà Hà Nội nói chung.

- Ông có gặp cô Lan vợ ông Tường bao giờ chưa ?

- Cũng đôi lần. Một cô vợ trẻ, đẹp với ba vòng chuẩn. Ông Tường ấy rất yêu và tự hào về vợ. Có mỗi đứa con gái lại lấy chồng bên Tây. Hai người như vợ chồng son chỉ trừ khoản ấy là do ông ấy, tuổi tác, bệnh tật. Phần còn lại họ tận hưởng nhau.

- Cũng không nhiều người thoáng như ông Tường đâu.

- Do quan niệm thôi. Ông ấy yêu nhưng không hề biết ghen, tình yêu một chiều. Ông ấy cho rằng mục đích của tình yêu đích thực là để cho người mình yêu sung sướng thôi. Khi cô Lan đi nhảy với cạ nọ, cạ kia, đi thi đấu hay giao lưu các tỉnh có khi mấy ngày lúc về ông ấy bao giờ cũng chuẩn bị nhà cửa, đồ ăn và cả hoa nữa. Ông ấy chỉ quan tâm xem vợ đi có vui không để an tâm chứ không như mọi người nhất là cánh đàn bà - Lượng xoay người, nheo mắt sau cặp kính trắng ngâm nga - "Củi mục bà để trong rương . Đứa nào động đến trầm hương của bà". Nhưng đấy là thời xưa chứ bây giờ còn cái rương nào mà ngăn được. Thời đại công nghệ áo, sống ảo, gấp gáp. Con người gặp nhau qua chat chít, hẹn nhau, rồi cùng thích cái gì như quả táo Adam, cùng thử cắn chung, cảm xúc rung rinh, ngủ chung, lấp nhanh khoảng trống cuộc sống và thời gian cho nhau rồi tất cả cái đó cứ dán lên đó cái nhãn "Tình yêu" rồi hẫng hụt, chia tay, chỉ cần bóc cái nhãn Tình yêu đó ra cất đi dùng lúc khác, còn cái khoảng trống đã lấp đầy nhau đó dán cái nhãn "Say nắng" vào như bao lần mà thôi.

Dân bỗng thấy thú vị, anh cười:

- Mà sao dân kinh doanh " Tình yêu " nó không nghĩ ra cái nhãn "Quả Táo A&E" cho các Kiều và Mã uống nhỉ, say nắng xong là khát, các Adam lại tìm các Eva, lại uống. Có cái mark đó cho rượu bán sẽ chạy ra phết mà xem.

Lượng đặt cốc cafe xuống và nói tiếp:

- Tình yêu à. Bên Tây có ông Plato xem tình yêu là một ước muốn. Ước muốn điều mình không có, rồi từ đó hướng tới để tốt (bon) và đẹp (beau) cho cái mà ta đang có và đang gọi là "Tình yêu" ông ạ. Bi kịch ở đây chính là cùng một cái tên gọi "Tình yêu" mà mỗi người hiểu khác nhau, cảm nhận khác nhau và tưởng người khác cũng hiểu như mình.

- Nhưng như Trang Tử thì bóng và hình khó bóc tách kiểu Plato được. Thực ra không có gì gần gũi với ta như chính cái bóng của ta và cũng không có gì mơ hồ như thế. Cũng không có gì riêng tư như thế, tình yêu ấy. Các cụ xưa hình như ít nói đến hai chữ "Tình yêu" mà sao họ sống với nhau hạnh phúc, yêu thương như hình với bóng, lâu bền khác hẳn bây giờ.

- Phương Tây họ quen bóc tách mà. Trong thế giới bóng hay thế giới của cảm nhận thì tình cũng nhiều loại, nhiều cung bậc lắm. Đầu tiên là có một loại tình đặc biệt của động vật. Tình đó là tinh bản năng, tình sở hữu, tình thèm khác giới ông ạ. Họa hoằn cũng có cái tình không liên quan đến thân xác như tình yêu kiểu Plato ấy, còn nói chung thèm thoả mãn sinh lý, nhục dục là cái cần đầu tiên. Nhưng cái đó chỉ là đòi sự thoả mãn cho bản thân thôi. Có những tên bạo chúa thoả mãn mình xong có thể giết người tình, như con nhện cái ấy. Xong chuyện mà không kịp chạy là chú nhện đực bị xơi tái, hy sinh cho tình Nhện. Với con người thì còn thương nữa, là cái thứ hai. Cái phần tình thương này có lẽ chỉ của con người. Đây không phải thương bình thường mà là có đau. Đau không phải là vì ai gây ra. Đau vì cái đau của người khác bị đau lan sang mình. Cái này nó gần gũi lắm đến nỗi người ta ít để ý rồi quên mất. Thèm, thương và đau cùng là đã quá đẹp, quá mơ cho tình giữa Adam và Eva rồi. Có thể cho thêm từ " nhớ " nữa để dễ làm thơ. Sau này cái thèm nhục dục nó giảm đi với năm tháng, tuổi tác nhưng cái thương và đau nó càng sâu hơn, bổ xung thêm cái gọi là "Tình nghĩa".

- Thật - Dân ngắt lời - Có một nhà thơ mà tôi quên tên bị ung thư. Giây phút cuối cuộc đời có một cô biết đến vào thăm và có một câu thơ cuối cùng ông ấy đọc rồi ra đi "Chỉ một lần nhìn em rơi nước mắt, là tôi vĩnh viễn thuộc em rồi". Có lẽ thương, nhớ cùng và nước mắt là chất liệu chính trong tình yêu thật sự, không điều kiện, một chiều.

- Tuỳ. Người ta vui cười nhiều hơn, chiều chuộng, đi chơi, đi nhảy. Ai cũng thích sướng mà, đau sợ chết. Cũng chung một từ Love vì họ chẳng nghĩ ra từ gì khác ngắn gọn như vậy, êm tai, ru lòng người và để lú lẫn. Nhưng có thể hiểu rằng đó là "Yêu" theo hướng cùng thoả mãn sở thích, cùng hưởng thụ những cái chung và tất nhiên là sở thích hay đam mê cái bản năng của con người là tình dục.

- Tình nhảy nữa, tình cạ, tình thơ. - Dân buột miệng, trong đầu vẫn chưa xua ý nghĩ về Lan được.
- Right - Lượng khen - Ông hiểu ra rồi đó. Tình yêu với sở thích chung. Cao hơn thì ta gọi là đam mê. Khiêu vũ, chơi bóng, làm thơ, đi chơi hay chát chít vân vân bây giờ với nhiều người không còn là chỉ sở thích nữa mà là đam mê. Nó chi phối lại con người kiểu như nghiện ấy.

- Mọi sở thích chung của hai người khác giới có thể dẫn đến sở thích tình dục ấy à. - Dân cố lái Lượng sang một câu trả lời để hiểu thêm về thế giới của các Mã Giám Sinh cùng vợ ông Tường.

- Không hẳn, đôi khi các sở thích nó cùng có mục đích chung, lôi kéo người ta quên cái khác rồi lại trả họ về những khoảng trống riêng.

- Thế ông nghĩ sao về "Tình khiêu vũ" ấy - Dân cố lái Lượng về cái "Tình" mà mình đang tò mò.

- Ồ cái đó ông nhảy nhót mãi bên Tây rồi. Nó khác. Nó là một hoạt động vui chơi, âm nhạc, lúc mời người này, lúc mời người khác. Không có patner hay sở hữu. Ở ta không có mời, thường là đi đôi, nhảy theo đôi cố định. Rượu nhạt uống mãi cũng say, sẽ là một dạng tình gì khác nữa mang mầu sắc tình patner, tình cạ và người ta cũng cứ gọi chung, dán chung cái nhãn "Tình yêu". Khi sở thích chung không còn thoả mãn, hay một trong hai bị ốm, đau, hết tình tang. Mà cũng chẳng cần thế, chỉ là do hoàn cảnh xa nhau, vắng nhau dài dài, khoảng trống thời gian không trùng là "Change Patner", ông nghe bài hát ấy chưa. Lên xe tôi mở nghe, tiếng Anh, ông hiểu.

- Nhưng chắc gì cứ cùng sở thích là đến chuyện ấy với nhau được.

- Tất nhiên các loại sở thích khác nó mang tính solo không theo kiểu patner. Thơ thì lai láng bao nhiêu nhưng nó không thật, với lại văn mình vợ người mà. Khiêu vũ khác, là ngôn ngữ cơ thể, lại thêm cái món Slow tắt đèn nữa. Tất nhiên là còn phụ thuộc hoàn cảnh, thiên thời địa lợi nhân hoà chứ để có các hai khoảng trống riêng tư lại trùng lẫn vào nhau.

- Thật.

- Phải chấp nhận thôi. Khuất mắt trông coi mà. Ông nhìn bát phở kia mọi người ăn ngon lành nhưng thử xuống bếp xem họ làm, thái thịt, rửa rau xem, thôi chả dám ăn. Thấy một đôi nhảy xem thích đấy nhưng đừng ngó sau phông màn sân khấu.

- Nghĩa là các "Khoảng trống thứ ba" không nên lẫn lộn để lại biết những những điều không nên biết.

- All Right. Ông Tường ấy. Ông ấy mỗi lần vợ đi nhảy về chỉ hỏi là em có vui không, có ổn không nghĩa là có an toàn không ấy, an toàn theo nhiều nghĩa nhé. Tất nhiên giữ sức khoẻ an toàn, không lây nhiễm phải đặt lên hàng đầu.

- Đúng là bác sỹ. Mà ông ấy tin.

- Tin là gì và tin để làm gì. Tin vào chính mình và sẽ không bao giờ bị hụt hẫng. Ổn và vui quan trọng hơn. Tất nhiên lần đi thi ở Thái Nguyên có sự cố. Patner của bà xã bị đau khớp và nhờ bà sang phòng bấp huyệt xoa bóp. Thực ra chuyện đó là bình thường nhưng khi làm đến đoạn sau họ lại không còn nhớ là chưa đóng cửa phòng. Khoảng trống đôi không còn riêng tư, nhiễu loạn. Trống thì trống nhưng phải cửa giả cản thận. Bà vợ của ông patner thì ghê lắm, định tanh bành lên ấy. Ông Tường cũng phải lúng túng mãi mới thu xếp ổn thoả.

- Ông Tường là thánh rồi.

- Tất nhiên ông ấy tuyệt vời, và rất yêu vợ. Đấy mới là tình yêu, không đòi hỏi, ràng buộc, chỉ một chiều. Ông ấy hiểu rằng khoảng trống của vợ mình ông không thể lấp đầy được và không thể khoá lại được đâu. Lấy vợ trẻ hơn một giáp lại bị tiền liệt tuyến nữa. Mà như ông nhà văn Nga Tolstoy đã nói " Bi kịch lớn nhất của con người là ở trên giường " đấy.

Lượng đứng lên ra ngó sang bên đường rồi về ngồi kể tiếp:

- Thực ra bên tây họ nhảy nhót là vui chơi. Ra sàn là nhảy chung, không có kiểu nhảy cạ cố định như mình. Ông Tường có nói với tôi là cần thông cảm với cái món đó. Nó không chỉ là "Khoảng trống" cần lấp đầy mà nó cũng là "Khoảng trống trú ẩn" của con người trong cái cuộc sống thay đổi đến chóng mặt này. Ông thì trú ẩn trong thơ hay thiền, Yoga. Nó lành, như Robinson lạc lên hoang đảo vậy. Còn đây lại là hai người trú ẩn trong hoang đảo kiểu “Người thứ bốn mốt“. Chắc ông xem cái phim ấy rồi.

- Phim hay lắm.

- Còn phim nữa cũng hay. Đó là phim “Buổi sáng ảm đạm“ của Tolstoy. Có câu mà Rosin nói với Cachia mà nếu thay ngược lại để Cachia nói lại là “Năm tháng sẽ trôi qua, tiếng nhạc xập xình sẽ tắt, những bước đi điệu nhảy cũng sẽ dừng. Chỉ còn lại duy nhất trái tim bao dung, đầy trìu mến và yêu thương của anh“. Chắc ông Tường sẽ được nghe Lan nói như trong phim vậy.

- Ông ấy thật hạnh phúc. Ông ấy có tình yêu, không chỉ là cảm nhận - Dân bỗng lặng đi nhớ tới câu nói của Baudelaire "Thơ là cái gì thật hơn, cái gì hoàn toàn đúng nhưng là cho một thế giới khác“. Tình yêu của ông bạn họ cũng vậy. Nó được cất giữ ở trong thế giới khác, trong sâu thẳm của tâm hồn. Nó một chiều, không đòi hỏi phản hồi, không điều kiện. Một lòng tin là có "Nó", không cần kiểm chứng. Con người sẽ không bao giờ bị hụt hẫng. Những tình cạ, kể cả tình sở thích với ai cũng chỉ là " Tình say nắng " để lấp đầy những khoảng trống còn lại của Lan thôi. Dân bỗng có chút chạnh lòng ghen tị với Tường, chạnh lòng với câu cho câu thơ viết cho mình đã bao năm. Mơ hồ.
"Thơ, nơi trú ẩn cuối cùng hồn ta đó
Có mây trời biển gió có ai không".
Anh bỗng thấy càng mơ hồ thêm trong cái thế giới vĩnh cửu Chân Thiện Mỹ của Plato và của cả thơ nữa. Đã thêm ai đó thì là chàng Adam lại có Eva, lại con rắn, lại quả táo, mọi thứ lại từ đầu khởi động lại, cả hạnh phúc lẫn buồn đau. Nơi trú ẩn lại thành nhà tù. Không, nhất thiết không, thơ nhé. Thế giới ý niệm của cái đẹp nó vĩnh cửu bởi vì nó không chịu tác động. Nó luôn là nó, một chiều. Cũng như "Ý niệm Tình yêu" vậy, không trách móc, không đòi điều kiện, chỉ yêu thương…

8. KHUNG TRỜI Ý NIỆM

Cả hai cùng ngồi im lặng. Không biết Lượng nghĩ gì. Còn Dân lại nhớ đến bầu trời đêm ở sa mạc Sahara. Hồi dạy học ở trường Đại học Bechar cứ buổi tối trước khi đi ngủ anh lại ra sân hít thở ngắm sao. Sao nhiều lắm, hằng hà. Bầu trời cũng như gần hơn, các vì sao cũng gần hơn. Một thèm khát như muốn ngắt với lấy nó. Bầu trời đầy sao ấy, như một quyển tự điển của những từ Thi ca, của Chân Thiện Mỹ. Có vì sao tên “Tự do”, có vì sao tên “Tình yêu”, muôn vàn vì sao, muôn vàn cái tên mà ánh sáng nó rọi bóng xuống thế giới ta sống. Chúng ta chẳng bao giờ với tới được vì sao nào cả nhưng ta luôn ngẩng đầu ngắm chúng. Cũng có thể vì thế mà tay ta đỡ lấm bùn hôi…

9.  NGƯỜI CHA

Lượng có điện thoại. Em nào vậy nghe ngọt xớt. Anh chàng Mà Giám Sinh hẹn Kiều chuẩn bị sẵn cháo lòng, một tiếng nữa qua với hai ông bạn. "Nhà em Hạnh này ở trên đường về trang trại ông Tường, chồng chết, có một đứa con, hiền và ngoan lắm. Trên đường bao giờ tôi cũng phải ghé qua nửa tiếng, các ông nghỉ ngơi ăn cháo nhé". - Lượng quay lại nhìn Dân cười - "Còn nếu ông muốn lấp khoảng trống thì gần đấy có một cô giáo dạy văn. Để xuống tôi bảo nó gọi sang ông kiếm cớ nói chuyện nhé. Cứ nói chuyện về mèo hay cây hoa là được rồi. Sau đó kiếm cớ tiếp sang nhà em xem vườn hoa Lan. Hình như cũng thích khiêu vũ, nghe Hạnh bảo thế ".

Có một ông khách vào gặp chủ quán lúc quay ra nhìn chúng tôi, đi mấy bước rồi quay lại chào và hỏi:

- Anh là anh Dân.

- Vâng.

- Tôi là bố con Na mà anh dạy nhảy ở hồ xưa ấy. Nó vẫn nhắc tới anh. Anh nhớ không.

Với sự gợi ý của ông ấy thêm mấy chi tiết nữa Dân mới nhớ lờ mờ là có ở công viên buổi sáng năm xưa có cô gái tên là Na, có ông bố hiền, có điệu nhảy Rumba. Cô gái xinh hiền nhưng nhút nhát hay đứng góc sân xa nhảy với bố. Ở đó còn có mấy đứa bé gái bị bệnh thiểu năng hay tâm thần cũng đứng nghe nhạc, xem mọi người nhảy và nhún nhảy theo. Có lúc đi dạo mấy vòng hồ xong Dân qua dẫn chúng mấy bước đi tiến đi lùi cho đúng nhịp, thấy chúng cười, nụ cười hạnh phúc trong lành và mếu máo của trẻ bị bệnh não. Như bây giờ sau khi nói chuyện với Lượng anh hiểu là mình muốn chuyển vào khoảng trống của chúng chút quà thôi. Những chuyển động, những âm thanh, những bước đi theo nhạc sẽ phần nào giúp chúng cân bằng và phục hồi lại tâm trí. Những ánh mắt dại dại nhưng tin cậy của chúng cũng đã lưu vào khoảng trống tâm hồn anh rồi. Những buổi sáng nhảy nhót với những đứa trẻ thiểu năng đó anh cũng như lại được quà. Ấy là hồi Dân mới về nước.

Sau này Dân chuyển nhà đi xa nên hiếm khi ra hồ. Hồi ấy ông ta trẻ hơn nhiều. Mấy bà ở công viên hay đòi ông dẫn nhảy. Cô gái hình như bị mất trí nhớ sau trận ốm hay sự cố gì đấy mà các nhà tâm lý gọi là “Sang chấn“. Dân cũng không hỏi. Chỉ nghe ai đó kể rằng vợ ông chết do tai nạn ô tô, hai bố con thoát, cũng đã lâu rồi. Cô bé bỏ dở lớp 12 vì không theo được nữa. Ông ấy là giám đốc một công ty, nhiều phụ nữ để ý, nhưng ông không kết ai. Ông ấy sợ rằng sau này con gái bơ vơ khi không còn bố nên cố chữa cho con phần nào hay phần ấy và dành dụm tiền để lại cho cô bé một ngôi nhà năm tầng mặt phố Hoàng Hoa Thám. Những điều đó thì Dân lại nhớ...

Dân bắt tay và tiễn ông ra đến cửa. Nhìn theo ông lại thấy ông Tường bên kia đường đang sang. Hai người đi qua đường ngược chiều nhau nhưng không để ý đến nhau, lo tránh xe. Hai khoảng trống, hai con người lướt qua nhau.

                                                                             MỐI TÌNH ĐẦU

ớ sao lại thế Tầm Xuân

Lắt lay nghiêng ngả tấm thân yếu mềm

Gió đưa lả lướt mọc lên

Bờ tường dậu cửa ngõ bên đứng liền

(Cây Tầm Xuân - Dân ca Nga) 

1. LỜI TỰA

Phải nói là tôi yêu hơi sớm, từ tuổi vị thành niên nhưng là yêu nhân vật trong truyện. Đó là Natasa trong truyện ngắn "Mối Tình Đầu". Truyện đó làm xao xuyến trái tim của tôi hồi lớp năm. Đến bây giờ tôi vẫn coi đó là truyện ngắn hay nhất, hay hơn cả truyện ngắn của Puskin nhiều. Có lẽ vì trong truyện có bài hát, cái mà Puskin không viết được.

Truyện viết về nhân vật có tên là TÔI với Natasa và Alex. Họ cùng là bạn từ thời ấu thơ trong làng, cùng lớn lên và TÔI đã thầm yêu Natasa nhưng dụt dè không thổ lộ sợ làm hỏng quan hệ của ba người. Natasa hay hát và bài hát TÔI thích nhất là bài "Cây Tầm Xuân". Natasa cũng biết điều đó. Alex không thích Tầm Xuân, thích hoa Hồng hơn. Tầm Xuân yếu đuối quá như lời bài ca vậy.

Rồi gia đình chuyển lên thành phố và TÔI cũng không kịp thổ lộ. Alex đã nói trước rồi. Sau đó họ lấy nhau, nghe nói có một cô con gái.

Chiến tranh. Alex và Natasa hy sinh. TÔI lên tướng. Một lần TÔI đến thăm trại trẻ mồ côi, có một cô bé lên hát. Trước khi hát cô bé nói là bài hát này mẹ cô ấy hay hát. Mẹ nói là bài hát này có một người bạn của bố mẹ em rất thích. Bài "Cây Tầm Xuân".

Đọc xong truyện tôi tự hứa với mình là sau này gặp ai rồi yêu tôi sẽ không giống cái anh chàng có tên là TÔI trong truyện đâu, sẽ thổ lộ, không sợ. Và tôi hình dung ra Natasa của tôi.

Rồi tôi đi sang học ở LX. Việc đầu tiên trong năm học tiếng là tôi tìm đọc lại truyện ngắn với tên "Mối Tình Đầu" đó. Không tìm được. Bà coi thư viện lại đưa cho tôi truyện cùng tên của Chekhov, dở ẹt. Tôi cũng không gặp Natasa. Tôi lại gặp Nadia. Em lại cùng tên với cô gái trong truyện ngắn "Một Câu Đùa" của Chekhov. Chỉ có điều câu cuối của nhân vật trong truyện của ông là "Còn tôi, bây giờ tôi đã đứng tuổi, tôi không hiểu nổi vì lẽ gì tôi đã nói những lời đó, làm sao tôi đã đùa như thế..." thì tôi lại không giống vậy. Tôi lại nhớ Nadia những khi có gì nhắc đến vùng Trung Á ấy. Tôi lại nhớ chính tôi xưa, hồi mới lớn ấy. Trong tâm trí như có bộ phim được tour lại, có bài hát nữa. Không phải bài "Cây Tầm Xuân" như trong truyện "Mối Tình Đầu" đọc xưa. "Bài ca về con gấu" trong "Mối Tình Đầu" của tôi. Tôi lại sẽ nhấp nháp từng trailer của nó.

2. DU HỌC

Người ta bảo "những năm lên mười dài bằng cả quãng đời còn lại". Năm tôi đến Taskent học tiếng Nga để chuẩn bị vào học Đại học tiếp cùng với các sinh viên Liên Xô, tôi cũng chỉ mười bảy, tuổi Teen. Và cái năm học tiếng đó đúng dài bằng cả năm năm học Đại học sau của tôi. Những gì có trong năm năm sau đó tôi nhớ bập bõm, nhạt nhoè. Những gì có trong cái năm đầu tôi lại nhớ thế, từng ngày đầu ở cái thành phố ốc đảo kỳ lạ miền Trung Á, cái oi bức dữ dằn của mặt trời sa mạc bên cạnh các con kênh đào sâu dẫn nước cắt ngang qua thành phố mát rượi tiếng nước róc rách, các tòa nhà cổ kính và trung tâm thành phố cổ đắm mình trong các bóng cây cổ thụ, những lần động đất, bông tuyết trắng đầu mùa, những quyển sách... và Nadia, mái tóc vàng, cái nhìn, mùi môi em nữa.

Năm đó chúng tôi đi du học thật vội vã, thậm chí chỉ kịp thi tốt nghiệp phổ thông xong chưa hề biết kết quả. Tôi nhận được giấy báo tập trung về Hà Nội học chính trị muộn vì họ đưa nhầm cho một người cùng tên nhà ngoài đầu ngõ, nhà tôi thì ở tận cùng bên trong ngõ cụt. Lên tàu về Hà Nội, đến địa điểm tập trung chỉ còn bốn ngày là lên đường. Tối hôm cuối cùng tôi trốn xem biểu diễn văn nghệ ở hội trường, chạy ra trèo lên tàu điện về Bờ Hồ. Vội vàng mùa thu quá. Tranh thủ thời gian, tôi vào hiệu sách mua phong bì, giấy bút, tự điển tiếng Nga để kịp về trước lúc tan buổi văn nghệ, kịp điểm danh.Tôi cũng kịp đi dạo một vòng Bờ Hồ để thở mùi cây, mùi hoa cho đỡ nhớ trước khi đi xa sáng hôm sau, liếc nhìn trộm những đôi trai gái đứng với nhau dưới gốc cây ven hồ để tối ngủ thao thức mãi. Hình như tối đó trong phòng cũng còn mấy người khó ngủ. Sáng mai là xa Hà Nội rồi, xa quê hương, xa cả người yêu kẻ ghét.

Chuyến tàu liên vận đưa chúng tôi qua Trung Quốc rồi sang Liên Xô. Lần đầu tiên tôi biết biên giới và một cảm giác là lạ là mình ở nước khác khi đến Bằng Tường, rồi Nam Ninh, Vũ Hán, Mãn Châu. Hai cảm giác kỳ lạ thôi thúc tôi từ bé đó là Biển và Đất Nước khác. Biển thì tôi chưa biết, chỉ có trong mơ. Còn đất nước khác là đã được thấy rồi, bài hát "Hoa Mộc Miên" ai đó ngân lên khe khẽ khi qua cầu biên giới. Tôi đã thấy những con người khác, ngôn ngữ khác và rồi nhiều cái khác nữa. Thế giới rộng lớn thật, cảm giác kỳ lạ háo hức từ hồi còn trẻ thơ về thế giới càng ấn tượng hơn nhiều khi tàu sang đất Liên Xô. Trung Quốc vẫn là cái gì quen thuộc, con người, cảnh vật. Có lẽ vì nhà tôi trước lại ở phố Hoa Kiều, còn gọi là phố Khách của thành phố Nam Định, toàn người Tàu, cửa hàng, quán ăn Tàu.

Sang đất Liên Xô, lính biên phòng ăn mặc, trang phục, màu tóc, mầu mắt khác hẳn. Cậu lính Nga chạy ra vẫy, huýt sáo như trong các phim Hồng Quân xem hồi bé. Tàu hoả cũng khác, món ăn khác và cảnh vật cũng vậy. Có cái tự do, mênh mông của Syberie, gió, mây, trời, mặt nước hồ Bailcan mà tôi hay thấy trong các quyển hoạ báo. Đến ga Novosibirsk  thì chúng tôi chuyển sang tàu khác đi về phương Nam. Qua các đồng cỏ, sa mạc là về đến Taskent, thủ đô nước cộng hoà Uzbek để học tiếng Nga rồi đến hè năm tới sẽ đi sang miền đất Châu Âu của Liên Xô vào học Đại học

"Tên cổ của Tashkent là Tchatch xác định trong thư tịch chép năm 262 của vua Ba Tư Shapur I là Kaaba Zoroaster, tiếng Trung Quốc nó được gọi là Shi, từ tiếng Ả rập - Shash, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ gọi là Tash." - Các anh chị sinh viên Việt Nam học ở trường Đại học Tổng hợp ở Taskent sang giúp đỡ và làm phiên dịch cho chúng tôi trong cuộc họp nghe ông chủ nhiệm khoa Dự bị Đại học nói chuyện. Cũng chỉ còn mấy tháng nữa là họ tốt nghiệp xong và về Việt Nam. Nhiều người đã chuẩn bị cả mũ, chăn, các vật dụng để nhập ngũ. Phần đông là các học sinh miền Nam tập kết xưa.

3. ỐC ĐẢO

Chúng tôi sống ở các phòng ở hai tầng ba và bốn của ngôi nhà to trên một đại lộ vỉa hè rộng, đầy cây xanh lẫn với các dây điện của xe khách bánh lốp Trolleybus. Tầng hai là các lớp học. Các phòng to nhỏ khác nhau. Có phòng to sống sáu người. Mọi người quen thân nhau hoặc cùng quê nên rủ nhau vào sống chung. Do tôi đến tập trung muộn nên không kịp quen ai, cũng chẳng có ai là cùng quê Nam Định và hơn nữa, tôi lại tính cũng dụt dè. Có ba sinh viên Tây đứng chờ với va li, túi xách ở hành lang. Nhà trường nói là sống cùng phòng với sinh viên của họ có thể học tiếng Nga tốt hơn nên cho ba cậu sinh viên khoa sử đến ở cùng sinh viên Việt Nam. Cũng không phải nhiều người thích. Dân mình tính cộng đồng, quen đồng hương đồng khói, thích sống bù khú cùng nhau, có Tây vào ngại. Tôi cũng ngại, nhưng không phản đối khi tôi bị ế ẩm lẻ loi còn lại nên được ghép vào sống cùng phòng cuối hành lang trên tầng bốn với một cậu Tây. Thực ra là có ích sống với Tây, nhờ Rustam tôi học tiếng Nga khá nhanh và còn biết nhiều về Taskent nữa.

Hoá ra nước Nga thời Nga hoàng quá bận bịu với việc chinh phục các miền đất Trung Á cũng như Capcaz. Thảo nào họ chẳng còn thời giờ đi chinh phục châu Mỹ, châu Úc nữa. Trung Á lại còn chịu sự tranh giành của các hãn Mông Cổ, I ran, Thổ. Hãn Bukhara đã nhiều lần mưu toan xâm chiếm Taskent. Chiến tranh liên tục. Năm 1865 quân đội Sa hoàng mới làm chủ được Taskent và nó đã được sáp nhập vào nước Nga và trở thành trung tâm của tỉnh thuộc địa Turkestan của Nga.

Một năm trời sống ở Taskent là sống trong toà nhà đồ sộ năm tầng phố Bogdan Khmelnisky. Chúng tôi sống ở hai tầng ba và bốn, học ở các lớp nhỏ tầng hai phòng học to và thư viện ở tầng một. Đằng sau nhà là sân vườn, có phòng tập tạ, bàn bóng bàn, cả sân bóng chuyền, bóng rổ. Nhà ăn và nhà tắm ở tầng ngầm. Thế giới của chúng tôi chỉ đến cái vỉa hè trước ngôi nhà đó. Đi ra phố phải gặp ban lãnh đạo đơn vị sinh viên xin phép và không được đi một mình, phải có người kèm, về phải báo cáo. Có cậu chạy sang bên kia đường mua phong bì để gửi thư bị phát giác. Thế là cũng họp lên họp xuống mấy lần. Họp hành phê bình nhau liên tục và khi phê bình người khác những ánh mắt sung sướng lại không giấu được. Tôi chẳng muốn mạo hiểm khi sống trong một bãi mìn và hiểu rằng bất cứ bước chân bất cẩn nào cũng sẽ phải ân hận sau đó. Thời giờ rỗi tôi xuống thư viện hoặc ngồi trước vô tuyến ở tầng một xem phim để tranh thủ học và dùng tiếng Nga. Như thế nó lành và thời giờ sẽ không trôi qua vô bổ. Thích nhất là phòng tôi cuối hành lang tầng trên cùng có một cái thang cụt, phải đu lên sẽ ra được sân thượng. Nhiều tối hoặc sáng sớm tôi lên đó ngắm những chiếc xe điện bánh hơi chòng chành đi trên các đường phố. Xa xa là thành phố mới toàn đá trắng, công viên, quảng trường và các đài phun nước.

Tôi thích ngắm người hơn cảnh vật, kiến trúc. Các cô gái người Uzbek tôi thấy đều duyên dáng, có cái kiều diễm của phương Đông với chất Nga dịu dàng khêu gợi. Tôi lại rất thích chiếc áo choàng lụa họ mặc, nhẹ như không trọng lượng phủ trượt lên các đường cong mềm mại đầy quyến rũ với các màu sắc kẻ sọc vơi đầy ánh vàng óng mượt, nhìn mãi không chán. Cái áo dài của phụ nữ Việt cũng đẹp, nó cho thấy gió, gợi cảm giác bay bay nhẹ nhưng không làm bứt rứt như những chiếc áo váy tơ lụa miền Trung Á nắng gắt này.

Cũng mỗi tháng một lần, chúng tôi được đưa bằng hai ô tô to đi tham quan thành phố, giao lưu với công nhân trong các nhà máy, học sinh ở các trường phổ thông. Nghỉ đông được lên núi trượt tuyết. Tiếng Nga cũng dần dần ngấm vào tôi. Nhờ nó tôi đọc được khá nhiều sách ở thư viện, tán gẫu với Rustam về mọi chuyện, xem phim và nghe các bài hát Nga và mùa hè đó, trên đỉnh núi đã nói với em một câu tiếng Nga, cái câu mà ai cũng có, chỉ có chờ lúc nào nói thôi.

4. HÈ

Thấm thoát đến mùa hè cả đoàn sinh viên rời thành phố Taskent đi nghỉ hè trên núi. Mọi người được thông báo đi học ở các thành phố khác nhau nên ở nhà nghỉ có vẻ lưu luyến thân mật hơn, buổi tối hay thức khuya, tâm sự, văn nghê. Có lẽ chỉ có tôi là đi ngủ sớm. Cũng chẳng ai chấp, quan tâm tôi làm gì. Họ coi tôi là một con mọt sách, vô hại. Dân khu Bốn ở phòng bên đông thế, nói to, hát to, cười to nữa. Thế mà tôi vẫn ngủ được. Tôi nằm hình dung cảnh đồi núi trời mây xứ Uzbek nơi đây và những cánh chim bồng bềnh rồi ngủ thiếp đi. Mãi nhiều năm sau này tôi mới hiểu là mình vô tình đã thực hiện Quán Tưởng trong Visualization Meditation. Nói chung cảnh biển, núi cao và cánh chim rất hay đến trong giấc ngủ của tôi. Người ta bảo mơ trong mơ là mộng. Tôi mới chỉ mơ trong giấc ngủ thôi.

Buổi sáng tôi lại dậy sớm và chạy lên núi. Còn hơn hai tiếng mới đến giờ ăn sáng. Tôi như anh chàng Robinson lạc lên hoang đảo muốn khám phá từng phương của nó. Với tôi là sau cái núi cao đó cái có gì và đứng ở trên đó sẽ ra sao. Thế là ngay hôm đầu tôi đã trèo lên. Không khó nhưng lúc xuống phải bò giật lùi nhiều đoạn. Cũng hú vía. Những hôm sau nhìn lên đỉnh núi đó tôi vẫn thấy may, may vì không ngã xuống suối bên, may vì không ai nhìn thấy. Vì từ nhà nghỉ nhìn lên có thể thấy nếu tôi chuyển động. Tuy vậy cái khao khát lại trèo lên đỉnh núi đó để thấy mây và trời gần hơn vẫn thôi thúc như không sao cưỡng nổi. Sẽ phải leo theo hướng bên kia cho khuất, cho khẻo, mặc áo mầu sẫm để có ai đó ngước lên cũng không để ý. Cũng hy vọng là mọi người hay bận bịu với nhau, ít ngắm cảnh xa, ngước lên cao lắm.

Nhưng có một người con gái nhìn thấy tôi trên đó. Nadia chỉ tôi cho mẹ lúc đi dạo sáng hôm sau gặp tôi ở bờ suối. Nadia mười sáu tuổi, kém tôi gần hai tuổi. Một cô gái Nga thật sự, tóc vàng, mắt xanh giữa đất nước Uzbek Trung Á. Tôi cười và nói:

- Em thấy tôi trên núi thật chứ, thế tôi đó bé từng nào.

- Từng này này - Nadia dứt một cành cây dại, bẻ đi mấy mẩu để giống như cái chạc súng cao su trêu tôi. Em cầm hình đó giơ lên rồi kéo tôi đứng cạnh ngắm, thấy cái bù nhìn đó chơi vơi trên đỉnh núi rồi ngã sấp. Chúng tôi đều cười sung sướng như những đứa trẻ con.

Mẹ em tin cậy để chúng tôi đi chơi các buổi sáng với nhau. Quả thực trông tôi hồi đấy ai cũng bảo là hiền. Hai đứa cứ như trong phim, hay như trong các truyện của Pautovsky vậy. Và mùi của thông, mùi gió, cây dại, mùi tóc của Nadia, tôi không phân biệt được sau đó nữa. Một mùi vị thân thiết mà tôi được trời cho biết. Đúng ra phải là thánh Alah ban cho vì đó là vùng đạo Hồi.

Rồi đến một hôm trăng tròn sáng. Chỉ còn hai ngày là trở về Taskent. Tôi đi bẻ hai cành cây dại, thành hai chạc làm chân, hai chạc nữa làm tay, thêm hai quả thông nữa cắm vào cho có hai cái đầu, rồi thêm một quả nhỏ nối hai tay làm thành hình hai đứa cầm tay nhau. Tôi muốn tặng em sáng mai nhưng rồi thay đổi ý định. Chúng tôi chỉ đi chơi với nhau bên bờ suối thôi. Được cái là tình thế đoàn của tôi bây giờ khá lỏng lẻo, còn mười ngày nữa là trở về Taskent rồi chia tay nhau bay đi những thành phố phần Châu Âu của Liên Bang. Một số anh lại về học trong nước. Những nội quy nghiêm ngặt ở Ký túc xá xưa thì chỉ còn lại là phải về phòng ngủ, không lang thang cũng không phải được tôn trọng lắm. Rồi mọi người cũng lờ đi, cho qua. Mấy đôi nam nữ người Hà Nội còn ra ngồi bụi đêm với nhau. Cũng có thể họ yêu nhau từ hồi trong nước. Nghe nói dân Hà Nội yêu sớm lắm.

Thôi kệ họ. Sáng hôm tôi dậy thật sớm và trèo lên đỉnh núi. Làn này tôi thạo trèo rồi nên lên rất nhanh. Tôi đặt vào một cái hốc trên đỉnh núi cái hình hai đứa cầm tay nhau làm bằng các chạc cây dại ở mọc ở bờ suối đó. Hai đứa sẽ ở đây, bên nhau, ngắm bầu trời, có mây. Tôi cũng cẩn thận che chặn bằng một hòn đá bên ngoài hang con của chúng để tránh gió mưa. Lúc nhìn xuống thấy Nadia đang đứng ở phía bờ suối dưới xa, chắc vẫy tôi. Bé lắm, trông không rõ mặt, nhưng không hiểu sao tôi như thấy miệng của em mấp máy. Tôi cũng nói với em, Nadia, ba từ ấy. Tôi nói lần đầu, chưa nói với ai. Nửa tiếng sau chúng tôi lại bên nhau dọc theo bờ suối. Nadia hái mấy cành hoa cỏ dại đưa tôi cài lên tóc em. Cành hoa tím, có lá xanh trên tóc em vàng óng. Tôi như lạc vào truyện cổ tích, truyện của tôi và em. Em hỏi:

- Anh có gọi em không, từ trên núi ấy.

Tôi lặng đi và kéo em lại thì thầm … Rồi em làm tôi bừng tỉnh bằng bông hoa quệt vào môi tôi.

- Thế trên đỉnh núi ấy có hoa tím dại này không anh?

- Nhiều.

- Sao anh không hái xuống cho em?

- Trên ấy có người coi, họ không cho hái

- Có người?

- Có hai người, trong hang đá. - Và tôi bỗng dưng nhớ tới một bài hát Việt xưa, bài "Bài ca hang đá", tôi hát và dịch lời cho em :”Bầu trời có sao chiều, sao sớm. Đầu núi kia có hai người, dù đi cùng trời, dù đi khắp núi. Trời chỉ có sao sớm sao chiều, núi chỉ có hai người yêu nhau".- Tôi hát không hay nhưng em bắt tôi hát đi hát lại. Còn hai ngày nữa là chia tay. Tôi về Taskent trước.

Về Taskent tôi nhớ em không chịu được, có tâm sự với anh Quảng cán bộ đi học. Anh ấy cùng một số anh lớn tuổi không qua được kỳ thi tiếng Nga nên về học đại học trong nước. Anh ấy rất thông cảm và định cùng tôi đến thăm gia đình em. Tôi không được phép đi ra phố một mình, chỉ có lý do đi giúp anh Quảng mua ít thuốc tây về chữa bệnh cho bố. Khi hai anh em chẩn bị đi thì lại có một đoàn học sinh của một trường phổ thông Liên Xô đến tiễn, rồi lại có meeting nữa. Tôi phải ở lại phiên dịch giúp đoàn.

Sau này về Kharkov chúng tôi có thư từ và tôi yêu thơ Nga, còn làm cả thơ bằng tiếng Nga cho Nadia.

Một lần anh Ninh phụ trách đơn vị gặp tôi. Tôi hiểu là mình đã mạo hiểm, thư từ với gái Tây, lộ ra có thể bị đuổi về nước...Tôi viết cho em một lá thư xin lỗi và nói em đừng gửi thư cho tôi nữa. Tôi cũng nhận được lá thư cuối của Nadia. Hôm đó tôi mãi không ngủ được, mãi vì em viết trước hôm thi vào nhạc viện, viết và khóc. Tôi còn nhận được một gói quà. Một cái hộp con có hai nhánh cây làm hai người mà tôi dấu trên đỉnh núi, bông hoa dại màu tím khô... và túm nhỏ những sợi tóc vàng.

5. VĨ THANH

Hôm kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, chúng tôi những sinh viên du học Taskent xưa ấy lại gặp nhau. Mọi người lại mở những bài ca Nga một thời. Có bài " Những con gấu trắng " làm tôi nao lên. Bên bãi cỏ năm ấy em hát và nhảy cho tôi bài ca trong phim chiếu hồi đó. Rồi em nói về Taskent đến nhà em, em sẽ chơi piano hát cho tôi nghe, cả cái "Bài ca hang đá " của Việt Nam nữa. Mẹ em bảo sẽ đãi tôi món cơm Plov có thịt cừu, đậu, cà rốt, hành tây theo đúng kiểu đầu bếp của Alexandr Đại Đế làm xưa, cả món xúp mì thịt Lakhman mà tôi thích nữa.

Chúng tôi tìm và mời được một số anh chị cán bộ học cùng năm dự bị Đại học ở Taskent ấy. Chỉ có anh Quảng là không gặp lại lần nào. Nghe nói anh tốt nghiệp Kinh tế Quốc dân Hà Nội rồi về quê ở Nghệ An làm.

Sau này tôi hay vào Youtube tìm nghe lại một bài hát Nga. Nadia đã hát cho tôi bài hát về những chú gấu, hồn nhiên như cô gái nọ, chỉ có tóc em vàng và đôi mắt xanh, còn tôi thì mắt tóc đều đen, ngược lại với chàng trai tóc vàng trong phim ấy.  

CÁT VÀ TUYẾT

Những con sông mặt đóng băng

Mà dòng lũ vẫn dười lòng sục sôi

(thơ Evtushenko)

 

1.      LỜI DẪN

Có lần Bích về chơi Hà Nội. Hai anh em đi ăn cơm trưa. Bích nói chuyện, đúng hơn là giảng về viết lách cho tôi nghe. Bích nói là truyện ngắn giống thơ và nên cho nó có được một vài biến cố gì đấy. Truyện dài thì không thế, nó chú ý đến nhân vật và số phận. Tôi hiểu là truyện ngắn nó không nên rõ quá mà chỉ nên gợi bởi một vài câu hỏi và lại mơ hồ với những câu trả lời.

Thực ra biến cố trong cuộc sống đầy, ai chẳng có. Chỉ có điều lúc nhắc tới nó người ta hoặc thoả mãn, hoặc nuối tiếc ân hận và mọi chuyện tưởng như rõ ràng, cái thiện cái ác không giấu được. Thế nhưng cũng có những biến cố xảy ra, mọi chi tiết thật quá và vì thế nó mới vô lý. Có lẽ nên đảo lại là "mọi chi tiết có lý quá và vì thế nó mới không thật".

Trước tết trời mưa lạnh, rất lạnh. Nghe nói là năm nay các cơn lạnh từ Bắc Cực tràn xuống khắp nơi. Cái cảm giác lạnh này thấy quen quá. Nhớ rồi, cái lạnh ở Ba Lan năm đó, cái lạnh còn trong những bài thơ tuyết tôi viết cho tôi, viết cho những nhân vật của mình. Không biết những nhân vật đó bây giờ có thể sống ra sao ra sao, ở đâu, có hạnh phúc không, có thấy ấm không, mùa đông này, có thể viết tiếp về họ thế nào... Tôi lấy tập truyện ngắn của mình và đọc lại đoạn viết về Hương.

"... Thế rồi một xe kéo, một túi hàng, Hương lang thang khắp các chợ. Lúc đầu ở Varsava rồi sau đó nàng bạo lên, đi tầu đến các chợ tỉnh xa. Mùa đông đầu tiên xa nhà, những bông tuyết đầu tiên nàng gặp cũng ở ngoài chợ. Hôm đó gần đến Noel, nàng bán hết sạch cả hàng. Rồi tết âm lịch. Ba mươi tết, buổi tối có một người phụ nữ Việt Nam đứng giữa sân ga tỉnh lẻ vắng ngắt, chờ tàu về Varsava, ngửng mặt lên trời đón tuyết rơi. Những bông tuyết mơn man, êm ái tới tấp phủ kín mắt môi nàng, xoa đi những lo âu, buồn tủi. Và những tiếng còi tầu, những túi hàng, những vì sao cô đơn ngoài cửa sổ, những dòng sông, đồi núi, những dải rừng xanh đẫm nắng chiều, những phiên chợ, những miếng bánh mì kẹp bơ và dưa chuột ăn vội vàng đã gắn liền với nàng, là một phần trong cuộc sống nàng...." - Trích từ" Hương-Bản Tango Italiano NXB HNV 2014".

Và tôi như lại thấy tuyết, thấy cái chợ con ở phía Nam Varsava. Ở đó không chỉ có Hương của tôi. Có lần tôi còn gặp một người khác. Một người đàn ông Việt và đứa con nhỏ hơn mười tuổi bán hàng dưới tuyết.

2. TUYẾT WARSZAWA

Tuyết rơi dày quá, phủ kín mít hết cả chiếc Opel cũ của tôi đỗ trong sân nhà Khiêm. Cậu em họ bảo tôi: "Về làm gì vội anh. Trên TV hôm qua nói nhiều tai nạn xe lắm, mà lại trên đường về Crakow đấy, gần Kielce. Thôi ỏ đây đến hết tuần, xem hết đống băng chưởng đã, mấy khi. Mai em có việc sang Nga. Trong tủ lạnh có đủ hết đồ ăn rồi, cả bia nữa. Anh không chờ được mà về thì tuỳ nhưng nhớ lúc phải xem thời tiết, xe pháo, phanh lốp cẩn thận nhé".

Ngày hôm sau Khiêm đi sớm, chỉ còn mỗi mình tôi trong căn hộ ở tầng hai. Nghe nhạc, đọc sách, xem TV mãi cũng chán, đến chiều tôi khoác áo chạy ra phố cho đỡ bí bách. Bên kia đường có cái chợ.

Chợ vắng, lác đác mọi người đã dọn hàng về. Tôi hỏi mấy người Nga về vài thứ phụ tùng ô tô, cá muối và rượu Voka, nhưng họ hết rồi. Họ hẹn tuần sau. Một người Nga khoác cái áo lông kiểu Syberie lôi chai rượu trắng con ra và mời tôi một ngụm rồi chia tay. Một người khác chìa một bọc huy chương, huân chương hỏi tôi có thích mua không. Tôi không mua huân chương nhưng hỏi mua một chiếc huy hiệu hình quả trám thấy trong đống đó, huy hiệu tốt nghiệp kỹ sư trường Đại học Bách khoa Kiev. Ông ta không lấy tiền, dúi vào tay tôi cái vật nhỏ đó rồi xách túi chạy theo mấy người Nga khác. Tôi cũng không kịp nói cảm ơn, lấy chân đá đống tuyết và rẽ vào quán cafe sát chợ.

Ngồi nhấm nháp vị capuchino và ngắm nghía cái huy hiệu. Thực ra cái huy hiệu tốt nghiệp kỹ sư trường Đại học Bách khoa Kharkov bị mất của tôi cũng giống hệt thế này. Nó chỉ một lần duy nhất được đeo lên ve áo hôm nhận bằng rồi được cất trong cái cặp mỏng cùng với cái bằng, luận văn kỹ sư vật lý kỹ thuật và các giấy tờ khác cùng quyển album của ảnh của lớp tôi. Sau này cái cặp bị dày lên vì có thêm luận án Phó tiến sỹ và các bài báo khoa học. Rồi tôi phải thay cặp mới để có chỗ thêm cho các đĩa mềm chứa các dữ liệu và chương trình máy tính mà tôi thực hiện được trong khoảng thời gian giảng dạy ở trường Đại học Bechar Algerie. Ngoài ra trong cặp còn cả những tập ảnh gia đình và những ảnh kỷ niệm khác.

Thế rồi cái cặp đó bị mất. Trong đời con người ai cũng vậy dù có là người cẩn thận nhất trên đời rồi cũng không chỉ một lần có những sự cố mất mát tiền bạc, của cải, đồ vật mà tiếc đến tê tái người. Cái câu "của đi thay người" có lẽ là bạn đồng hành với cuộc đời mỗi con người vậy. Tuy nhiên cái vụ mất cắp chiếc cặp của tôi đó thật kỳ lạ. Tiếc thì không nói làm gì và với năm tháng nó cũng phôi pha. Có điều nó ám ảnh tôi về người đã ăn cắp cái thùng đồ có cái cặp để trong đó. Chuyện xảy ra ba năm trước ở thủ đô Alger khi tốp chuyên gia giáo dục Việt Nam chúng tôi về đến nhà khách Sứ quán ta sau đợt nghỉ hè về nước.

Khoảng gần chục ông xách đồ lỉnh kỉnh, va ly, cặp, hộp giấy vào sân. Phòng cô Hà phụ trách nhà khách đóng cửa. Tôi bảo anh em đứng đợi rồi chạy sang toà nhà Sứ quán ở ngay bên cạnh tìm Hà. Bên ấy họ bảo Hà trở về lâu rồi. Khi tôi trở lại nhà khách thì sân đã vắng người, thấy mỗi Hà. Mọi người đã khuân đồ vào các phòng nghỉ ở tầng một. Ông Đại dạy cùng trường Đại học Bách khoa ở Hà Nội gọi tôi vào phòng cuối. Có một chiếc va ly, một cái túi đeo để cạnh giường sẵn cho tôi. Còn thiếu một cái hộp carton nữa. Tôi chạy sang các phòng bên hỏi, không có, lại chạy ra sân, ngơ ngác. Ông Đại và Hà cũng chạy ra hỏi tôi rồi hỏi các ông khác. Mọi người cùng tìm các phòng, ra lại ngoài sân. Không thể sót ở sân bay hay trên ô tô được vì tôi nhớ nó rất rõ là đã xách vào sân, trong đó có cả quà chồng Hà gửi sang cho vợ. Thật không tin được. Vừa hay có mấy người bên Sứ Quán về nói có thấy một bác sỹ, chuyên gia y tế ở Alger tên là Hải lên taxi đi khỏi nhà khách. Ông này vừa làm xong các thủ tục ở Sứ quán để về nước thăm nhà. Tôi vội vẫy xe phóng ra sân bay. Tôi lang thang, hỏi han hơn hai tiếng, không có được thông tin gì, mệt rũ.

Buổi tối hôm đó ngủ ở nhà khách mà tiếc thì chỉ một phần, phần nữa là tôi tự trách mình quá chủ quan và vô trách nhiệm với chính mình. Muốn gì đầu tiên cũng phải lo cho mình ổn trước đã rồi mới lo xung quanh. Một bài học của cuộc đời.

Sáng hôm sau ông Đại và Hà tiễn tôi ra sân bay bay về Bechar, thành phố miền Nam của Algerie. Thấy hai người áy náy tôi đành cười nói: "Của đi thay người mà, biết đâu họ trả lại những thứ không ai cần đến ấy, có gì thông báo mình nhé". Khi ngồi trên máy bay tôi nhắm mắt hồi tưởng lại những vật bị mất. Không có gì đáng giá tiền bạc. Chỉ có những album ảnh, quyển nhật ký, những ghi chép và các bằng cấp, chứng chỉ, quyển luận án Phó tiến sỹ và các đĩa mềm chứa các dữ liệu và chương trình máy tính. "Mất toi hai năm kỳ cục giam mình trong phòng máy tính của trường" - Tôi thở dài và nhìn qua cửa sổ máy bay. Phía dưới sa mạc mênh mông. Những đám mây gần lại. Mọi thứ thật mong manh cứ như không thật.

3. GIẤC MƠ

Tuyết rơi dày. Buổi tối trong căn phòng ấm áp ở Warszawa, bên ngoài phủ đầy tuyết trắng tôi lại bồng bềnh trở về giấc ngủ trên chiếc Boing 727 năm ấy.

Và tôi bỗng thấy mình giữa sa mạc. Tôi lạc. Sân bay nằm ở hướng Tây, về phía Maroco, mình phải đi về hướng Đông. Tôi cứ đi mãi một mình, không có ai cả, chỉ có mênh mông là gió với những cát, những cây gai. Kia rồi, leo qua cái đồi cát đỏ tôi thấy có người, có các mái nhà. Cả một ốc đảo xanh bóng những cây chà là, cả một dòng suối nhỏ hiện lên. Không phải ảo ảnh, thấy cả Aisha, cô coi thư viện của trường Đại học Bechar đứng bên bờ cỏ vẫy tôi. Tôi đến gần thì không phải, lại là một cô gái Việt, quần đen áo nâu. Tôi theo cô ấy vào làng. Làng Việt, toàn người Việt, có ao, cây tre, hàng rào với các cây cúc tần xen lẫn cây dâm bụt nữa. Một cái làng Việt ở giữa sa mạc Sahara và tôi gặp trưởng làng trong chiếc áo dài khăn xếp, bà vợ Tây trông quen quen. Nhìn kỹ ra là vua Hàm Nghi và bà vợ người Pháp. Vua đang cầm quyển vở của tôi, quyển nhật ký đầy những ghi chép trong ba năm ở Bắc Phi này. Ông hỏi tôi có muốn ở lại đây không, cái nước Việt Nam của ông, nhỏ thôi nhưng bình an trong cái ốc đảo tách biệt không ai biết đến này. Ở đây sẽ không có chính trị, tội ác, trộm cắp, gian dối, đấu tố, tranh dành hại nhau. Mọi người sống trong bình đẳng và yêu thương. Mà phải trả lời ngay không sẽ không kịp. Xung quanh tôi có rất nhiều người, cả trẻ con, cả cái cô gái tôi gặp ở đầu làng, đôi mắt lá dăm nhìn tôi đau đáu, thúc dục...

Có tiếng chuông điện thoại đánh thức tôi, đưa tôi ra khỏi giấc mơ kỳ lạ. Khiêm gọi từ Moscow về...

4. TRONG ĐÊM

Nói chuyện với Khiêm xong, tôi không thể ngủ lại, không mơ lại được, tiếc quá. Trằn trọc mãi trong đêm tối, bên ngoài tuyết trắng ngập. Chán thật, mấy cái băng nhạc và quyển truyện lại để dưới xe đã phủ đầy tuyết. Tôi với tay bật kênh Pro 7 có cảnh các cô gái Florida tung tăng khoe cơ thể trên bãi biển đầy nắng ấm cho khuây khoả nằm chờ trời sáng. Bỗng dưng tôi lại nhớ tới ông Đại. Ông ấy rời Algerie ngay sau các biến cố ở Liên Xô và Đông Âu xảy ra. Nghe nói ông ấy về nước đón cả vợ con sang Đức định cư. Tôi về đưa vợ sang Ba Lan làm ăn ít lâu sau, rồi về hẳn Crakow, một thành phố cổ kính yên tĩnh bên dòng sông Visla miền Nam Ba Lan. Chúng tôi sống như bị lãng quên, tách biệt với cuộc sống sôi nổi, gấp gáp của bạn bè cùng sang trên Warszawa và hãn hữu mới rời khỏi Crakow như lần này, cũng là lúc vợ tôi về nước thăm các con. Bình thường trước đó thì cứ đầu tuần một vài hãng may mặc ở Lodz, cách hơn hai trăm cây, mang hàng đặt đến giao cho và các khách hàng từ các nước lân cận Ucraina, Tiệp, Hung, Ru lại sang lấy. Hàng chúng tôi tự đặt theo mẫu riêng và không nhiều nên không có gì phải lo lắng, không bán lúc này, bán lúc khác. Cũng định kiếm được chút vốn rồi thu xếp về Việt Nam. Nhà tôi có mỗi tôi là con trai. Còn mẹ sống với chị gái ở Nam Định.

Tôi lại nhớ đến Hà. Lúc tiễn tôi ra sân bay rời đất nước Bắc Phi kỳ lạ này Hà có nói: "Chắc cái ông Hải bác sỹ đó không lấy đồ của anh đâu. Ông ấy ra sân bay bị Hải quan Algerie bắt rồi giam. Họ soi thấy trong va ly có chai đạm, cái loại thuốc không có nhãn, chỉ dùng trong bệnh viện, coi đó là đồ ăn cắp. Phải mất hơn tháng sau bên mình mới biết tin. Người thân trong nước của ông ấy cứ sốt ruột gọi sang, cũng tội".

5. SAHARA

Thực ra lúc đó nỗi tiếc nuối những thứ bị mất đã vơi đi nhiều bởi những biến động ở Liên Xô và Đông Âu dồn dập đến. Nhớ lại, tôi vẫn không thể hiểu được do đâu những giọt nước mắt của mình rơi xuống hôm trở thành phố ốc đảo giữa sa mạc Nam Sahara như trong truyện cổ tích, nơi tôi đã giảng dạy ba năm ở trường Đại học Bechar. Do cuộc chia tay bất ngờ với vợ chồng Sasha để ngầm hiểu sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa? Do cát bụi Sahara vào mắt? Hay là do nghe tin Liên Xô tan rã?.... Chỉ có điều tôi không thể quên được khuôn mặt Tania với đôi mắt đỏ hoe chạy ra sân khi thấy tôi bước xuống taxi: ”Chúng tôi phải trở về Liên Xô. Nó hãy còn”. Sasha thì lúi húi xếp đồ vào cốp xe, chiếc Opel cũ rích mua lại hai trăm đô ở chợ giời gần biên giới Maroco. Lau bàn tay rắn chắc vào quần xong Sasha ôm lấy tôi, vỗ vỗ mạnh vào vai: “Nào! Anh bạn”. Chiếc Opel rung lên rồi chuyển bánh, cuốn theo một đám bụi cát mù mịt. Vợ chồng họ sẽ phải qua suốt sa mạc Sahara, sang Maroco, qua eo biển Gibranta, qua Tây Ban Nha và qua suốt châu Âu để về nhà ở Kiev, về kịp Liên Xô. Buổi tối tôi sang thăm và uống rượu với Iana, cậu bạn dạy toán người Ba Lan để lấy cái khăn len xanh Irina đan gửi tặng tôi. Cậu ta cũng ký được hợp đồng dậy học ở Bradin. Cô hàng xóm Khatratarian đã về ngay sau khi Armeni bị động đất tháng trước. Trận động đất đã tàn phá hai phần ba đất nước. Cô ấy còn có một người con tàn tật gửi ở nhà người thân ngoại ô Erevan. Các chuyên gia của các nước cộng hoà của Liên Xô và các nước Đông Âu khác cũng lần lượt rời cái thành phố ốc đảo xanh giữa sa mạc như trong truyện thần thoại này. Tôi cũng không phải là người cuối cùng. Cậu giáo viên dạy hoá người Ấn Độ còn gia hạn hợp đồng ở lại. Nghe đâu sau đó bạo loạn xảy ra ở Algerie, thành phố Bechar cũng bắn nhau ghê lắm.

Tôi thì sang Ba Lan, bỏ dở hợp đồng năm thứ tư rồi bề bộn với công việc mưu sinh, các quan hệ...để quá khứ, các sự kiện, các nhân vật chỉ như trong một bộ phim ai đó dựng lên thôi. Cũng đôi khi nhớ lại tôi thấy tiếc quyển nhật ký và những ghi chép cũng như những bức hình chụp như một quyển truyện của đời mình. Luận án và những vấn đề khoa học chuyên môn dở dang cũng dần chìm mờ vào quên lãng, tôi không tiếc nữa. Các bạn bè của tôi rồi cả các thày giáo Soviet cũng đang vật lộn với cuộc sống. Nhiều người bỏ sang Mỹ và Tây Âu kiếm sống. Cũng chẳng có cái học nào bằng cái học cách sống sót trong cái thế giới đầy biến động bất trắc này.

6. CẬU BÉ

Buổi sáng tuyết không rơi nữa. Warszawa phủ một màu trắng xoá. Tôi lại khoác áo đi giày ấm sang chợ. Trong chợ có một quán ăn nhỏ. Tôi bỗng thèm món bình dân flaki, món xúp dạ dày mà anh bạn đồng nghiệp Iana hay mời tôi ăn năm xưa ở Algerie. Biết đâu ở đó có.

Trong quán không có khách ngoài một cậu bé đang ngồi với đĩa khoai tây rán, tay còn đang cầm quyển truyện tranh tiếng Việt. Không có flaki, tôi cũng lấy một đĩa khoai tay rán và cốc capuchino ra ngồi cùng cậu bé. Cậu bé này có khuôn mặt đẹp quá, các nét không chê vào đâu được. Đôi mắt lại to đen, thông minh, lông mày dày đen cứ như trong tranh của La Mã, Hy Lạp xưa ấy. Tất nhiên cũng như tôi vậy thôi, vẫn không giấu được đi đâu cái gốc Việt trong con mắt người Việt. Tôi cũng phần nào còn phân biệt được cả người Ba Lan với người Nga hay người Đức, người Tàu với người Nhật. Cậu bé chào tôi lễ phép. Tôi hỏi:

- Nhà cháu gần đây à.

- Không ạ. Bố cháu đang bán hàng ngoài kia.

- Mẹ đâu, chỉ bố con đi chợ thôi à.

- Mẹ cháu sang Đức sống rồi.

- Thật, thế hai bố con bao giờ sang với mẹ - Tôi buột miệng một cách tự nhiên.

- Không, sang tháng bố con cháu về nước. Về với bà nội.

Nói chuyện với cậu bé mấy câu tôi bỗng ngẩn người ra. Hoá ra bố cậu cũng là chuyên gia y tế ở Algerie năm xưa cùng tôi, bác sỹ Cương ở thành phố Tlemcen. Tôi đã được nghe mọi người nói về cậu bé Dũng này ở nhà khách Sứ quán những lần lên chơi thủ đô Alger. Ông Cương mang đứa con tám tuổi sang rồi gửi vào học nội trú trường Pháp ở Oran, thành phố  cảng lớn thứ hai sau thủ đô Alger. Nghe nói câu bé học rất giỏi, tiếng Pháp nói còn hơn cả bố. Bà hiệu trưởng người Pháp muốn nhận cậu làm con nuôi. Và đó là đề tài tranh cãi ở nhà khách Sứ quán giữa các anh em chuyên gia. Cũng nghe nói là vợ ông ấy đi lao động xuất khẩu bên Đức và đã có người khác.

7. ĐỒNG XU

Cậu bé vừa ăn nhẩn nha vừa đọc truyện tranh. Tôi thì vừa ăn vừa ngắm cậu bé. Vợ tôi cũng gọi điện sang nói cậu út ở nhà cũng luôn kè kè bên mình bộ truyện tranh Nhật bản "Doraemon", "Bảy viên ngọc rồng", "Thủy thủ mặt trăng". Truyện nào cu cậu đọc chán rồi bảo mẹ mang sang cho ba đọc. Tôi lại nhớ đến câu nói của nhà văn Pháp Saint-Exupéry "Tất cả mọi người lớn lúc đầu đều là những em bé nhưng ít người trong số họ còn nhớ điều ấy". Có lẽ vì thế mà cái chuyện mà anh em chuyên gia tranh luận ở nhà khách Sứ quán hồi ấy thì tôi không thuộc bên nào. Ý tôi là cho cậu bé tự quyết định có nhận theo bà người Pháp đó không. Có thì sẽ sang Pháp, có mẹ nuôi, sẽ có điều kiện học hành đỡ phí cái thiên tư trời cho rồi lo hiếu với cha mẹ đẻ sau. Nếu cậu không xa được bố thì cũng không sao. Cậu bé có thiên tư thì sẽ hiểu không gì bằng bên cạnh bố và học ở bố mình. Học những cái được và học tránh những cái không được của bố. Mọi người phản đối tôi với lý do là thằng bé mới mười tuổi biết gì mà quyết định. Tôi định nói là thế thì tung đồng xu sấp ngửa cho xong nhưng lại thôi, sợ mất lòng anh em.

Nhưng trong lòng tôi vẫn thấy là đôi khi tung đồng xu, giao phó cho sự ngẫu nhiên đó lại là cách hay nhất, còn đỡ thấy áy náy hơn khi nát óc ra những quyết định khó khăn để sau cứ tự trách mình. Tôi thì không tin ở trực giác kiểu "con tim mách bảo" thay. Cái đó dành cho chị em.

Ăn xong, chúng tôi cùng đi ra chỗ ông Cương bán hàng. Dũng mua một cốc capuchino nóng mang ra cho bố. Có mấy bà vừa mua hàng của ông xong cùng đi với nhau có vẻ thoả mãn. Tôi gật đầu giơ tay ra:

- Chào anh, bán được nhiều chứ anh.

- Cũng tạm anh ạ - Người đàn ông nhỏ thấp trong cái áo bông màu nâu, cái mũ lật xuống vai, mái tóc ánh bạc bắt tay tôi. Một tấm ni lông dải trên tuyết, hai chiếc xe kéo, cái bịch hàng. Toàn hàng xén, các sấp kimono, khăn mùi soa, ví, dây lưng, bờm tóc...

8. TRONG CHỢ

Người nọ người kia qua xem, ngó, hỏi nhưng không có ai mua gì nữa. Tôi vừa nói chuyện vừa nhìn ngắm hai bố con ông Cương. Đúng là cậu bé quá đẹp, cân đối, không mang nét của bố, cả dáng người cũng vậy, không lù khù như ông, sau này lớn tí nữa là khối em chết. Chắc là vợ ông đẹp lắm. Lấy vợ đẹp đã khó nhưng giữ vợ đẹp khó hơn nhiều nhất là lại để vợ sang Đức vật lộn với cuộc sống mưu sinh một mình. Đã có bao nhiêu người vợ, người mẹ đi sang đó rồi không trở về. Ước mơ Đức làm thay đổi tất cả.

Thực ra mới nhìn thì hai người không hề giống nhau, khó nói là bố con nhưng đứng với họ một lúc thì cái cảm giác đó lại mất đi. Có một cái gì đó khó nói, có một cái gì chung của hai người. Nói là cái hồn thì nghe thơ văn quá. Cái cách bộc lộ, cách nhìn, cách nói thì đúng hơn. Họ như một phần của nhau, tách ra thấy như một cái gì không trọn vẹn.

Tôi kể về mình một cách tự nhiên. Ông Cương nhìn tôi, cắn môi rồi nói:

- Tôi biết anh từ hồi Alger, cũng không ngờ lại gặp hôm nay, ở cái chợ này. Có thể cũng là điều cần làm, cần nói cho anh. - Ông cắn môi rồi nói tiếp - về một người, oan một người.

- Oan ai - Tôi ngỡ ngàng.

- Bác sỹ Hải. Cái vụ mà anh bị mất đồ ở nhà khách Sứ quán ấy. Ai cũng nói là ông Hải. Nhưng không phải ông ấy lấy cắp đâu.

Có mấy người đến xem hàng, ông Cương lại bận bịu nhấc lên hạ xuống cái mũ, cái áo. Tôi hẹn ông gần trưa quay lại đi ăn cùng nhau rồi quay đi dạo chợ. Cậu bé cũng đang bận bán hàng, mũ lưới với áo gió. Cậu nói tiếng Ba Lan rất sõi. Tôi sang bên kia đường, thấy có mấy cửa hàng băng đĩa nhạc và sách trông khá to. Tôi muốn tìm mấy truyện tranh cho con mình và cho Dũng nhưng không có. Cuối cùng tôi mua quyển "Mały Książę" của nhà văn và phi công Pháp Antoine de Saint-Exupéry làm quà cho cậu bé vậy. Chắc nó đọc được tiếng Ba Lan, với lại trong truyện cũng nhiều hình, nhiều tranh mà. Có lúc tôi lại nhớ tới lời ông Cương nói là sắp trở về Việt Nam. Ông ấy còn mẹ già, cung như tôi, lại là con trai duy nhất. Thời gian trôi nhanh quá. Sang Ba Lan chẳng chịu ghi chép gì nữa như thời trước ấy. Quả thật tôi cũng không còn quan tâm đến những thứ bị mất năm xưa ở Alger nữa. Mấy năm ở Ba Lan còn mất bao nhiêu thứ. Mới năm ngoái chiếc Lada 2107 lúc đến chơi nhà Khánh ở ngoại ô, xuống đã mất toi.

9. HẠNH PHÚC

Lúc tôi quay lại chợ thấy hai bố con đã bán gần hết hàng, may thật. Chỉ còn một túi nhét các đồ còn lại thì ông bố khoác lên vai. Chúng tôi đi khỏi chợ lẻ tẻ thưa thớt người mua, người bán. Cậu bé tay cầm quyển truyện tôi tặng, tay kia kéo cái xe không trên buộc chiếc xe nhỏ hơn của cậu. Tự nhiên tôi nhớ tới hình ảnh cậu bé Gavroche trong truyện "Những người khốn khổ - Les Misérables" của văn hào Pháp Victor Hugo đọc hồi nào, cũng có đoạn đẩy cái xe lọc xọc trên đường gạch thành Paris.

Không hiểu sao từ đâu trong đầu tôi bỗng loé lên ý nghĩ là nếu có ai hỏi rằng trong giây phút này, trên trái đất này có những người nào là đang hạnh phúc nhất thì tôi sẽ không ngần ngại nói ngay đó là bố con ông bác sỹ tha hương này.

Trời mát, đường ngập tuyết, lặng gió. Một cảm giác bình yên ấm áp đến với tôi. Chúng tôi lên xe bus đi mấy bến rồi xuống, rẽ vào phố nhỏ có quán ăn Việt. Chủ quán người Việt tên là Sáu đi vắng, chỉ có hai cô Ba Lan làm, nấu và bưng bê. Ông Cương cười bảo: "Hôm nay trúng quả, bán sạch hàng, cho tôi mời anh nhé. Ở đây có món lèo xèo, thịt vịt sào trên đĩa sứ nóng, ăn được. Còn có mấy món Việt Nam nhưng làm lai tạp lắm, không bằng ở các quán Việt khác".

Chúng tôi gọi thêm mấy món Ba Lan và một chai Zubrowka. Cậu bé thì tự xoay xở với những món của mình, có khoai tây và đùi gà rán. Tôi cầm chai Vodka Ba Lan xoay xoay và hỏi bố con cậu:

- Cháu thử chút nhé, một chút, cho đàn ông..

Cậu bé im lặng còn ông bố nói:

- Cháu không, còn năm năm nữa cháu sẽ uống, mà không một chút đâu, cả cốc chú ạ. Cũng sẽ là Zubrowka. Lúc đó nếu chú đây ở Việt Nam thì mời cả chú. Tôi đã mua sẵn một chai dành cho nó ngày ấy đấy.

Ngày nào. Tôi không hiểu nhưng cũng không hỏi. Ngày riêng của hai bố con họ. Ai cũng có cái ngày riêng, rất riêng cho mình, cái mốc đợi chờ. Tôi thầm cảm ơn và hứa sẽ đến vào ngày ấy, kiểu gì cũng sẽ đến.

10. KẾT

Cái chai đã vơi quá nửa sau mấy lần rót, Chúng tôi uống rượu với thịt vịt xào, nói chuyện về chợ búa, về cuộc sống bà con mình ở Ba Lan. Tôi tránh không động đến gia cảnh, những chuyện tế nhị. Cái chai đã vơi quá nửa. Ông Cương bỗng rót thêm cho mình đầy tràn cả ra ngoài rồi, tự chạm vào cốc của tôi để trên bàn và nói sang chuyện bên Alger, chuyện bác sỹ Hải, chuyện cái hộp đồ bị mất cắp ở nhà khách sứ quán năm xưa ấy:

- Hôm nay cũng là thật tình cờ mà như cứ được sắp đặt ấy, một hội dân quê mang đồ thực phẩm của nhà trồng được lên bán xong có tiền mua sạch hàng của tôi. Họ thấy rẻ quá, sướng. Tôi đã gặp anh hồi ở Alger. Tôi nghe Hà nói về anh và mấy lần xem anh chơi bóng bàn ở Sứ quán. Anh không để ý nên không biết tôi.

Tôi đáp lại là cũng có nghe nói về cậu bé con một ông bác sỹ học rất giỏi trong trường Pháp ở Oran. Hôm nay lại gặp hai bố con ở đất Ba Lan này, thấy rất mừng cho ông.

- Tôi đã nói ở chợ với anh là ông Hải ấy không lấy đồ của anh hồi đó đâu. - Ông Cương hạ cốc rượu xuống trầm ngâm - Còn cái chai đạm ấy họ phát không, thuộc loại không có mác giá mà. Có điều cứ theo luật là hàng cấm mang ra khỏi nước họ, cũng như một số thuốc kháng sinh ấy. Anh em mình không để ý, cứ mang ra. Nhiều khi họ cho qua, nhiều khi họ phát hiện thì tịch thu thôi. Lần này chỉ có hai chai, lại đúng lúc có thanh tra xuống. Không may họ phát hiện ra rồi coi là hàng không có mac, giá, coi như ăn cắp thế là ông Hải bị đưa đi giam, chờ ra toà. Sứ quán có nhờ tôi đến giúp ông ấy. Tôi và mấy anh em bác sỹ có chuyển hành lý đồ đạc của ông ấy về nhà, cũng chỉ có cái valy và túi đeo, cái cặp. Không có cái thùng của người khác nào đâu.

- Lúc đó cũng tiếc anh a. Rồi bây giờ thì qua rồi. Trong đó cũng chẳng có đồ gì giá trị. Có quà của chồng cô Hà gửi sang thì cũng chỉ là gói bột sắn và tôm khô thôi. Lúc đầu cũng nghĩ ai đó lấy nhầm không dùng được thì sẽ trả vì toàn những sách, giấy tờ và ảnh thôi. Nghe nói mất hơn tháng sau ông Hải sau được thả. Tội ông ấy thật. - Tôi bỗng dừng lại, thấy thương ông bác sỹ đó quá. Hồi đó ở Sứ quán ai cũng nói ông Hải ăn cắp của tôi nên bị phạt. Nhân quả mới sợ chứ. Chuyện gia đình cũng từ đó mà tan.

- Cũng nhiều bi kịch cuộc sống lắm anh ạ. Có đi mới biết - Ông Cương rót rượu cho tôi - Uống đi anh, nào, chúc sức khoẻ. Còn có được sức khoẻ là tốt rồi để còn bươn trải trong cái thế giới đầy biến động này. Ở đâu thì cũng cần đôi bàn tay và cái đầu để làm, để kiếm sống.

- Thật. Những năm tháng ở Bắc Phi cát bụi, những năm tháng tiếp ở Châu Âu gió tuyết này là nhà trường lớn nhất cho chúng ta - Tôi nhấp một ngụm rượu và nhìn sang cháu - Và cho các anh bạn trẻ này. Sẽ chẳng có gì phải sợ nữa. Mọi thứ trong tay mình - Tôi nói xong vỗ vào vai cậu bé.

- Cháu cảm ơn chú. - Cậu bé nói và nhìn tôi, đôi mắt nghiêm nghị.

Tôi và bố cậu bé uống hết chai rượu rồi chia tay. Lúc chờ xe bus ông Cương nói:

- Bao giờ về nước anh gặp Hà nhé. Có thể cô ấy sẽ nói cho anh biết ai đã lấy cắp gói đồ. Nó chưa ra khỏi nhà khách hôm ấy được. Bị lạc hướng. Mọi người đều chú ý đến khả năng có ai đó xách ra cổng đi mất và trùng hợp luôn với ông Hải ra lúc đó. Cũng có thể có ai đó đi vào, thấy còn xách hộ theo rồi không rẽ vào phòng khách mà tiện cầu thang lên ngay tầng hai.

- Tầng hai là các phòng ở của nhân viên. - Tôi ngẩn người.

- Khi anh Hải ra taxi thì gặp người đó.

Xe bus đến, người xuống đông. Ông Cương nắm chặt tay tôi nói: " Hẹn gặp anh ở Việt Nam. Có thể bố con tôi về sớm hơn đấy, chỉ cuối tháng thôi. Bà nội cháu đang ốm. Bà ở với cô em tôi. Nhà chỉ có hai anh em ".

Tôi vỗ vào vai cậu bé vừa đẩy nó lên xe, vẫy chào hai bố con, chờ xe đi rồi quay lại. Tôi không lên xe bus để về mà lững thững đi dạo trên phố tuyết, dọc bờ sông. Mặt nước phẳng lặng băng tuyết. Sẽ đến lúc chia tay tuyết đấy - Tôi như lẩm bẩm một mình - Đi lâu quá rồi, mẹ ở với chị gái. Nhà chỉ có hai chị em.

Bờ sông cũng phủ đầy tuyết, không có những con thiên nga trắng như trên sông Visla ở Cracow gần nhà tôi. Mùa đông thấy chúng hay gục mỏ ngủ trên băng. Đường bờ sông có chỗ nhấp nhô. Nghiêng nghiêng dưới ụ tuyết lộ ra một vệt xanh cây. Tôi lại gần và ngỡ ngàng, có bông hoa nhú lên, bông Snowdrop, cũng màu trắng như một bông tuyết. Lá cây thì xanh.

MÙA HÈ CHAO XOAY

Ở góc chợ có treo  bùa hình nộm

Ánh mắt bà già ngăn bước chân ta:

"Ông hãy mua đi

Về cắm kim vào đây mấy chỗ

Miệng niệm thầm- em nhé của anh

Rồi điều diệu kỳ sẽ đến”.

 

Không! Ta cảm ơn, lắc đầu khất lỗi

Kim đau em, ta chẳng muốn chút nào

Chỉ mỗi khi chao mình

Trong vòng quay luân vũ

Ta lại niệm thầm- em nhé, của anh 

1. QUYẾT ĐỊNH HÈ

Mùa hè ngày lâu hơn gấp ba bốn lần mùa đông, thành phố Kharkov như vắng hẳn. Các sinh viên, nghiên cứu sinh về nước hay đi nước ngoài kết hợp đi buôn kiếm tiền. Ký túc xá nghiên cứu sinh cũng chỉ còn mỗi Tùng. Nhìn xuống dưới sân vắng ngắt. Một buổi tối lững thững đi dạo dưới sân trước anh nghĩ lại ba lý do hè không về nước thăm gia đình.

Đầu tiên có lẽ là sự mạo hiểm. Đã chắc gì về mà sang lại được rồi mọi nghiên cứu lại dở dang. Khi anh đi nghiên cứu sinh bị đình lại ở phút chót cũng bởi một lá thư nặc danh là thầy giáo quyến rũ sinh viên nữ. Một tuần sau yên đi anh mới được gọi cho đi. Cảm giác đi cứ như lén lút khiến anh buồn mãi. Bây giờ dù nghe nói Chi sắp lấy chồng, chuyện cũ đã qua nhưng chắc gì không có lá thư nặc danh khác.

Sau nữa là Tùng muốn tranh thủ mùa hè thực hiện nốt phần tính tóan. Trung tâm máy tính của trường với chiếc máy tính đồ sộ chiếm hết một tòa nhà. Trong năm học các chương trình mọi người mang đến phải đặt xếp hàng để đánh máy vào các bìa đục lỗ rồi các chồng bìa đó lại phải xếp hàng chuyển cho máy đọc. Xếp hàng là một điều quen thuộc nếu không nói là truyền thống ở đây. Tuy nhiên hè thì lại vắng, mọi người đi nghỉ nên anh quyết định tranh thủ cơ hội đó để thực hiện các chương trình máy tính đã viết.

Cuối cùng là khi đi vội vã và kín đáo nên ngòai túi xách đựng mấy đồ thiết yếu anh cũng không có hành lý hàng họ gì. Sang đây với số học bổng ít ỏi và giá cả leo thang của xã hội Soviet trì trệ này anh cũng không có tiền để mua quà, thuốc hay hàng gửi về nhà cho bố mẹ. Anh quyết định tranh thủ tháng hè đi lao động kiếm tiền.

2. CƠ NHỠ TRONG XÍ NGHIỆP

Đất nước Soviet to lớn với một nền công nghiệp công kềnh, cũ kỹ luôn thiếu lao động thô sơ. Khắp nơi treo biển cần người làm việc. Tùng chọn ngay cái xí nghiệp gần trường nhất, xí nghiệp dược. Đứng chờ ở phòng bảo vệ một lúc thì có một ông đầu hói ra gặp anh vỗ vai, ngắm nghía trước sau rồi nói: “ Được, về với tớ, đội bốc vác, lương công nhật cao “.

Xí nghiệp dược cũng nhỏ. Ở đây chủ yếu là phụ nữ. Đội bốc vác có bẩy cậu, thêm Tùng là tám. Tùng làm quen thân rất nhanh với mọi người trong đội qua chai Vodka, mấy quả dưa chuột muối và miếng bánh mì của cậu đội trưởng. Tùng khá to cao, cũng còn hơn cả mấy cậu Tây trong đội. Họ lên ô tô tải đi xa đến nhà kho tận ngọai ô thành phố bốc các bao tải nguyên liệu về rồi chất vào kho. Anh nào anh ấy miệng cũng sặc mùi rượu chua. Lúc xe đỗ Tùng tranh thủ chạy mua thêm rượu bánh mì, giò, dưa chuột để làm lễ ra mắt buổi trưa. Buổi trưa mỗi người chọn một chỗ trong nhà kho. Do uống rượu và bê vác đã mệt Tùng ngủ say đến lúc được gọi bật dậy để làm chiều, đi bê dọn sắt thép. Có điều anh bỗng cảm giác có cái gì khác, hẫng hụt. Tùng bỗng sờ các túi, rồi nói đi vệ sinh và chạy lại nhà kho, ngẩn người ra tìm quanh. Chiếc ví tiền còn mấy chục Rup, có cái vé tầu tháng tầu điện và cái ảnh chụp chung với Chi đã mất từ hồi nào. Anh nhớ mình đã cho vào túi ngực và cài cúc cẩn thận rồi, lúc vào hiệu mua đồ ăn thì đi cùng Vanhia. Con mắt tay này nhìn anh có cái gì là lạ khi đó.

Chiều hôm đó Tùng đi bộ về. Trong túi không còn đồng nào mua vé để đi tàu điện nữa. Có chiếc xe bus đi qua. Một bàn tay vẫy anh. Một đôi mắt biếc. Một nụ cười thân quen. Hôm nay anh đã nhìn thấy cô nàng này trong sân nhà máy, trong cái áo blouse trắng với đôi chân đẹp tuyệt. Anh bỗng thấy cái thành phố này thân quen quá. Nó cơ nhỡ cũng như anh. Có người cơ nhỡ, sẽ có người cảm thương. Người cơ nhỡ có thương nhau không nhỉ. Anh thì có và thấy mình cũng lạ. Cũng không trách ghét gì Vanhia cả. Một phần tại mình không cẩn thận thôi. “ Người tốt là người không cơ nhỡ, không cần, không có cơ hội hoặc quá bận để làm điều xấu mà “. Hồi còn sinh viên Vova sống cùng hay nói vậy. Có thể nó có lý. Hình như Vova đi làm tận Viễn Đông sau khi tốt nghiệp rồi.

Tối hôm đó Tùng ăn tạm hộp mì sợi nấu suông với cà chua. Xong rồi anh lấy chương trình máy tính ra và xem lại cái vòng lặp trong đó. Thuật tóan có gì không ổn định. Tâm trí anh lại dành hết vào chuyên môn. “Người ta sống không băn khoăn, buồn lo vì không có cơ hội hoặc quá bận để dành cho những cái băn khoăn buồn lo đó“. Anh sực nhớ đến bài giảng của thầy dạy môn vật lý khi nhắc đến công thức của một nhà bác học Thụy Sỹ với câu nói: “Tôi tự hào là công dân của đất nước nhỏ bé để không làm ra những ngu ngốc lớn“.

3. MỘT TUẦN QUA

Một tuần làm việc tuần trôi qua trong xí nghiệp cũng nhanh. Anh cũng không để ý đến cậu Vanhia nữa, coi như không có chuyện gì. Anh nói dối là sinh viên thôi chứ không lộ ra là nghiên cứu sinh và phần nào cũng được mọi người trong đội kính trọng. Tất cả trừ ông đội trưởng không gọi anh là Tùng mà gọi là ông sinh viên. Sasa phát hiện ra là cái cô dược sỹ ở tầng hai rất hay ra tựa cửa sổ nhìn xuống sân, xuống Tùng khi ô tô đến dỡ hay khuân hàng. Thế là họ thông qua rất nhanh ý kiến cử Tùng lên xin cô gái cồn về pha uống cho đỡ rượu và nhiều việc bốc vác họ sẽ làm hộ phần ông sinh viên. Cái đó Tùng làm không khó. Cô gái tên là Liuba, cái cô nhìn anh từ xe bus ấy.

Công việc của đội khuân vác cũng có tùy lúc. Nếu không ra kho xa bốc hàng, nguyên liệu về thì công việc chính cũng chỉ là dọn dẹp chỗ nọ ra chỗ kia, chuyển đồ từ xưởng nọ sang xưởng kia và dỡ hàng từ ô tô vào kho trong xí nghịệp hay xếp các kiện thuốc vào các conteiner. Trong những lúc rỗi không có việc thì cả đội ngồi chờ trong phòng. Tùng thì hay đọc truyện còn mấy cậu thì tán gẫu, ngủ, hút thuốc và chơi cờ. Đội trưởng Valerie thì luôn chúi đầu vào tờ báo “ Bóng đá “ và bình luận tin tức với Sasa.

Đột nhiên một buổi trưa đầu tuần có tin ban thanh tra xí nghiệp vùng xuống kiểm tra. Ông đội trưởng lại vắng vì lý do đi thi. Chẳng là ông đang theo học một lớp Đại học Tại chức về luật. Sasa thay ông ta cùng mọi người bỏ giờ nghỉ trưa đi thu dọn gấp những đống gỗ, hòm, sắt thép ở sân cho nó đỡ chướng. Trừ Tùng ra còn ngay cả Sasa cũng nồng nặc mùi rượu. Nhìn cảnh Vanhia vác cái hòm gỗ vừa đi vừa múa như trong phim của hề Charle chị em chạy hết ra các cửa sổ đứng xem, cười ngặt nghẽo. Tùng càng thấm thía câu tiếu lâm “Người Do thái khuân vác“ mà anh được nghe lúc mới đến học ở thành phố Kharkov này năm xưa.

4. NGƯỜI DO THÁI

Thành phố Kharkov rất nhiều người Do Thái. Trong tiểu thuyết “ Thép đã tôi thế đấy “ nổi tiếng một thời nhà văn Nicolai Ostrovski đã kể về trận càn Do thái ở thành phố này. Trong đội khuân vác mọi người rất hay chửi bậy, nói tục và một trong những câu chửi thường trực của họ là “ Đồ Do Thái “. Với những người ít học, lao động chân tay kiếm sống thì hình ảnh Do Thái gợi lên những ghen ghét đố kỵ. Dân Do Thái đi đâu họ cũng dựa vào trí thông minh, tính tóan và đặt ra mục tiêu, thích làm những việc nhẹ nhàng trí óc mà mang lại nhiều lợi lộc nên bị người ta ghét. Nghe những câu chửi đó anh có chút chạnh lòng. Các thầy giáo của anh nhiều người gốc Do Thái.

Trước hè anh tình cờ gặp giáo sư Steivolf trong lúc đi dạo ở vườn hoa trong trường. Ông là người đã dậy anh thời sinh viên năm thứ ba. Người thầy gốc Do Thái khuyên Tùng mỗi ngày viết một trang. Viết gì cũng được, càng có yếu tố ngẫu nhiên nhiều càng tốt, một cách học, một cách Thiền, một thói quen của một dân tộc kỳ diệu. Sau một tháng bỏ một ngày xem lại, vứt đi gần hết, giữ lại hai trang thôi. Cái đọng lại sẽ là kho báu tri thức của riêng mình. Giáo sư cũng nói về cách biến mọi thứ phức tạp về đơn giản bằng cách quy mọi thứ về ba điều và việc học sẽ tự nhiên như nó đúng ra phải như vậy, tự nhiên như hơi thở. Bằng cách đó sau hai ba năm sẽ có được một cái tương đương một luận án Phó Tiến sỹ. Tùng đã cố gắng làm theo lời khuyên của Giáo sư. Chắc là hôm nay anh sẽ viết được hai trang ba ý về trí tuệ và cơ bắp. Mỗi dân tộc, mỗi con người có một cách tồn tại khác nhau. Dân Zigan ngược lại với dân Do Thái thì lại không có chữ viết, không cần. Họ tồn tại qua các bài ca, điệu nhảy, lòng tin và tôn giáo. Nhiều người lao động ở Liên Xô tồn tại qua rượu. Rượu làm người ta quên đi những lo âu trăn trở trong cuộc cuộc sống, những câu hỏi cho tương lai, làm người ta dễ gần nhau hơn, dễ bỏ qua cho nhau.

5. LIUBA

Tùng cũng lúi húi khuân dọn và có cảm giác là đôi mắt của Liuba từ trên cửa sổ đang dõi nhìn anh. Bỗng dưng có chiếc Lada màu đỏ phóng vụt đến và một người trẻ tuổi bước ra. Ông kỹ sư phó giám đốc kỹ thuật. Ông ta ngắn gọn đưa ra các mệnh lệnh cho đội khuân vác để không bê chỗ nọ ra chỗ kia rồi bê chỗ kia ra chỗ nọ lại nữa. Chỗ nào vẫn để nguyên đấy và chỉ xếp lại cho gọn vào rồi dồn cả đội khuân vác kiêm nghệ sỹ xiếc đó lên tầng thượng, nhốt lại cho khuất mắt đòan kiểm tra. Ông trưởng phòng tổ chức giới thiệu Tùng. Ông phó giám đốc bắt tay anh và nói: “ Chào anh bạn Việt Nam, tôi cũng tốt nghiệp KPI (viết tắt của Đại học Bách khoa Kharkov), bảo trọng nhé và đứng đây chờ nhé “, rồi bỏ đi lo đối phó với đòan thanh tra sắp đến. Một lát ông trưởng phòng tổ chức quay lại đến tìm Tùng, dẫn anh lên kho sản phẩm dược ở trên gác và nói: ” Từ hôm nay anh sẽ ở đây do cô này phụ trách. Giúp họ xếp các hộp thuốc theo ô, theo lọai và thả theo máng xuống các xe nhận thuốc. Tiền lương vẫn thế “. Cô này chính lại là cái cô Liuba.

Liuba đến từ Lvov, miền Tây Ucraina giáp Ba lan. Các cô gái ở vùng đó lại nhỏ nhắn xinh đẹp chứ không như người Nga, nhiều cô to cao. Tất nhiên cô Nga nào mà đẹp thì rõ đẹp. Liuba đứng chỉ đến vai Tùng. Mái tóc vàng bồng bềnh với đôi mắt biếc, má bầu, các đường cong rõ như các cô nàng trong chuyện cổ tích xưa. Tùng làm thân rất nhanh với các chị em ở xưởng dược trên đó và vẫn duy trì được lượng cồn cung cấp cho đội khuân vác của mình. Liuba mỗi ngày rót cho anh một lọ con để đưa cho Sasa. Cô gái nói:

- Hồi xưa nước Nga hoang dã mê muội lắm anh ạ. Đến vua Pie Đệ nhất thì mới khác đi. Vua quyết định cho người đi sang Tây Âu học hỏi và bắt chước. Có người về bảo ở Tây ban nha trong cung đình họ uống cafe mang từ châu Mỹ về. Thế là vua cho mua cafe từ xứ sở bò tót mang về xay pha đun nấu rồi bắt mọi người uống từng vại cái nước đen đó, lại không có cho đường. Đắng mà ai cũng phải khen ngon, không được kêu và sau đó vua quan đều mất ngủ. Còn nữa, thấy họ chê người Nga ăn tỏi nhiều quá, hôi ming. Thế là vua họp triều cho một người đứng ngửi miệng các quan. Ai có mùi tỏi bị phạt nặng. Rồi thấy bảo trong triều đình Tây Âu các quý bà mặc váy dài một mét quét đất, vua bắt dự triều các quý bà phải mặc váy dài hai mét. Kỷ lục là mười mét đấy. Riêng nghe thấy nói là ở phương Tây họ chê người Nga uống rượu say bét nhè thì vua lờ đi.

- Anh cũng đi nhiều nơi ở nước Nga và cả ở những nước cộng hòa của Liên bang và thấy nhiều dấu ấn của vua Pie. Nhưng kính phục nhất chiến thắng của vua trước Thụy điển để nước Nga có được cửa ngõ ra biển Bắc và sau đó là chiến thắng quân Thổ ở Crimea để có được cửa ngõ ra Địa Trung Hải, để nước Nga thông thương với thế giới văn minh.

- Vua còn bắt các quan lại, quý tộc học nhảy Valse để có những dạ hội cung đình xa hoa anh ạ. À anh có thích nhảy Valse không. Cuối năm có nhiều dạ hội khiêu vũ các nhà máy chúng mình đến chơi nhảy Valse nhé.

- Ký túc xá của anh tối thứ bảy, chủ nhật nào cũng nhảy Disco, nhún nhảy theo nhịp mà. Anh cũng xuống chơi vui, cũng chỉ biết lắc lư thế này.- Tùng rời cái xe đẩy và nhấc một chân lên nhún nhảy, lắc vai. Một lúc anh lại giơ chân lảo đảo bắt chước điệu nhảy hề Charle của đội bốc vác say rượu hôm nọ, cái điệu nhảy mà nhờ nó anh được lên đây, làm nhàn lại gần cái cô gái xinh đẹp này.

6. VỀ VALSE

Liuba sung sướng cười vỗ tay. Má cô ửng hồng, mắt long lanh. Cô gái nói:

-Em cũng thích Disco, nhưng Valse nó khác lắm. Nhảy xong nhớ mãi, nhớ giai điệu, nhớ người. Chiều nay không phải ngày xuất thuốc. Lúc rỗi mình ra góc vắng này em dạy anh nhé, ba bước quay tiến hết nửa vòng, ba bước nữa quay lùi là xong một vòng quay.

Và buổi chiều trong góc nhà, sau các hàng chồng thùng thuốc dán mark Penecillin, Filatov là đôi trai gái đang trốn vào học Valse. Trong phòng còn một phụ nữ trung niên nhưng bà ta hiền lành và đối với Liuba rất chiều. Lúc rỗi việc bà hay ngồi đọc truyện. Nghe Sasa nói bà xưa là cô giáo bị sa thải.

- Anh nghe nhé. - Liuba bắt Tùng ngồi và đi lại khoa tay, dáng rất nghiêm túc - Đầu tiên là vũ điệu Valse Vienne này thịnh hành ở Áo Hung cùng với các bản nhạc nổi tiếng của Strauss mà anh chắc nghe rồi ……Từ "Valse" trong tiếng Đức cổ nghĩa là "uốn chao", "xoay" hoặc "lướt đi", là một điệu nhảy cổ điển theo nhịp ba bốn. Đến cuối thế kỷ mười tám, điệu nhảy này mới được tầng lớp quý tộc châu Âu chấp nhận dù có gặp sự chống đối của các vũ sư chuyên nghiệp. Các ông thầy dậy nhảy nhận thấy sự đe doạ của nó đối với nghề nghiệp của họ; vì nó qua đơn giản chỉ có quay một hai ba rất dễ học và vui chơi không như các điệu nhảy quý tộc khác có quá nhiều bước lẫn việc thay đổi khoảng cách và cách di chuyển của người nhảy. Có ít bước thế thì làm sao kiếm được tiền. Họ lấy cớ là Valse xét trên phương diện đạo đức thì không đứng đắn vì hai người cứ ôm nhau mãi không rời. Tất nhiên họ thua vì như thế thì nhiều người càng thích kể cả nữ hòang Victoria nước Anh.

7. HỌC VALSE

Liuba chắp hai tay sau lưng, điệu bộ nói tiếp:

- Nhảy Valse thì bước tiến là quan trọng nhất. Cũng rất dễ, chỉ là chuyển động quay của hai người như một vật rắn và đồng thời tịnh tiến theo phương của đường thẳng. Nhưng nhảy đẹp, cao sang có chao bay lứớt theo giai điệu nhạc đó lại là điều không dễ chút nào. Có nhiều cách thực hiện hai chuyển động cơ bản quay và tịnh tiến đó nhưng dễ nhất đó là tách riêng chúng ra. Khi quay thì không tịnh tiến, khi tịnh tiến thì không quay và chập hai chân lại ở bước cuối. Kiểu này thì nhàn và dễ nhảy chỗ đông người với quay là chính, tịnh tiến ngắn thôi theo đường nhảy.

 Cô nàng nói say sưa về Valse còn cậu học trò thì đần ra ngắm cô. Cô bắt đầu dướn người đếm nhịp và quay. Mỗi lúc cô nàng quay dướn lên chiếc blouse trắng lại bung vạt ra khoe thêm một chút đùi tròn trắng nuột. Thế rồi cũng đến lúc Tùng phải đứng dậy làm theo lời cô gái:

 - Nhảy Valse thì bước tiến là quan trọng nhất. Cũng rất dễ, chỉ là chuyển động quay của hai người như một vật rắn và đồng thời tịnh tiến theo phương của đường nhảy. Đường nhảy là những vòng tròn bán kính khác nhau tùy tình huống cụ thể nhưng nếu chỗ rộng thì đó là đường thẳng. Chỉ quay và tịnh tiến nhưng nhảy đẹp, cao sang có chao bay lứớt theo giai điệu nhạc đó lại là điều không dễ chút nào. Có nhiều cách thực hiện hai chuyển động đó nhưng dễ nhất đó là tách riêng chúng ra. Khi quay thì không tịnh tiến, khi tịnh tiến thì không quay và chập hai chân lại ở bước cuối. Kiểu này thì nhàn và dễ nhảy chỗ đông người. Lúc đó quay là chính, tịnh tiến ngắn thôi theo đường nhảy.

Cô nàng nói say sưa về Valse còn cậu học trò thì đần ra ngắm cô. Cô bắt đầu dướn người đếm nhịp và quay. Mỗi lúc cô nàng quay dướn lên chiếc blouse trắng lại bung vạt ra khoe thêm một chút đùi tròn trắng nuột. Thế rồi cũng đến lúc Tùng phải đứng dậy làm theo lời cô gái:

- Đứng thẳng, vươn thân, đầu gối hơi chùng. Tay phải thế này, sau lưng em, chỗ này, áp vào anh. Tay trái cầm tay phải em, co lại khi đông người còn vắng duỗi ra nhé. Đừng nắm chặt thế em đau. Nói chung phải linh họat. Đầu tiên là giũ được thăng bằng trên chân trụ đã, kệ nhạc. Khiêu vũ là nghệ thuật thăng bằng trên một chân mà và chỉ cần lệch thân đi mượn cái sức hút của trái đất làm mất thăng bằng để tạo chuyển động rồi thiết lập trang thái thăng bằng mới- Liuba lại gỡ buông tay Tùng rồi đi lại quanh ngắm nghía anh - Anh cứ đứng thế nhé nhìn vào tường và sẽ chuyển động theo đường nhảy song song với tường. Nghe xình thì nghiêng xoay người theo chiều thuận để trọng tâm cơ thể là rốn rơi xuống lòng bàn chân trái tạo trạng thái thăng bằng trên cái trụ chân trái đỡ toàn thân đồng thời gót chân phải bám sàn rê trượt lên một cách tự nhiên. Tiếp theo đẩy phần thân cùng chân trái lên thả treo bên chân phải và bước chân phải xoay vòng chuyển từ gót sang mũi, đồng thời mượn đà thân trượt văng duỗi cạnh trong bàn chân trái theo đường nhảy. Cái “chat“ cuối là chuyển hết trọng tâm về chân trái và chập chân phải về làm trụ cho chân trái tự do để thực hiện tiếp bước xoay lùi.

Bước tiến rất quan trọng anh ạ vì người tiến ở vòng ngoài nên có trượt cho bước dài hơn người lùi. Bước lùi thì ngược lại, bước ngắn thôi. Tùng chăm chú nhìn chuyển động của Liuba rối nhắm mắt hình dung trong đầu. Anh bảo cô gái làm lại. Khoảng mấy lần chuyển động trong tâm thức đã trùng với cái có thực, anh đứng lên và làm thử được luôn. Liuba sướng quá nhẩy cẫng lên kêu: “Mẹ ơi, con gặp được thiên tài“.

Tiến thế ổn rồi. Liuba tiếp tục. Cô bắt đầu vội để còn kịp kết nối, để có trong vòng tay người con trai Việt Nam hiền lạ này. Cô nói:

- Sang bước lùi thì ngược lại anh nhé. Xoay xong hết ở phách một trên mũi chân trái, sang phách hai đặt chân phải gần hơn và không cần trượt như lúc tiến vì chân người tiến là ở ngoài, lùi ở trong. Cái chat“ cuối là chuyển chập bàn chân trái về cạnh bàn chân phải.

Tùng lại chăm chú nhìn chuyển động của Liuba rối nhắm mắt hình dung trong đầu.

8. KÝ ỨC

Đến cuối giờ họ đã ôm nhau đi Valse và rồi trong vòng tay Tùng cô gái Ucraina đã không còn phải đếm “a đin, đờ va, tờ ri (một hai ba - Tiếng Nga)" nữa“. Em hát. Giai điệu Valse thường có trong các bài ca Nga, Ucraina. Các bài ca đó thường là buồn man mác như cảnh thiên nhiên đồi núi của đất nước Ucraina này, mong manh như tình yêu vậy.  

    ....Vì sao thế liễu xanh ơi

     Bên dòng vắng cứ âm thầm

     Phải chăng có cây thông kia

     Xuống đứng bên liễu hết buồn

     Mà thông có biết cho đâu

     Mặc cứ đứng giữa lưng đồi

     Dù sỏi đá hay bão giông

     Thông vẫn reo với mây trời...

      Và khi bài ca ngừng, hai người còn đứng mãi. Liuba áp đầu vào ngực anh. Tùng buông tay cô gái để vòng ra sau lưng cô. Anh cúi xuống hôn nhẹ vào mái tóc vàng, hít thở mùi tóc của người con gái xứ Âu. Liuba ngảng đầu nhắm mắt đợi chờ.

      Năm tháng sẽ qua đi, họ sẽ không gặp lại nhau nữa, sẽ già đi, sẽ có con có cháu, nhưng điệu Valse và cái hôn do Valse ấy sẽ mãi là một kỷ niệm đẹp nhất trong cuộc đời họ.

Còn Tùng sau này cũng không hề kể gì cho ai, về cô gái có tên là Tình Yêu đó (Liuba - tiếng Nga là Tình Yêu), về điệu Valse Vienne học được, về những buổi hay người đi dạ hội va nhảy Valse. Có lúc mỗi mình ở trong phòng hay nơi vắng anh lại nhớ Valse. Anh lại đứng, lại quay Valse một mình như hôm nào ấy, lại vẫn có cảm giác xưa, không mất.

9. MỘT CÂU ĐÙA

Năm tháng trôi qua, nhiều thứ thay đổi, con người cũng vậy. Ở Hà Nội bây giờ cũng nhiều người đi khiêu vũ, nhảy cả Valse nữa, cách nhảy cũng khác xưa. Những hôm hè trời nóng các câu lạc bộ khiêu vũ thường đông nghịt người. Ngày chủ nhật đôi khi Tùng cũng tiện ghé vào câu lạc bộ khiêu vũ tìm bàn trống góc khuất ngồi uống nước, vừa trốn cái nóng hầm hập, vừa nghe nhạc, xem mọi người khiêu vũ.

Cứ đến nhạc Valse nổi lên lại người đàn ông ngồi góc khuất xa ấy lại đứng lên lững thững bước ra sàn và một mình lại xoay, lướt, chập bồng bềnh theo giai điệu ba bốn ấy, lại như không để ý đến ai, miệng hơi mấp máy. Cũng ít ai để ý đến ai, đông quá, mọi người còn lo len lỏi tránh nhau. Chắc rằng anh ta đang học và đếm nhịp, ai đó nghĩ vậy. Cũng có người nhìn thấy bước Valse nhẹ bay của anh thì nghĩ là anh này vừa nhảy vừa hát. Có lẽ họ có lý. Không có ai biết rằng khi đông người nhất, len lỏi lo tránh nhau anh ấy lại mấp máy môi gọi ai. Một câu tiếng Nga: "Liuba - Anh yêu em".

Lúc đó Tùng như thấy mình lại đang ở buổi dạ hội Valse năm xưa. Cứ khi lướt chao dẫn Liuba anh quay đi vờ tìm hướng và lại buông câu đó như trong truyện ngắn "Một Câu Đùa" của nhà văn Nga Chekhov vậy.

Và kết thúc truyện của Tùng thì cũng như trong truyện của nhà văn Nga ấy thôi. Chuyện ấy đã qua lâu rồi. Liuba đã có chồng.... - điều ấy cũng chẳng có gì đáng bận tâm.... Nhưng kỷ niệm về giai điệu Valse, tiếng nhạc rộn ràng lúc ấy đem đến cho nàng những tiếng thổ lộ: "Liuba! anh yêu em!" thì nàng không quên được. Với nàng, cũng như với anh thôi, anh nghĩ, điều ấy đã trở thành kỷ niệm hạnh phúc nhất, xúc động nhất, đẹp nhất trong đời...

VÔ HỒN

Kìa hai thứ trong đời đeo bám

Có thôi đi để lại chút bình an

Cái nỗi sợ - trên đầu ta khoảng trống

Và nỗi kinh hoàng - khoảng trống nữa trong tâm 

1.      TRÂM

Luýnh quýnh thế nào mà Trâm trượt chân ở cầu thang sáng nay và dẫm lên con Bonmi nằm ở bậc cầu thang. Cũng may cô kịp với vào tay vịn rồi mới buông ra nên ngã không đau. Chiếc Iphone vẫn giứ được ở tay kia, âm thanh như lại to lên rõ rệt: " Được rồi, chiều nay đến sớm tập lại bước Spot Turn nhé...". Nhưng Trâm không nghe thấy gì nữa. Con mèo Tây nhỏ giống Scottish tai cụp lông màu ghi có sọc xám bị dẫm nảy lên như một quả bóng, kêu một tiếng khô nghẹn, rơi xuống giãy mấy cái, rồi nằm yên, miệng sùi máu. Trâm lồm cồm quay lại rên rỉ kêu. Con mèo vẫn thở. Cô ngồi phệt xuống bậc cầu thang gọi đến Bệnh viện chó mèo. Họ bảo là phải mang mèo đến cho họ. Trong xe taxi Trâm vừa vuốt ve con mèo đang nằm yên thở vừa nói: "Cho xin lỗi nào, Bonmi. Không sao đâu, con sẽ khoẻ mà". Thấy con mèo hé mắt nhìn, cô cũng bình tâm hơn. Trâm gọi điện đến công ty nói ốm nghỉ rồi lấy gương ra soi. Những giọt nước mắt đã khô, gò má trái có vết bầm tím nhẹ. Cô phớt lại chút kem lên má và thêm chút son môi, tự nhủ: "Không sao mà. Bonmi sẽ khỏi. Cũng may mà mình không ngã gẫy chân nữa, may thật. Chiều nay lại phải tập các kỹ thuật quay, đẩy hông, vuốt chân rồi".

2.      HẬU

Chiếc Mazda trắng dừng lại trong sân Bệnh viện chó mèo. Một con chó được thả xuống. Một người đàn ông trong chiếc áo phông màu cam cầm một quyển sách và chiếc Iphone bước xuống ra ngồi ở ghế vườn bệnh viện ngắm cái bể xi măng hình con thuyền thả bèo có những con cá vàng to bơi lượn. Con chó Tây giống Bichon Frise như một cây nấm trắng với bộ lông hai lớp xoăn và mềm mại như lụa chạy quanh quẩn các gốc cây, hít hít như tìm kiếm vật gì, chẳng để ý đến chủ. Còn sớm. Anh chờ cô bác sỹ quen người Pháp đến khám và tiêm cho con Paublo này. Vợ anh đã gọi điện cho Lucia dặn dò và tán gẫu về mọi chuyện đàn bà, về Paublo rồi. Cô vợ đang đi Thái Lan cùng hội bạn trong công ty bán hàng đa cấp rồi sang Úc luôn với cô con gái vừa đẻ bé gái đầu lòng. Hậu mới nghỉ hưu. Trước đó anh là giám đốc ban quản lý dự án xây dựng ở một tỉnh phía Bắc. Từ tuần này trở đi anh là người về giữ nhà thay vợ. Hôm nay mang con chó cưng của vợ đi khám, chải lông và tắm định kỳ. Có quyển truyện đọc dở cách đây hơn chục năm anh mang theo đọc tiếp. Đã chục năm rồi không sờ tới quyển truyện nào dù là mỏng, không đi xem một bộ phim nào thực sự. Mọi thứ đều vội vã như những cái bắt tay, những bài phát biểu, những ký kết hợp đồng, lẫn hết. Lẫn cả như những lúc làm chuyện ấy, lẫn các em, khuôn mặt, cơ thể, những nhà nghỉ, bãi biển, những cơn say nắng nhạt...

Con Paublo bỗng chạy lại chân anh. Hậu gấp quyển truyện, ngẩng lên. Một người đàn bà ôm cái giỏ đựng con mèo bước vào. Có gì bất chợt nhỉ hôm nay, bây giờ, lúc này. Những ngày mưa dài đầu Thu đã hết như chưa từng có. Một ngày nắng vàng rung rinh và người đàn bà đó xuất hiện, chuyển động như một cơn gió lạc thoảng qua thinh lặng, khẽ khàng khuất sau cách cửa phòng khám, cứ như không có sự tồn tại của Hậu. Anh chợt nhớ tới những hình ảnh như cảnh phim thoáng qua. Mới tuần trước, giờ này anh mới từ xe bước lên phòng, chào hỏi các nhân viên của mình rồi bước vào phòng giám đốc. Bây giờ thì trong phòng, trên cái ghế đó là một người khác, do trên bổ nhiệm về. Trước đó cậu ta cũng là giám đốc một công ty con khác đã bị sát nhập. Nghe nói chạy về đây cũng tốn kém. Ai đó còn nói cậu này sành gái lắm. Các em chân dài trong công ty của cậu trông sạch nước cản đã lần lượt được phục vụ giám đốc và tiếp các tour khách quan trọng. Về đây thì không cần. Cái đó do bên B lo chiêu đãi. Anh ở bên A, lại là sếp nên luôn được chăm sóc đặc biệt ở những khu nhà nghỉ, khách sạn, những resot sang trọng với những em chân dài cao cấp dành cho VIF.

Tất cả những cái đó đều đã qua, cứ như một chuyến bay dài và anh đã trở về nhà, hạ cánh an toàn. Chỉ gần mười năm ra làm với cương vị giám đốc Hậu đã có được một lượng tài sản mà suốt đời một cán bộ giảng dạy Đại học dù có học vị Tiến sỹ cũng không mơ tới. Cũng nhờ Tân bạn học thời sinh viên lại là quan cao đã kịp lôi Hậu ra khỏi cái nghề dạy học ở trường Đại học Xây dựng thì mới được như vậy. Tân thì lại không may, sếp của Hậu. Đang lên voi, tiền tấn, chuyên đi với các đoàn lãnh đạo và về cắt băng khánh thành, nói chuyện chỉ đạo các nơi thì đột nhiên lại xuống chó. Đời chẳng biết thế nào. Thêm nữa là chuyện thằng con, báo chí lại thừa dịp. Dậu đổ bìm leo...

Con chó bỗng vẫy đuôi quay ngoắt chạy ra cổng. Hậu đứng lên chưa đi theo đã thấy nó ríu rít vào cùng Madame Lucie. Cô bác sỹ người Pháp bảo Hậu cứ ngồi chơi đợi Paublo một lát và giơ tay vẫy vẫy con chó. Con chó còn ngoái lại nhìn Hậu yên tâm rồi chạy theo người đàn bà vừa khuất sau hành lang bệnh viện.

Lại có tin nhắn. Hậu thờ ơ xem rồi xoá ngay đi. Không có gì quan trọng cả. Tin nhắn rủ đi chơi xa, tin nhắn mời đi cafe, karaoke, mời mọc chuyện đầu tư, làm ăn. Cả tin nhắn của một em người Thái ở nhà nghỉ trên hòn đảo Sơn La. Hậu muốn xoá đi tất cả, xoá hết dấu vết mười năm ấy, những vui buồn, hẫng hụt, những ký kết, những hoan lạc. Anh như ông lão Giăng Van-giăng trong " Những người khốn khổ " của nhà văn Pháp, có một gia tài lớn và sẽ phải nghĩ làm gì tiếp. Hậu đã qua đêm một lần với một cô nàng mẹ của sáu đứa con của năm ông bố. Nhưng anh cẩn thận để không dính, không trở thành người bố thứ sáu. Các ông kia cũng chỉ là gửi con ở nơi tin cậy thôi. Sau này các cậu lớn lên thu xếp được với các bà vợ sẽ đón con về. Mà cũng kỳ lạ. Ra toàn con trai như những hợp đồng chuyên nghiệp ấy. Anh đến với cô ta cũng là do sự thu xếp của một người muốn trả ơn. Người đó biết rõ anh là đích tôn mà không có con trai nối dõi hay thừa hưởng gia tài. Các cụ thì nói là bất hiếu. Lúc ăn cơm người đàn bà đó xuất hiện và có thể do cảnh vật thiên nhiên, có thể do chai rượu thuốc mà anh thấy say, thấy thèm. Rồi lần sau tự anh tìm đến nhà cô ta. Nhìn bọn trẻ con, chơi với chúng xong anh đưa tiền bảo mua quà cho chúng rồi phóng xe về.

Hồi xưa còn lên bục giảng Hậu hay nhắc với sinh viên câu nói mà anh ưa thích: " Con người có thể hài lòng sống trọn vẹn cuộc đời với vài câu hỏi ". Bây giờ các câu hỏi đó không còn, chỉ còn các câu trả lời. Câu trả lời bao giờ cũng sẵn mà phần nhiều để thôi đi câu hỏi ấy. Và câu trả lời cho câu thơ anh viết ngày nào: " Cứ day dứt mãi không ra, Mình là Ai, Ai là Ta, là Mình " lại là " Mình là thằng tốt nhất trong thế giới xấu và là người tồi nhất trong thế giới tốt ". Bây giờ anh được tự do rồi. Anh muốn dành nguyên vẹn mình cho cái thế giới tốt dù là người tồi nhất đi nữa. Anh muốn bẻ quẻ số phận của mình ở những năm còn lại cuộc đời.

3.      HIỀN

Thực ra muộn còn hơn không. Khi anh đi làm chuyên gia ở Algerie xưa hai vợ chồng đã thống nhất là dành ba năm lo kinh tế, nhà cửa, lương khô để sau có thể trở về sống thảnh thơi lương thiện. Anh sẽ chuyên tâm vào chuyên môn khoa học yêu thích và vợ anh, cô giáo dạy văn có thể yên tâm đẻ thêm cho anh đứa con trai cho có chị có em. Nhưng mọi việc không xuôi xẻo. Chuyến hàng xe máy anh đặt mua ở một công ty bên Nhật bị phá sản. Ba năm tích cóp mất hai, chỉ đủ lo có được một ngôi nhà bốn tầng trong ngõ hẹp. Lại thêm Hiền bị xảy thai rồi phải dao kéo can thiệp, hết khả năng của người phụ nữ. Rồi mọi thứ thay đổi nhanh quá, như hình ảnh Hà Nội ấy. Ai còn nhớ được một Tiến sỹ lách chiếc xe máy cũ qua ngõ đông với cái cặp sách cũ ngày nào nay lại là một giám đốc trong một biệt thự sang trọng ở Linh Đàm. Những đồng tiền anh kiếm được khi nhảy ra ngoài hình như cũng không là gì so với vợ anh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp và buôn bán cổ phiếu. Đã thế có lần Hiền nói:" Tiền em kiếm được đúng ra còn sạch hơn trăm lần tiền của anh. Đồng tiền có được là do những phân tích, những quyết định mua bán, kinh doanh chính xác chứ không phải do móc ngoặc, tham nhũng, phong bì, hối lộ. Mà thầy tâm linh đã nói. Dính tới đất sợ lắm. Ông Vượng ở trên bộ cũng phải nhờ thầy đến vá cái long mạch bị đứt ở Ninh Bình. Các dự án xây các khu sinh thái du lịch rồi đào phá núi vôi ở đấy là do ông ấy ký. Còn bác Tân nữa mới khổ chứ. Mãi rồi cái Trang nó mới hết ghen, cho đón đứa con trai bác ấy gửi bên ngoài về, có hợp đồng hẳn hoi chấm dứt với mẹ đẻ nó, nghe nói cũng là một hợp đồng chuyên nghiệp cho những sếp không có con trai. Hôm làm lễ ra mắt họ hàng thì cô em cái Trang kêu luôn là thằng cu giống hệt cậu thư ký riêng của Sếp. Hàng giả. Khổ thế, mất mặt. Thầy cũng nói với em là dính vào đất là cẩn thận, trả giá ".

Đấy là Hiền lo cho chồng. Những dự án, giao dịch ngầm, chạy chọt, đút lót, lại quả...luôn đồng hành cùng sự nghiệp của chồng. Bây giờ ra khỏi cuộc chơi được là tốt hơn bao người rồi, biết đâu lại thành vật tế thần. " Mọi cái qua rồi. Bây giờ mình cứ làm những gì thích và lo giữ sức khoẻ, đi du lịch thăm thú các nước, chụp ảnh. Còn nếu thích thì anh xem quản tất cái phần chứng khoán này thay em vậy. Em sẽ phải sang Úc với con Hà để lo nhà cửa bên ấy " - Hiền nói với chồng vậy.

Hiền rất hiểu đàn ông. Bảo họ ăn chay, niệm Phật hàng ngày hay chăm trẻ như mình là không thể. Hiền cũng rất hiểu chồng. Dù sao những năm tháng vất vả cũng đã qua, chỉ còn chuyện mong có đứa con trai của người đàn ông thì đâu lại là chuyện thêm, thường, xa xỉ được. Thôi không nặng nề. Một thời con trai, hai thời con gái. Thời của người con gái đã xong. Trong cái tình bây giờ chỉ còn lại cái lớn nhất, cái nghĩa. Đấy là những lúc bình thường của Hiền với những suy nghĩ bình thường. Cũng còn những lúc khác Hiền theo dõi, dò xét xem Hậu quan hệ với những ai. Có dịp bà vợ ông giám đốc còn cố tiếp xúc những người con gái đó và khích lệ. Tất nhiên là cũng khó vì các cô nàng cảnh giác. Cũng có lúc Hiền úp úp mở mở nói với chồng là có thêm đứa con nào cũng hay. Bên Mỹ người ta còn sang tận mình nhận thêm con nuôi. Hậu càng lảng sang chuyện khác, nói mình có con rồi, mình đẻ ít thì dồn cho con nó để nhiều, mình ăn lộc như trong bán hàng đa cấp của Hiền ấy. Hiền thì cứ vẫn trĩu nặng trong lòng một điều không thể nói ra được, làm sức khoẻ Hiền xấu đi. Hà không phải con Hậu. Con bé là kết quả của một cơn say nắng khi Hiền đi hội lớp xưa ở Hạ Long. Cũng chỉ đúng một tối ở nhà nghỉ sau khi cả hội đi karaoke. Lúc đầu cô vẫn mong đó là con của Hậu. Nhưng càng lớn đôi mắt nheo và cái miệng trễ của con gái càng giống người bạn học cùng lớp xưa đó.

4. HẬU VÀ TRÂM

Con Paublo chạy ra loăng quăng vẫy đuôi. Hai người đàn bà cũng bước ra. Con mèo nằm trong cái giỏ trên tay một người ngẩng đầu nhìn Hậu như dò hỏi. Còn người đàn bà lại có đôi mắt đen, cái nhìn là lạ có vẻ như đang mơ màng, chìm đắm vào một nơi nào đó rất xa đằng sau Hậu. Cũng rất tự nhiên Lucia trao đổi với anh mấy câu rồi nhờ luôn anh đưa người đàn bà có tên là Trâm đó về, cũng trên đường về nhà anh.

Cửa xe mở, con Paublo đã nhảy tót lên rồi nhảy ra ghế sau như chiếm chỗ. Hậu cười: "Mời chị lên xe". Cô nàng đỏ mặt nói: "Dạ, gọi em là Trâm thôi anh ạ". Xe chuyển bánh, họ nói chuyện với nhau về mèo và chó. Hậu thú thật là xe và chó là của vợ. Anh bây giờ nghỉ việc coi như đóng vai người quản gia cho vợ đang ở xa nhà thôi. Anh tiện tay bật nhạc cho đỡ trống. Giọng ca của Ramazzotti ngân vang. Trâm khen hay và nói là lần đầu được nghe giọng ca sỹ Ý này. Tiếng nhạc làm anh nhớ tới dáng cô nàng lúc bước ra cùng Lucia. Một chuyển động thân, một bước chân mèo, đi như không đi, như ngồi trên một cái ghế o thả chân. Trâm nói: "Bản nhạc Rumba hay quá. Em lại đang cần nó". Hoá ra Trâm đang chuẩn bị tham gia cuộc thi Dancesport lứa tuổi dưới 50 ở Hải Phòng. Sẽ chọn vũ điệu Rumba.

- Hay thế, Rumba - Hậu nói mắt liếc kín đáo xuống cái đầu gối và phần đùi trắng tròn thừa ra dưới cái váy ngắn. Rồi cái cổ, những đường cong và cái vai rất cần cho cái Vũ điệu Latin khêu gợi đó. Anh như thấy lại cái dáng đi đẩy thân và hông của cô nàng buổi sáng đó. Chuyển động cứ như một làn gió hoang lạc vào, mát rượi. Bỗng dưng Hậu lại thấy rạo rực, một cảm giác quen thuộc đến... lại đòi. “Thôi đi“ - Anh tự thầm mắng mình và hít một hơi thật dài rồi nín thở. Sự tập trung giữ hơi thở nín đó đã giúp anh xua được cái cảm giác vừa xộc đến. Qua rồi, buông rồi cái quá khứ đó, những cô nàng chân dài, nhà nghỉ, resort, những ly rượu, những tiếng cười, tiếng rên.... Không, đó chỉ là cho thân xác, sự mua bán giải trí đồng hành với giới kinh doanh, quan chức thôi. Mọi thứ đều quy ra tiền, hàng và của. Có thể ai đó cảm thấy hớ, thiệt nhưng chỉ thế thôi. Từ giờ thì khác. Sẽ là ai đó bị tổn thương. "Không được đâu, không nhé" - Hậu tự dặn thầm mình.

Hậu cắn môi rồi thở nhẹ từ từ hơi ra và như thấy rõ là người phụ nữ ngồi bên lấy tay lùa kéo đọn tóc ra trước ngực. Cánh tay tròn trắng mịn trần không đeo trang sức. Mái tóc đen nhưng phía dưới mầu nâu đậm, nhẹ sóng bồng bềnh. Mà cô ta sao không kéo hết mái tóc lên phía trước ngực đi cho anh nhờ, lại vẫn còn sót một chùm sau lưng như để che nhưng không hết chút khoảng da gáy trắng mịn ấy. Thường thì khi thấy bất an, phụ nữ thường thể hiện qua đôi tay, họ có thể vuốt tóc ngay cả khi tóc không rối, chỉnh lại quần áo khi áo quần họ không có gì cần chỉnh sửa. Hậu thấy tự áy náy. Rồi một câu hỏi ngớ ngẩn vào đầu anh- Nếu bây giờ cô nàng sẽ đưa tay kéo nốt chỗ tóc còn lại sau gáy lên trước trước thì thật kỳ diệu, một diều kỳ diệu nào đó sẽ đến, sẽ thay đổi cả cuộc đời anh...

Hậu không hít hơi nữa, không ăn thua. Phải nói cái gì, sẽ bình thường lại thôi, nói chuyện sẽ đỡ, im lặng là chết. Nghe nhạc càng chết. "Cô Trâm mà nhảy Rumba sẽ rất đẹp. Latin đẹp ở nữ. Rumba, vũ điệu của các feelings gợi, lưỡng lự, bộc lộ, quay đi và tha thứ. Nam chỉ là để đỡ giúp n thực hiện thôi. Không như các điệu Standart mà nam lại là chính, lộ, che. Nữ chỉ theo cho khớp thôi. Bao giờ thi thì mời tôi đi xem nhé" - Hậu dừng xe, đền đỏ. Giọng ca của Ramazzotti vẫn ngân vang da diết, như nuối tiếc, như trách móc

- Giữa tháng Mười anh ạ. Hay chiều nay anh đến Câu lạc bộ của em đi. Anh vừa kể về Rumba, về Khiêu vũ những điều mà không chắc ai biết đâu. Chắc anh nhảy giỏi lắm - Trâm ngừng nhìn Hậu có chút tò mò rồi nói tiếp - Hôm nay là ngày đầu thầy giáo ghép đôi cho em patner mới. Ông cũ thì bị đụng xe bó bột chân tháng trước. Ông này thầy lôi được về từ Tuyên Quang đấy. Em cũng chưa gặp. Các tỉnh họ cũng đam mê cái môn này lắm. Anh không tham gia à - Trâm liếc nhẹ người đàn ông cho nàng đi nhờ xe.

- Tôi bận mà, công tác ở tỉnh xa, mới nghỉ việc một tuần nay. Tôi cũng có mấy người đi nhảy, mê lắm. Họ cũng bảo đi học nhảy rồi đi chơi các sàn cho vui.

- Đúng rồi, anh bảo chị đi. Hai anh chị đến tham gia Câu lạc bộ của em, ngày mai lại bắt đầu lớp cơ bản mới rồi.

- Bà xã không nhảy đâu, với lại vợ tôi chủ yếu ở bên Úc. Vợ chồng đứa con gái định cư ở Úc mà.

- Không sao, anh cứ thử đến xem. Hay chiều nay đi. Đến xem thôi. Thấy được thì ngày mai anh đi học.

Ngày mai. Có lẽ thôi vì anh chưa trả lời tin nhắn của Yến cho buổi Yến hẹn ngày mai, ngày sinh nhật của cô kế toán xưa. Năm đó ngày này anh chỉ bảo Yến đi chọn một phòng VIP đôi cho hai người ở phố Đào Tấn. Họp ở Daewoo xong anh ra với Yến. Hai người ngồi ăn, những món Tây, ăn kiểu Tây, kiểu cách. Chỉ lúc cuối có điện thoại anh phải về. Anh cầm cốc rượu đi sang bên Yến ngồi đối diện. Chạm cốc. Rồi anh hôn nhẹ lên má Yến, rồi tuột môi nhanh xuống môi cô gái trẻ. Rồi họ hôn nhau lẫn vị say chát ngọt của rượu. Một cái hôn thôi rồi chia tay để dành ngày mai. Tháng sau Yến chuyển về tổng công ty ở Hà Nội và lấy chồng.

Ngày mai thế nào. "To be or not to be" - Anh phân vân. Mọi thứ đã qua, Yến trẻ quá, tuổi con anh. Trong khi các quan chức tuổi anh toàn ganh so và khoe các cô nàng trẻ mình có thì anh lại ngại. Cái đàn ông trong anh cần đàn bà nhưng lại mặc cảm với con gái. Cảm thấy có gì không được. Vẫn có một cái gì ngăn anh lại. Cũng nhiều lần ở cái công đoạn Z của vụ chiêu đãi hay hay các dịch vụ massage tươi mát của các đối tác, của cấp dưới anh hay làm các em chân dài tưng hửng. Không vượt được hàng rào tâm lý. Anh bỗng cần một cái cớ để không gặp lại Yến. Không đi đến đâu cả, không có lợi cho Yến. Còn cho anh? Khoảng trống chưa cạn trong anh không thể lấp bằng cả những năm tháng còn dài của Yến được. Sẽ phải tìm cái gì khác ổn và đỡ áy náy hơn. Tự dưng anh liếc qua gương tìm khuôn mặt người đàn bà ngồi bên này. Đẹp, buồn và hiền. Với những đường cong thì anh đã bị thuyết phục trước khi lên xe. Kể tìm được một patner nhảy với thân hình này không dễ. “Lại phiêu lưu rồi“ - Hậu tự mắng mình và thay đĩa nhạc Valse Italia. Nhạc Valse nó bồng bềnh bay xa hơn chứ Rumba nó riêng tư quá, gợi quá, rung quá, khiêu quá.

- Bản nhạc Valse hay quá.

- Chiều nay tôi cũng rỗi. Cô nhắn địa chỉ và thời gian vào máy tôi nhé. Tôi sẽ mang các đĩa có các bài Rumba và Valse Ý đến, file MP3 cả. Nghe thôi chứ chưa chắc đã hợp cho nhảy. Phải vào Klaus Hallen, kho nhạc khiêu vũ thể thao trên mạng của Đức mới có nhạc khiêu vũ chuẩn được.

Về đến nhà, con Paublo mừng rỡ. Nó mới là chủ nhà, như biết hết mọi thứ để đâu. Hậu bật Viber trên máy tính. Trên màn hình thấy khuôn mặt Hiền. Chắc cũng vừa đi đâu về. Vợ chồng trao đổi mấy câu như thường lệ cho an tâm. Con chó nghe tiếng gọi chạy ra với bà chủ. Nó nhớ.

5. GIẤC MƠ

Cơm trưa xong Hậu bật nhạc rồi ngủ lúc nào không biết. Tiếng nhạc Rumba lại đưa anh trở về ngày ấy, ba năm trước cứ như trong một trailer phim nước ngoài mà anh là diễn viên, là đạo diễn và lại là khán giả luôn. Có một nhân vật nữa đóng cùng. Một cô gái xinh đẹp.

… Trời mưa nhẹ. Cô gái bước lên chiếc xe sang trọng của anh. Anh bật nhạc. Tiếng nhạc Rumba gọi và gợi. Rồi để phá vỡ những thói quen của một nhân viên với sếp anh bắt đầu kể chuyện. Cô gái cũng cười. Cũng lạ, không có chuyện lãng mạn như trong phim, trong tiểu thuyết như cả hai đều tưởng. Toàn nhưng chuyện quen thuộc đàn ông hay nói ở công ty. Đàn bà có thể không nói nhưng cũng hiểu. Chuyện không thể thiếu được trong thế giới kinh doanh ngày nay, không thì người ta xây các khu nhà nghỉ, khách sạn, các dịch vụ chiều người cho ai. Cho các giáo sư, các nhà khoa học chắc.

Chuyện anh được chiêu đãi tươi mát ra sao. Rồi chuyện cười ra nước mắt anh vì không biết xoay xở một lúc hai cô chân dài, anh phá tan bầu không khí khô cứng và làm nó thấy tự nhiên như việc ân ái là một việc hết sức tự nhiên của con người thôi. Anh bảo anh không được tự do, là người sống chỉn chu và có nguyên tắc, đúng giờ về nhà và đi chơi đâu vợ cũng kè kè bên cạnh và thời gian ở nhà ít lắm, không chăm sóc thường xuyên cho cô gái được. Cô gái cười và nói là hiểu rằng anh bận thật và phút giây này là riêng duy nhất hiếm hoi được tận hưởng niềm vui bên anh. Cô cũng nói về những cố gắng của anh che chở cho cô trong công ty, những ghen ghét đố kỵ, tháo gỡ cho cô trong những công việc, thoát khỏi những thèm muốn của bọn đàn ông, mà đôi lần đã đưa anh vào khó xử cả với các cấp trên.

Xe tới nơi, ôi một không gian thật đẹp thoáng mát và vô cùng tinh tế từng ngôi nhà riêng biệt có hàng rào, có những hàng dây leo hoa nở rộ vàng ươm, hồng biếc, tim tím rủ xuống hàng rào thật dịu dàng và nên thơ. Mỗi ngôi nhà hạnh phúc đó đều có hai chiếc xe đạp để cho các đôi tình nhân đạp sóng đôi trên các con đường quanh co đẹp như mơ của cả khu resort này.

Ngôi nhà có chiếc giường rộng mênh mông ở giữa phòng chăn gối trắng muốt và có một cái đi văng cho hai người ngồi ăn kiểu ngả ngốn của các vương hầu quyền quý nhìn ra bể bơi riêng. Một thảm cỏ xanh biếc có một cái xích đu và hai cái ghế bọc thảm nhung êm dịu vài cuốn sách để đó. Xa xa dòng sông cuộn chảy uốn khúc ẩn dưới những rặng đồi cây xanh mướt.

Nhà vệ sinh như một cung điện tiện nghi, sau hai cánh cửa kính trong suốt có một bể tắm tiên ngoài trời thật riêng biệt, yên tĩnh và tự do.

Anh đứng ngắm cảnh hồ. Cô gái bước ra từ nhà tắm, nhẹ nhàng ôm anh từ sau lưng. Chiếc khăn to choàng người cô buông dần ra, rơi xuống ghế. Anh cũng cứng dần lên trong những cái vuốt ve. Anh thấy đói và hơi mệt sau chặng đường xa và đang đợi đồ ăn. Nhưng rồi cũng không đợi được anh quay lại ôm ghì cô gái. Cô nhắm nghiền mắt. Những cái hôn ngọt, quấn quýt mơn man rồi nhịp điệu tăng dần bởi sự kích thíc. Cô khóc, lệ cứ tràn ra trên má chảy xuống để pha thêm vị mặn vào cái hôn, say đắm nồng nàn. Những dòng nước ứa chảy ra như tích tụ bởi bao năm tháng mong chờ, hờn tủi, bắt đền. Anh không chịu được nữa vội giữ tay cô: "Từ từ thôi em, kẻo …", và cả hai dừng lại cùng ngắm cảnh thiên nhiên đẹp quá, rồi như nam châm anh lại ghì chặt cô vào lòng, ép người cô vào góc phòng và trong tư thế đó anh đi sâu vào....

Có tiếng gõ cửa. Người phục vụ mang đồ ăn tới, anh vội rời cô gái và ra trả tiền, một chút tiền boa thêm. Cái đói đã thu hút đôi tình nhân vào bữa ăn ngon tuyệt vời, một chút khoai tây nghiền với bơ, đậu và hành tây cà chua thịt bò bỏ lò tái.

Ăn xong rồi hai người cuộn tròn trong chiếc chăn, anh bật điều hòa ấm lên và cả hai trút bỏ hết quần áo ôm chặt nhau lại. Cô gái nói: "Từ từ anh, mình vừa mới ăn xong", nhưng anh không đợi được nữa anh vội áp người lên trên cô, đi sâu vào trong, cảm giác thật tuyệt cuốn đi trong cơn lốc xoáy đó và hòa tan ân ái.....

Anh nói anh muốn ngủ. Nhưng rồi hai người chẳng ai ngủ được. Dư âm của cuộc ân ái làm họ tỉnh và cùng nói chuyện thật lâu, rồi anh lại tìm cô và đi sâu vào một lần nữa.

Sau đó anh ngủ lúc nào không biết. Lúc tỉnh dậy trong mơ màng anh biết cô gái không ngủ, nằm ngắm anh. Cô nói là từ lúc gặp anh mấy năm trước anh phong trần, già đi nhiều quá. Hai bên mai đã bạc. Trước tóc dầy đen nhánh. Khoé mắt cũng thêm hai nếp nhăn. Chỉ ánh mắt, cái nhìn vẫn như xưa, hiền, đau đáu và như nhớ một cái gì xưa. Không biết Tình yêu là thế nào nhưng ánh mắt đó đã xoá đi tất cả những người con trai trẻ mà cô gặp, đang theo đuổi cô đến hôm nay. Đến hôm nay thôi vì mai sẽ khác. Ánh mắt của anh và tất cả những gì với anh cô sẽ cất chôn sâu xuống một chỗ thật kín trong Tâm hồn. Và họ quấn lấy nhau cho trọn vẹn hôm nay.…

6. YẾN

Phải dậy thôi, Hậu tự bảo mình. Coi như đã trôi qua một tuần đệm rồi, đã sửa lại cái vườn, đi bảo dưỡng chiếc Mazda, thay các loại đèn chiếu sáng tiết kiệm, làm vệ sinh nhà bếp, nhà xí, vứt đi một loạt chai lọ và quần áo cũ và hôm nay là cho Paublo đi làm đẹp. Một khoảng lặng đủ để buông rũ, quên đi cái cuộc sống quá khứ của một giám đốc, một sếp, một Gì nữa..... không quan trọng. Chỉ còn từ mai là dọn sách vở thôi. Một cảm giác buồn là lạ. Mai sẽ lại động đến giá sách, những bài báo khoa học dang dở, luận án Phó Tiến Sỹ xưa, các quyển sách viết cùng đồng nghiệp. Thôi mà, hôm nay đã. Chiều ghé qua bể bơi mua vé tháng để bắt đầu từ mai xuống nước, rồi qua chỗ câu lạc bộ khiêu vũ đưa cho Trâm bộ đĩa của Klauss Hallen và nhân tiện xem cái món nhảy đầm đó thế nào. Hình ảnh người đàn bà đi nhờ xe lại hiện lên cùng với một ý nghĩ là giá Yến không trẻ quá như vậy, cũng khiêu vũ và độc thân như cô Trâm này. " Rõ vớ vẩn, ai bảo độc thân mà tưởng bở " - Hậu tự buồn cười với suy nghĩ của mình. Thôi không độc thân thì cũng tự do như mình lúc này vậy. Anh nhìn lên tường treo ảnh hai vợ chồng anh và vợ chồng con gái. Hôm nọ trò chuyện Online với mọi người bên Úc thấy một bà khách bảo Hà: " Có con là yêu nhất con rồi. Người Việt nước mắt chảy xuôi cháu ạ ". Con Hà phản ứng quay lại nói với đứa bé ba tháng trong tay: " Sao thế được, con không thể lấy chỗ của Ba trong mẹ được đâu. Ba con đã trong mẹ ba năm, con mới ba tháng mà ".

Nghĩ miên man mốt lúc, tay với quyển Vô hồn-Duhless của Sergey Minaev. Chắc tuần này sẽ đọc xong. Tuần tới sẽ nhẩn nha với các truyện của Haruki Murakami mà anh đã bê về một đống hôm qua. Có lẽ bắt đầu từ " Thế giới trong gương " vậy.

Có điện thoại. Hậu cầm lên rồi đặt xuống, mặc kệ. Có thể phải đổi số phone, mua sim mới, phải xoá đi cái thế giới tiền bạc, danh vọng, địa vị, gái điếm… và vô nghĩa. " Yến cũng vậy nhé em, mình chia tay rồi mà dù rằng em không thuộc thế giới bại hoại đó. Bình an nhé em trong cái thế giới của em, có yêu thương, có gia đình, có chồng con em nhé, như thời xưa ấy " - Anh nhớ tới cái ốc đảo ở sa mạc. Nước ở đó trong ngon và tinh khiết. Anh nhắn tin cho Yến nói là không thể gặp nhau được. Tin nhắn khá dài. Những rạo rực thèm khát không còn đọng lại, chỉ còn tình thương, tình người. Yến hiểu mà. Anh và Yến, hai thế hệ, hai bên dốc khác nhau của cuộc đời, người lên, người xuống, không thể cùng nhau đâu. Quy luật tự nhiên mà Em.

Có tin nhắn. Trâm dặn anh đến khoảng trước 6 giờ. Có thể cô sẽ tìm cho anh patner hợp chiều cao và trẻ để tập.

Buổi chiều ở tầng ba của Trung tâm văn hoá thể thao quận Hồng Mai, mọi người đang tập các bước theo thầy dậy, mấy người khác thì đến xem. Trâm bỗng dừng lại chạy ra hành lang nghe điện thoại: "Anh đến muộn chút à, đường đông à. Không sao. Em đang tập. Anh đến cứ lên thẳng tầng ba nhé".

Đã quá nửa tiếng rồi. Trâm lại chạy ra gọi điện thoại. Không thấy trả lời. "Không sao, chắc ông ấy có gì đột xuất. Ngày mai em cứ đến học nhé, về chị sẽ gọi cho ông ấy. Ông ấy nhiều tuổi nhưng trông khoẻ, dáng thanh niên. Ở đây chẳng ai bằng". Trâm đi đến nói với cô gái đang đứng tựa ở cửa sổ, tay cầm chiếc Samsung vỏ xanh biếc nhìn ra đường. Bỗng dưng Trâm ngẩn người, kêu:

- Ơ, Yến, sao em lại khóc.

7. VĨ THANH

Trong nhà Hậu buổi tối, con Paublo đã ăn xong đi năm trước."Thôi, quên chuyện sinh nhật của Yến đi, quên cả Trâm và những giai điệu Rumba nữa. Cứ coi là mình bị mất điện thoại và phải dùng sim mới". - Hậu tự nhủ. Anh nằm dài trên divan, đọc tiếp quyển truyện của tác giả người Nga. Hôm nay phải đọc xong. Kỷ lục thật. Một quyển truyện đọc trong mười năm. Anh mua nó rồi đọc mấy trang đầu lúc còn ở trường rồi anh bỏ dở, bỏ ra làm ngoài, rời giảng đường, sinh viên, khoa học. Anh đã thành nhân vật trong truyện khi nào. Bây giờ anh đọc truyện thấy chính mình, thấy những khuôn mặt quen qua một lớp người giàu thành đạt, “kinh tởm và đê tiện”. Cái thế giới của anh tuần trước, nơi mà nhân cách con người được phơi bày hết ra trong truyện. Chỉ có tiền. Không có tiền, không gái. Không có tiền, không bạn. Không có tiền không có ký kết, không hợp đồng giao kèo nào cả. Nhưng cái “nhân vật tôi trong truyện” lại luôn khao khát được trò chuyện với cô gái Julia hiền dịu, lại ao ước được trở lại là mình xưa.

Cuối cùng anh cũng đọc xong quyển truyện đó, gấp lại, ra khỏi truyện. " Em cũng ra nhé Yến. Nhưng sẽ là có hai truyện riêng em nhé. Em tự viết truyện cho em. Anh cũng vậy. Hai con đường. Con đường của em còn dài mà như bài thơ anh viết khi Yến chuyển về Hà Nội ấy ". - Anh như lại thấy Yến, ánh mắt nhìn anh đau đáu. Bài thơ anh vẫn nhớ.

Con đường dừng lại, xé đôi

Ngã ba đứng lặng, hai người nhìn nhau

Tại sao nơi ấy khởi đầu

Lại là đường thẳng, biết đâu thế này

Tưởng rẳng rượu vẫn mãi say

Tưởng rằng tình mãi vẫn đầy mắt nhau

Thôi mà lỗi của ai đâu

Bình an em nhé, đi mau...Ai chờ.

Sau đó anh đọc tiếp một truyện của Haruki Murakami có tên "Sinh nhật của nàng". Thế giới khác xưa quá. Thế giới siêu thực quá. Anh ngủ thiếp đi, không mơ gì cả. Nửa đêm đói, dậy nấu mì ăn

Hình như mọi việc thế là xong, thế là xoá đủ. Ngày mai dùng thêm số phone mới. Đúng là khó thì thật khó mà dễ thì cũng thật dễ. Người nghèo và giầu đều có những bất an khác nhau. Nghèo thì nghĩ là mình cố có tiền sẽ hết khổ, còn có hy vọng. Còn người có tiền, không còn phải lo đến cơm áo gạo tiền nữa thì sao nhỉ với cái bất an đeo bám ấy. Vợ anh đơn giản là ăn chay, niệm Phật, đọc kinh nhưng cũng rất thoáng. Hiền nghĩ đàn ông khác đàn bà. Mà đàn bà cũng thế thôi, mỗi người phải tự tìm ra cái hợp tạng của mình.

Cái Tạng của Hậu, anh sực nhớ. Lâu lắm rồi không làm thơ sau cái bài thơ cuối cùng cho Yến ấy. Thơ của đàn ông nó cũng như là một khoảng lặng của cuộc đời, là những giây phút sững lại, với ai là chỗ trú ẩn, với ai là nhà tù, với ai lại lại để nói thầm với ai. Anh cầm bút, định ghi mấy ý thoáng qua nhưng lại thấy vô nghĩa, chán phèo. Hậu thở dài ngửa người trên ghế hít sâu vào. Anh thấy hình ảnh Yến đứng ở cửa sổ sàn tập chiều qua và anh đã lùi ngay theo phản xạ rồi như bỏ chạy xuống xe. Không dám ngẩng lên. Bây giờ điềm tĩnh lại rồi, nói gì đi chứ với em. Anh viết được bài thơ. Có bốn câu kết

Xoá anh đi, tên anh và tất cả

Có giữ chăng, chỉ lời chúc thầm thôi

Hạnh phúc đi anh xin đấy

Không gì làm đau em, đã xoá anh hết, khỏi em.

Xoá rồi, ngủ thôi. Hậu vứt cái Iphone lên bàn. Chỉ còn mấy số điện thoại người thân, gia đình và liên quan công việc giấy tờ thôi. Số điện thoại của Yến và những tin nhắn cũng không còn, cả cái tin nhắn chiều qua lúc anh bỏ chạy vào xe sau khi thấy cô ở sàn tập. Anh đánh xe ra xa tìm chỗ vắng để viết tin nhắn. Không, cả một lá thư, tuy ngắn: "... lá thư cuối, em đừng trả lời nhé...".

Và Hậu ngủ thiếp đi với cảm giác ra khỏi được các cuộc chơi rồi, kể cả cuộc chơi ú tim ngọt ngào với cô gái trẻ chỉ hơn con anh có hai tuổi. Anh rỗng rồi. "Sắc sắc Không không", ý nghĩa của cái Sắc vỏ ngoài cái bình lại là phần Không rỗng trong nó.

Trong căn phòng khách đèn chưa tắt, trên Divan một người đàn ông nằm dang chân ngủ sóng soài, hai tay vòng qua ôm đầu ngủ như một người vừa sau chuyến đi xa về, thật thoải mái. Bình hoa cúc gần tàn trên bàn nhưng những cánh hoa vẫn vàng ánh.

Trong góc nhà một con chó Tây giống như một cây nấm trắng với bộ lông hai lớp xoăn và mềm mại như lụa cũng cuộn tròn ngủ. Có điều khác người kia, nó hay động đậy. Chó có nằm mơ không nhỉ, hay chỉ mỗi có người.

Ngoài sân, gió đang vờn khẽ đưa những âm thanh đêm. Có cả chút hương mùa thu phảng phất.


 CHIẾC ÁO KHOÁC DẠ NỮ MÀU RÊU

̣̣(Hay bản nhạc Valse nàng Lọ Lem - Valse de l'amour)

"Qua năm tháng, tôi đã hiểu ra rằng, điều quan trọng của một chiếc váy chính là người phụ nữ sẽ mặc chiếc váy đó - Yves Saint Laurent"

 

1. WARZSAWA

Vào tháng cuối của một năm xưa ấy, tối tối cơm xong tôi hay xuống đi dạo dưới nhà trên phố Gorskiego, một con phố nhỏ ở ngay trung tâm Warzsawa, ngắm nhìn mọi người đi mua sắm vội vã, ánh đèn mầu sắc nhấp nháy cũng vội, tuyết rơi cũng vậy, gấp gáp, giục giã mà lại thấy một cảm giác bình an trong lòng, một cảm giác như mình trong một cổ tích xưa, là lạ. Thường thì tôi hay đi hết phố đến đại lộ chính nhìn thấy ga trung tâm rồi mới quay lại. Năm thì mười hoạ tôi chui xuống đường ngầm xem cánh hoạ sỹ người Nga ngồi vẽ nhanh chân dung các quý cô Ba Lan. Phải công nhận họ vẽ giỏi thật. Tôi vừa ngắm nhìn cái cô ngồi trước hoạ sỹ và vừa nhìn bức hình đang dần hiện lên trên giấy, thấy hiện dần khuôn mặt, mắt, miệng, mái tóc, có khi có cả nốt ruồi nữa. Tôi thấy giống quá đi mất, chỉ có điều người phụ nữ trong hình hiện lên cứ như là vẫn ở nơi đâu đấy, đến từ xa lắm, từ thời nào xưa lắm chứ không phải từ cái người phụ nữ đang ngồi đây. Có lẽ là do cái nhìn, ánh mắt. Người phụ nữ trong hình vẽ thì cứ như nhìn đi đâu ấy còn cái cô nàng tóc vàng như màu nắng ấy thì biết có tôi đứng xem vẽ, có lúc lại như còn cười nữa. Tôi phải bỏ đi.

Cũng có hôm tôi thuận chân đi hết đường hầm để lên sảnh nhà ga, lang thang nhìn bảng giờ tàu, nhìn người đi đón, đi tiễn nhau, nhìn người đứng đợi và nhìn tàu lúc nó đi. Lúc đó tôi cảm giác còn một nửa mình nữa, cái nửa không còn đứng trên ga mà đã ở trên tầu, cùng với con tàu đi về phía xa ấy, cứ như mình đang tiễn mình. Giọng đàn bà thông báo giờ tàu lại vang lên, cái giọng và cách nói rõ ràng, không cảm xúc thì ở ga tầu hoả, ở nước nào mà tôi đã đi qua, bằng thứ tiếng nào nữa cũng giống nhau, đều đều, chậm rãi mà lại như thúc giục. Mỗi lần ra ga xong lúc về tôi hay nhớ lại các nhà ga mà tôi đã qua, nhớ nhiều nhất là thời nghiên cứu sinh đi tầu hoả lên Moscow hay sang các nước Đông Âu. Chủ yếu có lẽ vì đoạn đường dài, thời gian dài trên tầu, thời gian qua các cánh rừng Nga cũng nhiều hơn. Cái thời thật thanh bình ngồi nhấm nháp miếng bánh mì kẹp bơ hay miếng mỡ muối với ly rượu Vodka trên bàn bên cửa sổ toa tầu và ngắm những cánh rừng bạch dương chạy vun vút ngược chiều như trong phim vậy. Cuộc đời cũng như một bộ phim, chỉ khác là có thể nhớ từng trailer một chứ không thể tour ngược được...

2. XA XỈ

Đó điều quá khó với tôi năm ấy. Mấy sự cố trong năm làm tôi phải đắn đo nhiều và từ bỏ bao dự định. Rồi lại một lần đi dạo đến ga xong trở về tôi thấy trong tủ kính cửa hàng nhỏ góc phố có bày cây thông Noel với chiếc áo măng tô nữ mầu xanh rêu bên cạnh. Dưới ánh đèn nhấp nháy huyền ảo màu rêu áo và màu xanh lá như lẫn sang nhau, hoà chung vào một màu, màu thông rêu, màu của các câu chuyện rất xưa, những câu chuyện thường xảy ra trong rừng, trong các tòa lâu đài cổ kính có những mảng tường rêu với khe nứt, những chuyện tình và biến cố mà giờ mấy ai nhớ.

Tôi đứng ngây ra nhìn cái áo và bỏ đi khi người bán hàng xuất hiện nói giá là 6 triệu Zloti (một món tiền không nhỏ cho trang phục người Việt sang Ba Lan làm ăn hồi đó). Măng tô Burberry cũng như vũ điệu Valse ấy, như nhạc Jazz không lời và còn nhiều thứ nữa là một thứ xa xỉ phù phiếm đối với số đông bà con Việt. Tôi bỗng nhớ đến Bích và Paris, nơi góc phố ấy cũng có một cửa hiệu bán áo khoác với các thương hiệu sang trọng Hermes,Versace, Burberry. Những cái áo khoác nữ luôn thu hút cái nhìn của tôi. Hình như Bích có để ý thấy điều đó khi phải đứng chờ tôi đang dán mắt vào cửa hiệu hay ngó theo một quý cô nào đó.

"Người Việt mình thiết thực hơn. Cái gì ăn được thì là cần nhất, còn lại tính sau, những thứ xa xỉ ấy. Chuyện Cổ tich, Lòng tin hay Đức tin cũng vậy". - Bích nói với tôi khi hai đứa đi dạo Luxembourg Park ở Paris năm xưa.

"Thế sao người Việt lại thích t thế, lại có lắm nt thế " - Tôi hỏi.

Tôi còn nhớ là Bích đã không trả lời. Cũng có thể là do cơn mưa ập xuống đột ngột và hai chúng tôi lo chạy tìm chỗ trú khi đó. Mùa thu Paris luôn thế mà, nó luôn làm các câu chuyện thành dang dở, lúc đó quên. Rồi mãi sau đó rất lâu lại sực nhớ, nhớ lõm bõm. Nhớ là khi đó Bích không làm thơ nữa rồi. Đúng ra là Bích đã bỏ được thơ. Hồi học phổ thông mà nhiều em đã chết vì thơ của Bích. Tốt nghiệp lớp 10 tôi sang Nga học, Bích đi bộ đội, bặt tin. Có lần hồi tôi là sinh viên năm thứ ba, tôi có đọc được trên tạp chí Văn nghệ Quân đội bài thơ của Bích viết lúc đang hành quân. Chép lại rồi đánh mất. Sau này có lúc gặp Bích thì chuyện nọ chuyện kia thì nhớ, chuyện bài thơ lại quên. Quên cả tên bài thơ. Chỉ nhớ là có mấy từ hành quân qua suối, soi xuống thấy râu ria gì ấy.

Sau chiến tranh Bích đi học Đại học. Bích không được học Bách khoa hay các trường Kỹ thuật. Anh là thương binh loại nặng. Bích học Tổng hợp Văn rồi đi nghiên cứu ở Pháp. Anh bỏ thơ sớm hơn, ngay khi giải ngũ. Bich muốn cất dọn nhiều thứ liên quan đến cảm xúc mà Thơ là dính dáng nhiều nhất. Bích cần không gian dành cho tư duy, cho lý trí. Thuốc lá thì không thể bỏ. Bích hút thuốc nhiều lắm, nó làm dịu cảm xúc, nó cần cho suy tư...

Tuyết vẫn rơi. Tôi lại xuống đường hầm sang nhà ga rồi vào quán cafe gần đó ngồi ngắm cuộc sống trung tâm thành phố trong ánh đền, tuyết rơi. Một cảm giác là lạ như tất cả những thứ thấy xung quanh, ánh đèn, cô gái tóc vàng bên bàn kia, cái cầu vượt và những chiếc xe và cả cái khách sạn Holiday Inn xa kia là không thực, tất cả chỉ là cảnh một bộ phim mà tôi mới là thực, là khán giả bởi vì... nếu những cảnh đó là thực thì tôi không thuộc về nó, tôi lại là không thực mà điều đó thì phi lý.

Có tiếng nhạc Tango. Tôi lắng nghe. Ô, bản nhạc này là thực, bản Tango Italiano. Nó thực như cái sàn khiêu vũ phố Hàng Buồm ấy, cái sàn duy nhất ở Hà Nội cạnh nhà tôi mà người ta hay mở bản nhạc hiếm hoi này. Đấy là ngày xưa, chứ bây giờ không biết người ta chơi nhạc gì, còn ai nhảy Tango không và hai cụ già cạ với nhau ấy còn không. Hai cụ thích ăn quà bánh khúc và đi nhảy ấy.

3. BÁNH KHÚC

Ngồi nhấp nháp ly cafe trong quán, tôi gắng nhớ lại cái lý do sao mà hôm ấy tôi đi sớm thế lên mạn bờ Hồ, nhưng rồi không nhớ nổi. Tôi chỉ nhớ lúc qua Nguyễn Công Trứ thấy có bánh khúc cô Lan. Thế là xuống mua. Một cụ ông mua gói bánh và hỏi tôi đi xe đến Hòa Mã gần đấy. Cụ thấy tôi nghĩ là anh chạy xe ôm. Tôi bào không sao và cũng không xa, tiện đường lên tôi đưa đi. Đến phố Hai Bà Trưng tôi thả cụ xuống một nhà cũ có cổng và chờ xem cụ có đi tiếp không. Cụ bấm chuông và một cụ bà lọm khọm đi ra. Cụ ông đưa cho cụ bà gói nhỏ và nói: " Bánh khúc cô Lan mà mình thích đấy ".

Rồi hôm đó tôi tiện chở cụ lên bờ hồ và được nghe cụ ông tâm sự. Hóa ra xưa, lâu lắm rồi, hồi trẻ họ nhảy Tango, Valse với nhau, ở sàn phố Hàng Buồm ấy. Nhảy tối về hay ăn quà phố, cụ bà thích lục tào xá và trôi tàu. Có hôm đi nhảy sáng thì cụ bà lại đòi bánh khúc cụ ông……

4. SUY TÍNH

Hôm sau tôi lánh đi trên hè phố bên kia đường, rồi kín đáo chọn chỗ khuất đứng hẳn lại nhìn sang cửa hàng. Cây thông và chiếc áo vẫn còn nguyên cùng ánh đèn nhấp nháy. Tôi yên tâm đi về nhà. Cũng từ hôm đó tôi hay chăm chú ngắm các cô nàng gặp trên phố, đúng hơn là ngắm chiếc áo khoác họ mặc. Hình như chiếc áo khoác nào cũng có thể kể một chuyện gì đó về chủ nhân của nó, về tính cách hay sở thích chẳng hạn. Bây giờ người ta mặc các áo khoác dạ mode mới mầu sắc hay có kẻ sọc, áo Blouson, áo da nhiều hơn. Những chiếc áo khoác dạ kiểu xưa hay áo khoác lông thú Skobelev như trong bức tranh của hoạ sỹ Nga vẽ người đàn bà ngồi trên xe ngựa mui trần vào buổi sáng mùa đông nước Nga, khi tuyết phủ trắng các mái nhà thì ít gặp lắm. Áo khoác kiểu xưa ấy luôn mang đến cho ta cảm giác băn khoăn và bồn chồn, gợi về một cái gì mơ hồ bất định hay cái gì đó là lạ đáng nghi ngờ. Nó hay làm chậm lại những suy nghĩ của chúng ta. Cũng đôi khi nhờ nó ta lại tìm lại được cái gì đó kiểu như cảm giác hay suy nghĩ của chính ta thôi nhưng đã bị thất lạc từ bao giờ.

Những ý nghĩ lẩm cẩm không đâu vào đâu tan biến ngay khi về đến sân nhà. Tôi lại đứng ngắm chiếc Opel cũng mầu rêu phủ đầy tuyết trong sân. Chủ của nó muốn bán. Tôi muốn mua nhưng hai bên chưa thoả thuận xong về giá cả. Chiếc Fiat của tôi sau sự cố ở Kielse tôi đã bán luôn cho cậu ở xưởng sửa xe rồi. Hay thôi, đi mua lại chiếc Ford của một cậu nghiên cứu sinh sắp tốt nghiệp, rẻ hơn đến 10 triệu. Có điều lại phải chờ đợi lâu hơn vì anh chàng còn cần xe một tháng nữa.

5. CHIẾC ÁO

Chiếc áo măng tô mầu rêu ấy đeo đẳng tâm trí tôi đến hai tuần. Thế rồi chỉ còn hai ba hôm trước Noel tôi mới quyết định được, cầm đủ 6 triệu Zloti đi mua áo. Chuyện xe kệ, tính sau. Tôi sẽ nói với nàng là mua giá 2 triệu Zloti thôi. Nàng sẽ hạnh phúc có chiếc áo khoác dạ mầu rêu với cái khăn Thổ, giày da Tây Ban Nha, hai thứ cùng mua trước tết năm ngoái nhưng ít dùng, vẫn còn mới. Cái mũ dạ đỏ tôi mua đầu năm nay ngoái khi qua Tiệp sẽ lộ mái tóc bồng đen trông khác đi khi buông xuống cổ áo màu rêu, đôi mắt nhung đen sẽ huyền ảo hơn và Noel cũng sẽ vậy. Chúng tôi sẽ đi ra quảng trường đón năm mới với mọi người. Rồi mấy ngày nghỉ chợ năm mới ấy tôi sẽ đưa nàng đi chơi ở Cung điện Hoàng gia - Zamek Królewski, đi ăn món flaki ở các cửa hàng gần đó, sang ngồi quán cafe bên cạnh, nơi tôi hay đến ngồi nghe nhạc, tán gẫu với mấy người bạn Ba Lan. Ăn món kem dâu xong tôi sẽ đến bảo họ cho nghe bản "Cinderella Valse de l'amour - Bản Valse Lọ Lem Tình Yêu". Rồi tôi sẽ quay lại đến bàn, cúi xuống giơ tay mời nàng Lọ Lem ấy, sẽ rất lịch sự, mời bằng tay trái, tay phải đỡ lưng nàng đứng dậy. Chỗ này phải nhớ không lẫn, đỡ lưng nữ ở tay phải vì hông trái nam là để đeo kiếm. Tôi sẽ dẫn nàng ra chỗ trống ở góc treo bức tranh cổ, sẽ kiểu cách như một Hoàng Tử, sẽ có mình trong truyện cổ tích, sẽ dẫn nàng lạc vào giai điệu Valse, vào cái thời xưa ấy.

Buổi tối hôm đó tôi đến cửa hàng. Chiếc măng tô mầu rêu không còn. Tuyết không rơi nữa. Đèn vẫn nhấp nháy nhưng như không còn gấp gáp giục giã như mấy hôm trước. Cây thông được đặt vào chỗ cái áo xưa, bên cạnh là một loạt khăn và mũ các kiểu xếp và treo. Tôi cũng chưa hỏi câu nào. Đó là ông chủ cửa hàng nói ngay khi thấy tôi. "Không có cái thứ hai" - Ông ấy nhìn tôi ánh mắt thân thiện pha chút ái ngại - "Chiếc áo nó vẫn muốn chờ pan. Nhưng không chờ được".

6. MATRYOSHKA

Những con búp bê làm bằng gỗ sơn vàng óng mà một ông lão người Nga tặng vợ tôi ở phiên chợ ngoại ô tiếng Nga gọi là Matryoshka. Không có chiếc áo măng tô mầu rêu trong tay, tôi trở về nhà với cảm giác hụt hẫng. Mở cửa vào phòng thì nhìn thấy chúng đang đứng xếp hàng ở ngay cạnh gối đầu nàng.Con búp bê út bé xíu thì ngả ngay trên gối cạnh những đọn tóc đen xõa. Cảm giác Noel như trong truyện cổ tích tưởng không còn bỗng trở lại. May quá, nàng đã ngủ say, khuôn mặt lộ vẻ thỏa mãn. Hôm nay nàng bán gần hết như hết hàng. Ông Nga này là một kiến trúc sư ở Kiev bày hàng bên cạnh hàng chúng tôi. Hàng của ông ấy lủng củng toàn kìm búa, đồ điện, phụ từng ô tô xe máy. Chúng tôi uống rượu Vodka với bánh mì đen mỡ muối và nói chuyện về Ucraina, nơi tôi đã học và nghiên cứu hơn mười năm tuổi trẻ của mình, về đội bóng Dinamo Kiev và các cầu thủ của họ.

Tôi nhìn nàng ngủ. Trong bóng tối nhưng tôi vẫn thấy rõ khuôn mặt nàng, những nếp nhăn trên khóe mắt. Hồi mới sang Ba Lan có một thôi, giờ đã bốn nếp nhăn ở khóe mắt phải, bên trái chỉ có ba. Tôi nhìn lũ búp bê gỗ Matrioska. Chúng cũng như con ngườì vậy. Chúng nó được che đậy bằng hàng ngàn lớp vỏ bọc để cho một cảm giác an toàn. Bằng mắt thôi thì sao có thể hiểu được con người một cách trọn vẹn. Bằng lời thì rất dễ ngộ nhận và nếu không ta chỉ thấy một vẻ kiêu ngạo, vô cảm trơ như gỗ và lạnh lùng nữa. Rồi bên trong lớp vỏ vẫn còn những lớp vỏ khác và chỉ bên trong cùng là sẽ có một trái tim. Cứ tin như thế đi, có cái trái tim ấy. Cũng chỉ có sự yêu thương, quan tâm, kiên nhẫn thì mới thấy được nó. Cũng cần dè chừng. Trái tim của Matrioska nằm ở búp bê út, vỏ bọc cuối cùng, bao giờ cũng mỏng manh dễ vỡ và yếu đuối nhất, dễ tổn thương nhất...

7. TUYẾT

Hôm đó tuyết như rơi dày hơn, phủ kín cửa sổ. Tôi muốn bật nhạc nhưng sợ đánh thức nàng. Tôi tự nhủ là sáng mai mình sẽ đi vào Holiday-Inn Hotel đối diện với Mariotte Hotel ở mé bên nhà ga. Nghe nói ở đó hay có bán hàng đồ hiếm. Lúc lên giường nằm nhắm mắt tôi như lại thấy cái nhìn có vẻ trách móc của ông chủ cửa hàng ấy. Hóa ra ông ấy đã thấy nàng. Ông ấy rất hay từ cửa hàng nhìn người đi qua phố. Ông đã nhiều lần thấy chúng tôi lúc đi bán hàng về. Hôm nào ế hàng nàng đi trước tôi kéo xe hàng sau, ế nữa mà qua những chỗ trơn thì cả nàng kéo. Hôm nào bán hết hàng, tôi khoác cái xe lên vai tung tăng đá tuyết. Kệ nàng đi trước trong chiếc áo bông mầu đen to. Chiếc áo bị rách không bán được. Nàng lấy mặc. Ấm.

Noel năm ấy tôi mua cho nàng chiếc áo da đen sang trọng ở cửa hàng đồ hiệu trong Mariotte Hotel. Áo da đang là mod. Có người khen đẹp, trông không dại như những chiếc áo da khác bán ở chợ mà nhiều người Việt mua diện. Cũng có nhìều người lại chê. Áo da ở chợ có nhiều khoá hơn, túi áo cũng ấn tượng hơn. Năm ấy các bà, các cô người Việt đều diện áo da mặc ngoài và váy sườn xám bên trong. Nàng có hai chiếc váy sườn xám cùng kiểu nhưng khác mầu. Một cái còn thêu.

8. VĨ THANH

Chuyện cái áo khoác nữ màu rêu mùa Giáng sinh ấy đã qua lâu, cả những chuyện khác nữa, những chuyện vui buồn, được mất của những năm tháng tha hương kiếm sống cũng đều nhạt nhoà lãng quên dần trong ký ức. Chúng tôi cũng đã trở về sống ở quê nhà, giờ lại bận tâm với bao chuyện đời thường hằng ngày. Chỉ có mỗi năm một lần, tháng Noel, tôi lại hay mở những bản nhạc Giáng sinh, lại nghe thấy một giai điệu Valse xưa, cái bản "Cinderella Valse de l'amour" mà tôi đã định để nhảy với nàng ở quán Cafe Warszawa mùa đông ấy. Tôi lại nhớ tuyết, nhớ những ánh đèn màu sắc lung linh, nhớ cái phố nhỏ Gorskiego ở ngay trung tâm Warzsawa, nhớ cái phòng nhỏ tầng tư, nhớ hình nàng đang ngủ say trên giường vẻ bình thản, yên tâm với những con búp bê gỗ bên cạnh gối. Tôi lại nhớ chính tôi xưa rồi. Nhìn lên trên tủ kính lại thấy lũ Matrioshka. Chúng hình như cũng rung rinh lắc chao theo tiếng nhạc. Con bé nhất thì như còn muốn nhắc điều gì nữa. Cũng có thể nó muốn hỏi tôi là sao hồi đó lại không mua cái áo khoác màu rêu tặng nàng, cái áo có trong chuyện cổ tích ấy. 

SÓNG THETA

Chỉ một ngón gõ xuống phím đàn, một nốt

Âm thanh sao rung cả không trung

Chỉ một viên sỏi rơi xuống nước

Sóng theo nhau đến tận vô cùng 

1. TRUNG TÂM KHÍ CÔNG

Thế là đã bốn năm rồi tôi bị bệnh dạ dày, cuộc sống đồng hành với cơn đau bụng, chữa hết tây lại đông y mà chẳng ăn thua. Tình cờ lại gặp một người khuyên nên chuyển sang chữa tâm linh, cụ thể là đến Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khí công trường sinh ở đầu ngõ 12 phố Khuất Duy Tiến, cũng không xa nhà tôi lắm, tội gì mà không thử.

Bà giám đốc của Trung tâm cũng không hỏi han bệnh của tôi gì nhiều. Ở đây họ khám bệnh theo cách tâm linh. Bà ấy ngồi ghế trước mặt tôi, nhắm mắt, thấu thị một lát rồi nói tôi có một khối khí ở vùng bụng dưới mỏ ác làm tắc mạch nhâm khiến tỳ khí bị lệch đi rồi từ đó dẫn đến phát bệnh ở phần trung tiêu và hạ tiêu của bụng. Sau khi làm thủ tục hồ sơ bệnh nhân, có phác đồ trợ khí tôi cầm lên phòng tầng trên và được một thầy trông còn trẻ chữa cho khoảng nửa tiếng. Thầy nhắm mắt và tôi ngồi ghế đối diện cũng nhắm mắt. Được hai tuần với chi phí không đáng kể chỉ với mấy trăm ngàn tôi đã cảm thấy sức khoẻ khá lên, đi Bệnh viện Hữu nghị khám lại thì các chỉ số xét nghiệm đều cải thiện. Tiền liệt tuyến từ 38 gram giảm xuống còn 32 gram,. Tôi mừng lắm và lại tiếp tục đến Trung tâm để được trợ khí mỗi sáng.

Rồi một hôm vừa bước vào phòng lễ tân của Trung tâm đến cái giá lấy dép thay giầy tôi xuýt bị vấp phải một ông. Tôi nghe tiếng xin lỗi, tiếng rất trầm lạ, cứ như âm thanh bị nuốt cục vào ấy, khó diễn tả. Cũng không kịp để ý vì còn mải tìm hồ sơ trị bệnh cùng cô thư ký. Lúc bước tầng hai không hiểu sao tôi bị trẹo chân nhẹ, phải giữ tay vịn cầu thang và chúc đầu xuống thì thấy mấy cán bộ và cả bà giám đốc Trung tâm đang ngồi nói chuyện với một ông có mái tóc xoặn, cái ông va vào tôi ở chỗ giá dép. Ông ấy ngước lên nhìn tôi rất nhanh. Tôi cũng bước lên nhanh tầng ba vào phòng nơi tôi vẫn ngồi để ông thầy trợ khí. Ở đây người ta không nói chữa bệnh mà là trợ khí vào người bệnh và nhờ đó khí huyết lưu thông, kinh mạch cũng thông, bệnh lui dần. Tất cả gói gọn trong câu của Hải Thượng Lãn Ông "Thông bất thống,thống bất thông".

Tôi ngồi ghế trước ông thầy, nhắm mắt, để tay xoè trên đầu gối, chầm chậm thở. Mọi thứ như không còn tồn tại ngoài hơi thở. Đúng vậy, "Thượng Đế cho ta thành người với hai bảo vật mang theo để đi hết cuộc đời là Hơi thở và Ý nghĩ. Hãy nương tựa vào chúng, chỉ hai thứ đó thôi, không có gì khác nữa đâu".

Cùng với hơi thở sâu đều chậm nhẹ những ý nghĩ xáo động, những lo âu tạp niệm tan dần tôi như chìm dần vào một thế giới khác. Mấy lần trước tôi có lúc ngủ gật, có lúc như bồng bềnh lạc vào mây mới lạ. Lần này tôi thấy mọi thứ rất rõ, cả hình ảnh, cả âm thanh, những trailer trong một bộ phim như được tua lại. Bộ phim về một lần lang thang của tôi ở miền Nam Ba Lan năm xưa.

2. TRAILER

Trước mặt tôi là bảng giờ tàu hoả đi các tỉnh từ Warszawa. Nàng kéo tay tôi rồi chỉ chuyến tàu đi Krosno lúc 20 h và đến nơi là 6 h 30. Tôi vừa đón vợ từ Moscow sang và còn phải chờ những bịch hành nàng nghe bạn khuyên đánh sang bị chậm. Tôi đành gọi điện báo cho bà chị họ ở West Berlin là hoãn ghé thăm anh chị khi trở về Algerie, nơi tôi đang có hợp đồng giảng dạy. Trong lúc chờ đợi hàng họ, đi chơi Warszawa lại gặp cậu cháu học bên đó. Nó đưa cho hai túi hàng và khuyên cô chú đi về Krosno, một thị trấn tận miền biên giới Đông Nam Ba Lan bán chợ phiên cuối tuần chạy lắm, vừa có tiền, vừa du lịch ngắm cảnh thì sẽ ấn tượng sâu sắc về đất nước và con người hơn. Tôi có hỏi về sự an toàn thì nó cười: "Ba Lan chứ có phải Liên Xô đâu. Tất nhiên cô chú cần cẩn thận".

Thế là hai xe kéo, hai bịch hàng ở sân ga được một ông Ba Lan giúp đưa lên tàu. Tôi còn đeo thêm một ba lô nữa. Tàu vắng vẻ. Chúng tôi ngủ quên lúc nào, để rơi cả hai hộp ga xịt tự vệ lăn lóc dưới sàn. Đến 6 giờ sáng thì vợ chồng tôi xuống ga Krosno và kéo hàng ra chợ họp ở sân vận động..."

(Có tiếng chân ai đó đi vào phòng rồi lại im ắng. Chắc lại thêm một bệnh nhân đến ngồi chờ. Tôi vẫn nhắm mắt thở đều và rồi hiện tại lại chìm đi, những hình ảnh năm xưa lại trở lại, rõ dần...)

....Nàng mặc cái áo blouson đỏ tôi mua ở Paris, đẩy túi hàng màu đen, mái tóc đen xoăn dày lộ ra khỏi cái khăn choàng Nga, tung tăng trên con phố nhỏ với những ngôi nhà vườn sau những hàng rào, bụi cây, cành táo. Đi hết dãy phố, nóng quá nàng kéo tụt khăn xuống vai. Có mấy người đi vượt lên chúng tôi. Một ông ngoái lại nói:

- Pani có cần tôi đẩy giúp không, rẽ phải đến ngã tư kia là chợ rồi đấy.

Đến ngã tư thì thấy bãi đất rộng mênh mông. Chợ họp ở tận bãi bên đầu kia, lều, xe ô tô, người tấp nập, văng vẳng là tiếng loa thông báo hướng dẫn lẫn quảng cáo cùng tiếng nhạc nữa. Chúng tôi cảm ơn cái ông đẩy hộ xe hàng và dừng lại nghỉ ăn sáng đã, còn bọn họ nhảy xuống bãi và cùng chạy đuổi nhau sang chợ. Ăn xong thì có lại có mấy người đi qua hỏi "Pani có gì bán không?". Thế là vợ tôi không kịp uống nước mở ngay túi hàng ra. Này thì một đống màu sắc vải vóc: áo phông nữ, khăn mùi xoa, quần xịp nữ...Nàng giơ từng cái lên nói giá rồi cứ như không phải là bán nữa mà là phát. Mọi người ở đâu lại kéo đến giơ tay tới tấp, cầm, xem. Một ông mặc áo phông màu vàng liền yêu cầu bà con chuẩn bị sẵn tiền cho đủ, xếp hàng mua xong trả tiền ngay cứ như ở trong cửa hàng ấy. Tôi nhắc vợ là bán cùng một giá cho gọn nhé, đừng tham, kì kèo và lùi xa chút để bao quát. Bên kia đường có một ngôi nhà nhỏ và có một ông lão ngồi nhìn qua cửa. Tôi hơi lo là mình bán hàng ngay ở đường thế có hợp pháp không, nhỡ lại ông ấy khó chịu rồi sinh chuyện.

Mấy cậu con trai hỏi cái bịch của tôi có gì. Tôi mở ra toàn áo gió. Tôi nói một giá chẵn cho đỡ phải trả lại và thế là cũng lãi gấp đôi giá lấy rồi. Tôi bán vèo cái hết thì trời đổ mưa ào một cái. Mọi người ù té chạy sang bên kia đường. Tôi đang lúng túng với xe kéo và vợ thì có một cái ô to xòe ra che cho nàng. Cái ông lão bên đường ấy. Nhìn kỹ thì ông ấy cũng hiền.

Mưa tạnh, trời hửng nắng đẹp, mọi việc mua bán lại tiếp tục, lại xếp hàng, lại vẫn cái ông đứng nhắc mọi người. Còn ông lão mang ô che biến mất khi nào. Chắc ông này đã yên tâm về hai người châu Á với hàng họ không bị ướt rồi. Chắc tối nay ông ta sẽ kể cho Đức Chúa nghe. Dân Ba Lan đi theo đạo mà.

Và tôi lại nhớ không quên cái hình ảnh nàng sung sướng tung cái xịp cuối cùng lê trời xòe tay kêu hai tiếng: "Nhem ma" (tiếng Ba Lan là ”Hết rồi -TG). Mọi người ồ lên có chút tưng hửng rồi giải tán. Nói chung người mua được, người không đều hỉ hả. Tôi cảm ơn cái ông "trật tự viên" và vợ tôi lấy một cái áo, cái quần xịp đã để riêng ra lúc mưa tặng ông ấy mang về làm quà cho vợ. Ông ấy cười và trả tiền. Vợ tôi cứ nài. Tôi cầm tiền, sau đó nói với vợ: "Ông ấy có làm thuê đâu nên không nhận. Dân Ba Lan họ thế mà cho đơn giản".

Chúng tôi thong dong sang xem chợ rồi vào quán ăn thấy cô nàng bán hàng đã xúng xính trong cái áo phông mua được của vợ tôi rồi. Vợ tôi cười khen vừa và đẹp với cô ấy. Cô nàng cười lại sung sướng.

3. HƯNG

Thế rồi tuần sau, lại đúng phiên chợ, vợ chồng tôi lại lấy hàng xuống bán, vẫn loại hàng đó đã bão hoà trên Warszawa, lại bày ra đúng ở chỗ cũ. Vợ tôi bán hàng cũ còn phần tôi thì là một chồng áo gió. Đang bán hàng thì có một người Việt xuất hiện chào và hỏi chuyện tôi, giọng khàn đục lạ kỳ. Anh ta thấp hơn tôi nhưng trông chắc nịch trong bộ Jean sờn bạc, tóc xoăn dày, má lại xanh râu quai nón. Một bộ đội nằm vùng đây (tên chỉ những người Việt sang sống tự do làm ăn ở Liên Xô và Đông Âu hồi đó - TG). Tôi hơi thoáng ngại nhưng xung quanh đông người Ba Lan nên yên tâm từ tốn đáp là vợ chồng chúng tôi từ trên Warszawa xuống tranh thủ phiên chợ này thôi trong lúc chờ tuần sau rời Ba Lan sang Algerie. Anh này tự xưng tên là Hưng, nói là sống ở đây:

- Tuần trước nghe nói có đôi người Việt đến bán hàng rẻ lắm, tôi phải đóng cửa hàng lại. Anh chị để tôi bán cho, bán phá giá rẻ thế nó phí đi - Anh ta nói rồi đứng ra bán hộ. Anh ấy thạo tiếng Ba Lan và có một cái gì đó như mối liên kết vô hình với những người mua, họ không kì kèo, mặc thử gần như đúng cỡ anh chọn cho. Tôi chỉ việc thu tiền. Phải nói là bán giá cao hơn tôi định nhiều. Bán hết hàng anh chàng mời chúng tôi lên cái xe Fiat xanh đỗ bên kia đường và chở ra ga. Hãy còn hai tiếng nữa mới đến giờ tàu về Warszawa. Tôi mời anh vào quán và lúc xuống xe nói khẽ với vợ là có lẽ biếu anh ấy ít tiền đã giúp mình bán lãi và cũng là cách xin lỗi anh ấy vì mình đã đến phá giá lần trước. Trong lúc nâng cốc tôi nói ý định thì anh ấy gạt đi. Anh ấy nói biết tôi, đã gặp một lần ở Bộ môn Cơ học máy của tôi mấy năm trước và lại nhận ra ngay.

Hoá ra mấy năm trước có một giáo viên trường Đại học Quân sự ở Vĩnh Yên về báo cáo đề tài nghiên cứu sinh ở Bộ môn tôi và có thêm mấy đồng nghiệp sỹ quan nữa đi cùng trong đó có một thượng uý tóc xoăn là cái anh Chí Hưng này. Khi đó tôi là thư ký buổi báo cáo nên Hưng nhớ. Tôi cũng vẫn nhớ cái đề tài khoa học đó về điều khiển dải tần của kết cấu. Hình như tôi có đặt câu hỏi về các tần số thấp liên quan đến sóng não Theta với những hiệu ứng chữa bệnh hay thần giao cách cảm, những giấc mơ, những mách bảo từ đâu đó mà ai đi vào khoa học hay nghệ thuật ít nhiều đều trải nghiệm. Hưng nói là nhớ hết cái lần gặp gỡ xưa đó. Hưng cũng không giấu diếm kể vắn tắt số phận của mình sao lại xô đẩy đến cái vùng miền Nam xa xôi này.

Khi Hưng đi nghiên cứu sinh ở Ba Lan thì vợ được sang thực tập báo chí ở Liên Xô. Khi Liên Xô tan rã anh tìm cách đón vợ sang Ba Lan thì cô nhà báo đi tuột sang Đức theo một người đàn ông khác. Họ cũng chưa có con cái. Hưng bỏ công việc nghiên cứu vượt biên sang Đức tìm vợ và nửa năm sau trở về tay trắng. Anh kéo cái tay trái áo gió lên để lộ ra cánh tay gân guốc rắn rỏi với một vết sẹo sẫm, một vết dao chém. Anh bị đuổi học và bỏ về miền Nam xó xỉnh Ba Lan này buôn bán để sống, "để quên hết những quá khứ, để tái sinh lại thành một người mới dưới cái tên Adam".

Lúc đó thấy vợ chồng tôi có vẻ ái ngại, thương xót Hưng khẽ lắc đầu cười bảo là không sao đâu. Tái sinh là phép mầu của Chúa mà. Anh chỉ một cậu ngồi bàn xa: "Nó người Nam Tư đấy, bên ấy cũng loạn lắm. Nó cũng vừa lấy một cô vợ Ba Lan. Từng con người phải luôn tái sinh lại. Đất nước cũng vậy thôi. Ba Lan là như vậy ".

Lúc chia tay tôi có hỏi về gia đình ở Việt Nam. Anh bảo bố mất, còn mẹ sống với ông anh sinh đôi. Lúc đẻ ra đáng nhẽ anh chết ngạt rồi nhưng cứu được nhưng số phận cũng đã định rồi. Ông anh sinh đôi cũng tên là Hưng, chỉ khác đệm thôi. "Mà đúng ra cũng chỉ nên có một ông ấy thôi là đủ. Mẹ tôi đẻ ông ấy ra trước, tôi ra sau suýt chết ngạt, lại ra đúng giờ kỵ, nuôi khó lắm. Cứ để mọi người nghĩ rằng tôi đã chết, mất tích, đã bị xảy như bao người con Việt khác. Không nhiều nên người ta ít nói thôi, nhưng cũng không ít đâu". - Hưng nói, giọng đục trầm đến lạ, âm thanh như bị nuốt vào cổ ấy dù nghe rất rõ.

- "Đấy là mọi người, thế còn mẹ và ông anh" - Vợ tôi thốt lên.

- "Hai anh em tôi vẫn trao đổi với nhau mà, chắc là bởi cái sóng não Theta ấy phải không anh"....

Có bàn tay chạm khẽ vào tay tôi, đánh thức tôi ra khỏi cái quá khứ xưa ở miền Nam Ba Lan ấy. Tôi gật đầu chào ông thầy chữa bệnh và đứng dậy nhường chỗ cho người khác.

Lúc xuống tầng một thấy còn mỗi Vân cô thư ký. Tôi hỏi cô ấy về người đàn ông tóc dày xoăn lúc nãy. Hoá ra là một bệnh nhân được thày Chưởng môn chữa cho lâu lắm rồi và thu nhận làm đệ tử khoá đầu tiên. Ông Hưng này cũng chữa được bệnh cho nhiều người lắm. Ông ấy sống ở Ninh Bình và sáng nay qua thăm Trung tâm. Cuối tháng này Trung tâm lại tổ chức đi Nho Quan Ninh Bình thụ khí. Thày Chưởng môn tìm thấy cột khí linh lắm ở bìa rừng.

4. VỸ THANH

Thấm thoắt một tháng trôi qua, bệnh tình tôi đỡ hẳn. Bàng quang, tiền liệt tuyến, đại tràng có vẻ ổn. Các cơn đau ở phần hạ tiêu (bụng dưới) không thấy nữa, ngủ ngon hơn. Một ông bệnh nhân đã khỏi rồi, chỉ đến chữa lần cuối mà tôi gặp chỗ gửi xe thì khuyên tôi nên thay đổi quan niệm và cách sống. Cụ thể là cần cân bằng phục hồi Âm Dương. Bệnh là do mất Chân Âm đấy. Kể ra cũng đúng, tôi thì Dương vượng quá, tính hay vội vàng nóng nảy. Ông ấy bảo cần tập thở sâu, giữ hơi lâu đưa khí xuống phần bụng và tập đi bộ kiểu hành thiền sao cho chân trụ vững thân đẩy lên thả chân kia xuống rồi dùng thân nén kiểu Cucaracha (giết nát một con gián ấy). Kể ra ông ấy nói cũng có lý. Mấy năm trước còn sống ở Láng Hạ sáng hay tối tôi hay chạy sang hồ Thành Công nhảy nhót, cầm hết tay bà nọ cô kia, cứ một ông phải đến bốn năm bà, Chân Âm tha hồ dồi dào. Từ hồi chuyển về Thái Thịnh ở, xa, ngại, mất hết Chân Âm, ốm.

Hôm sau tôi ngồi trợ khí. Nhớ lời ông hôm qua dặn cứ hít sâu hơi xuống bụng duy trì sâu đều chậm nhẹ. Rồi tôi thấy nhẹ bỗng, mọi thứ tan dần. Và một điều kỳ diệu xảy ra. Có tiếng nhạc Valse, bản Sóng Danube rất khẽ nhưng nghe rất rõ. Không thể là trí tưởng tượng ra từng tiết tấu, giai điệu, hoà âm như vậy được. Và rồi tiếng nhạc dừng. Tôi vẫn chìm trong hơi thở nhẹ, chờ tiếng nhạc nó quay lại. Không có âm thanh nào khác trong phòng ngoài tiếng quạt gió.

 Rồi một hôm vắng bệnh nhân, tôi chữa xong về sớm. Trên đường về bỗng lại nghe thấy bản nhạc hôm nọ. Tôi đi chậm dừng xe vào để cố nắm bắt giai điệu đó từ đâu. Hình như từ trong sân này. Có mấy ông bà đang lai nhau súng sính áo quần giày dép rẽ vào. Một ông thì kêu: "Em trang điểm lâu quá, thế là lỡ mất điệu Valse Vienne rồi".

***

CHÚ THÍCH SÓNG THETA

    Hoạt động sinh lý của não người liên quan đến các xung điện và sinh ra sóng não. Sóng não chia thành 5 loại là Beta, Alpha, Theta, Delta và Gamma.

    Với tần số từ 4-7Hz, sóng Theta xuất hiện khi con người đang thiền định gắn và rơi vào trạng thái vô thức, nơi mà tâm trí có khả năng hiểu biết sâu sắc, trực giác bộc lộ, thân tâm hòa đồng. Lúc đó con người có thể kết nối với vũ trụ, khai mở để có thể trải nghiệm những tưởng tượng sống động, nguồn cảm hứng tuyệt vời và sáng tạo sâu sắc. 

CHUYẾN XE KHÁCH

Đừng tưởng cứ vần là thơ

Cứ âm là nhạc, cứ tờ là tranh

Đừng tưởng cứ vội thì nhanh

Cứ tranh là được, cứ giành thì hơn

(Thơ Bùi Giáng)

 

Đợt đi dạy tại chức ở Ninh Bình tôi cố kết thúc sớm hơn một ngày. Ở Hà Nội nhiều việc quá, phải về giải quyết. Lúc ăn cơm trong nhà hàng với mấy đại diện lớp có cô lớp phó búi tóc là phó giám đốc một công ty du lịch. Tôi nghe cô nàng kể về Vườn quốc gia Cúc Phương hay Cố đô Hoa Lư, về các suối nước hay chùa chiền ở Ninh Bình mà vào tai nọ ra tai kia vì lâu lắm rồi tôi mới thấy được cái búi tóc đen, lại nặng dày thế. Chắc để sổ ra thì dài lắm. Tất nhiên chỉ mỗi búi tóc thì nó không có gì đặc biệt. Đây lại còn cái cổ có ngấn, lại cái môi dưới trễ chiều nữa... Nhưng thôi, cũng có lúc tự mình hiểu nhưng không chịu thú nhận điều đó nhất là lại viết ra. Tôi nói là tiếc lắm nhưng thôi để khi khác. Theo đúng lịch đến ngày kia mới có xe con nhà trường xuống đón nên cô có ý định tự đưa tôi về Hà Nội nhân thể thăm cô con gái mới học Đại học năm đầu trên đó nhưng tôi bảo không cần xe con đưa thầy về đâu, đi xe ngoài cũng có cái hay, lâu không đi tàu xe ngoài rồi, cũng nhớ. Mãi rồi cậu lớp trưởng nói:

- Thôi vậy, sáng mai em đến sáu giờ. Thày trò mình đi ăn sáng xong bảy giờ ô tô đến đón. Em gọi xe của công ty du lịch. Ô tô hai bốn chỗ ngồi chạy nhanh thôi, sẽ về Hà Nội trước mười giờ. Xe cũng rộng rãi, lịch sự lắm.

- Không sao, ba giờ chiều mình mới phải họp cơ. Với lại đôi khi cũng cần thay đổi xe đi, người đi cho nó đỡ đơn điệu.

- Thầy nói giống như ông chú em vẫn nói, Tây nó sang mình du lịch một phần vì mình khác nó. Thầy giáo cũng vậy, thỉnh thoảng đi dậy, đi công tác xa nhà cũng có nhiều thú vị chứ ạ.

Chia tay với mấy cán bộ lớp xong tôi trở về phòng nghỉ. Cũng chẳng có gì mà phải thu dọn. Một vali kéo đã xong, không sót gì. Tôi bật TV cho có tiếng hình, đỡ một mình chứ không xem. Mà sao cái cô nàng trong phim Hàn quốc trên TV lại có cái môi trễ giống cái cô chiều nay thế. Thôi, tắt TV, tắt cái môi trễ ấy đi, đọc nốt truyện ngắn “ Chiều Vắng “ của Nguyễn Ngọc Tư vậy. Đọc chậm, nhấm nháp, chẳng có gì mà vội cả, nhất là cái đoạn Tư viết “ Có điều, cuộc sống dạy chậm rãi quá, nhẩn nha quá. Tốn mười năm, nó chỉ học được vài bài học thí dụ như “không có gì là mãi mãi”, như “đừng mù quáng tin vào cảm xúc” hay “yêu phải để dành”. Nó rất nôn nóng được học nhanh nữa, để chứng tỏ bản lĩnh, sự già dặn của mình. Bữa nay, nó nhận ra mình buồn quá, khôn mà buồn. Biết nhiều mà buồn. Tỉnh táo mà buồn. Trải đời mà buồn. Ngoái lại thì thời vui nhất đã bỏ đi lâu rồi, từ lúc hoài nghi lên ngôi ”. Hay thật đấy, nghĩa là cả mấy hôm xuống đây lên lớp mình chẳng tận dụng cơ hội đi đâu, trải nghiệm gì thêm cả, đến cái cơ hội được ngồi xe con có người đẹp đưa về cũng từ chối và thế cũng là cái tốt, đỡ buồn. Với cái triết lý ngộ nghĩnh đó kệ quyển truyện tuột rơi xuống đất, tôi ngủ quên đi. Ngủ ngon vì tâm an rồi.

Sáng hôm sau lên xe tôi đã thấy có bốn người nước ngoài, ba cậu và một cô, đều trẻ. Tha hồ chỗ ngồi nhé. Cô gái thì có vẻ người châu Á, tóc đen, mắt đen. Qua mấy câu chào hỏi tiếng Anh tôi biết được họ là sinh viên Úc sang du lịch. Tôi chọn chỗ ngồi sát cửa sổ và tranh thủ nhắm mắt hình dung về cuộc họp chiều nay, những ý kiến gì cần trao đổi. Thực ra tất cả chỉ mất năm phút để các gạch đầu dòng lại xuất hiện trong đầu tôi. Bao nhiêu năm rồi, chúng luôn thường trực lúc tôi cần, lại những đại từ, danh từ, mẫu câu, được nối với nhau bằng những đánh gia khen chê kèm với từ “ Tuy Vậy “ hay là “Nhưng“ ấy.

Cũng chỉ có bốn người ấy và tôi là nhũng hành khách sử dụng dịch vụ gọi điện đặt chỗ cho xe đến đón tận nơi, còn lại là khách vẫy dọc đường. Thế mà ra khỏi thành phố tôi mở mắt nhìn thấy các ghế đã chật hết rồi. Tuy nhiên vẫn có khách đợi vẫy xe bên đường dù thấy xe đã chật ních người. Xe cứ dừng và khách lại cứ lên. Mọi người có kêu ca, than vãn nhưng không phản đối, chịu khó lèn nhau thêm. Thật kỳ lạ, rồi ai cũng có chỗ ngồi cả. Đúng là khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Khéo ngồi thì cậu phụ lái lại khen ngợi bà con và lại không bỏ qua một người khách đứng đợi ven đường nào cả:

- Lên khẩn trương nào, đấy, cô chịu khó nhé, anh áo xanh, nào dồn một tí. Anh nữa, một tí, một tí.

Khoảng cách giữa hai anh xuất hiện chưa đầy một gang tay. Cô nàng thì có cái đế khá đồ sộ, núng nính. Tôi ngồi cạnh cửa sổ hàng ghế thứ ba sau bác tài, cứng cựa phần dưới nhưng cũng cố xoay cổ lại để xem lời giải bài toán hình học phi Ơ cơ lít này. Sau tôi mấy cậu Tây trẻ cũng đang vừa xoay xở chọn góc nhìn tốt nhất, vừa ngưỡng mộ. Cô gái Úc thì đã ngồi tít ngất nghểu trên lòng cậu có bộ râu xồm nâu hoe giống màu tóc, tay cầm chiếc điện thoại mác Vertu, cái loại điện thoại dành cho các đại gia. Mấy người vừa kêu ca, vừa nói những câu đùa tán tỉnh:

- Lèn chặt quá dễ xảy lứa này lắm.

- Thế đấy, cứ ngồi xe con, điều hoà thì làm sao có được cảnh này...  ngồi thế này. Chật cứng không xoay được nhưng cũng là ngồi.

- Bẹp hết cả bánh dày của người ta rồi.

Kể cũng vui. Tôi có dịp nhớ lại những năm tháng tàu xe tuổi trẻ. Còn phải đứng chứ lấy đâu được ngồi. Lần này tôi ngồi sát cửa sổ, bên cạnh lại là một đôi chẳng biết lên có cùng nhau, quen nhau không mà cứ hí hoáy suốt. Tay người nữ lại bị kẹt không rút ra được khiến anh chàng phải xuay lưng sang, ép thêm tôi vào cửa sổ. Tôi buột miệng kêu thì anh chàng xin lỗi rồi lại ổn. Cô nàng rút được tay ra chắc không sao rồi bắt đền anh nọ. Tôi để cái ba lô con lên cao tựa vai vào và giả vờ ngủ đỡ khó xử cho họ. Có lẽ hơn chục năm rồi tôi không đi ô tô khách, hôm nay tưởng đi xe du lịch 24 chỗ ngồi mà quá đi xe chợ. Ý định lên ô tô đọc nốt truyện ngắn tan biến. Nhìn ra ngoài ngắm cảnh cũng không có hứng. Hết nhà cửa, hàng quán san sát lại đến những núi đá vôi như người bị thương, cái áo bị xé toạc hở vai trắng hoác. Tôi cố tìm những bông có lau tuổi thơ của mình. Không thấy nữa.

Lại lèn thêm người rồi. Thôi không sao, chỉ phải chịu đựng cùng lắm là ba tiếng thôi mà. Thực ra mọi thứ tôi đều khắc phục được, quá nhỏ so với chuyện phải bê vác hay đi bộ, chưa nói đến chuyện phải kéo xe trên tuyết như những năm tháng tuổi trẻ. Có điều khổ nhất là cái loa mở nhạc, cái loại nhạc karaoke ỉ ơi làm tôi khổ nhưng quả thật là nhiều lại người thích. Giọng chàng ca sỹ lại đang ngân nga: "Giới hạn nào trong chúng ta", thật đúng ngữ cảnh này. Tự dưng tôi lại nghĩ đến cô nàng có mái tóc bíu đen nặng và chiếc xe Mazda trắng. Cái môi dưới trễ đâu có hờn dỗi, đòi gì như mình tưởng bở mà là như đang muốn nhạo trêu mình, cho đáng đời.

Đến gần Phủ Lý cậu phụ xe thu tiền. Lên trước lên sau cùng một giá cả, cứ tính đi từ gốc Ninh Bình. Mấy bà lên sau kỳ kèo cậu ta cũng không bớt, giọng dứt khoát, chuyên nghiệp. Tôi chuẩn bị sẵn tiền vé tròn cho xong. Tự dưng mình thấy sung sướng so với mấy bà ấy, đi từ tận gốc, đường xa hơn, lại xe đón tận nơi mà cũng chỉ trả bằng người khác. Chỉ nghĩ thế đã thấy lâng lâng vì may mắn, có thế chứ.

Mọi việc tưởng xuôn xẻ như những chuyện bình thường ở huyện thì lại vướng phải bốn khách Tây ấy. Tây nó chỉ chịu trả tiền có ba vé với lý do họ chỉ dùng chưa hết ba chỗ ngồi. Xí xà xí xộ cũng hiểu nhau vì có cô hành khách sinh viên ghế trên quay xuống dịch hộ. Hiểu nhau nhưng không ai chịu ai. Dù cậu phụ xe có kiên quyết đòi họ trả thêm tiền một vé nữa, cũng chưa đến trăm ngàn, cũng chỉ bằng bốn bát phở, dù cô sinh viên có dịch đi dịch lại, cánh Tây Úc này vẫn ì ra.

Cuối cùng cậu lái xe chính dừng xe, sai lái phụ đuổi khách Tây xuống và cô sinh viên lại phiên dịch cho khách Tây là nếu không chấp nhận thì xuống đi xe khác và trả lại nửa tiền tính cho đoạn đường đã đi. Cô sinh viên dịch lần này rất hay: "We ask you to follow the law and pay full fare like others in the car (chúng tôi yêu cầu các bạn tôn trọng luật pháp và trả đủ tiền vé giống như những người khác trên xe)". Xe lại dừng nhùng nhằng mãi. Bên Tây không chịu, họ gọi điện đến công ty du lịch và hình như được lời khuyên là không hợp thì bỏ đi, thiếu gì xe. Chỉ có bà con là sốt ruột đâm ra ghét Tây. Tóm lại đi thì trả giống mọi người, không đi thì biến. Thời buổi trọng Tây khinh ta qua rồi. Một bà hình như dân kinh doanh còn kể là loại Tây ba lô này qua cửa hàng của bà là không bao giờ được đón tiếp. Xem, hỏi là chính. Năm thì mười hoạ mua được tí thì cò kè phát chán. Đầu giờ mà mấy loại Tây này đến mở hàng thì dông cả tháng. Một ông ngồi trước tôi kể cho mọi người nghe để hiểu rõ Tây hơn:

 - Ai đời sáng hôm nọ tôi đi tập thể dục thấy hai ông xem ôm cứ đôi co với hai cậu Tây trả tiển. Một cậu cứ giơ cái quyển hướng dẫn du lịch Việt Nam in bên Tây và xì xà, xì xộ. Hai bác xe ôm nhờ tôi giải thích giúp. Hoá ra trong quyển sách có cái bảng giá xe ôm. Đi từ Ngã Tư Sở lên tận Hồ Tây mà nó ghi chỉ có mười lăm ngàn có chết không.

- Tây này mà vào hàng ăn thì nhà hàng được lợi là đỡ tốn xà phòng rửa bát. Cứ gọi là bát đĩa ăn xong là sạch bóng.- Lại một cao ông khách nữa góp chuyện.

Chuyện về Tây thật rôm rả. Mãi rồi cuối cùng cũng đến gỉải pháp chia tay. Tây xuống. Tính tiền ba vé cho đoạn đường đã đi. Mấy người Tây nhận lại tiền thừa kêu tính đắt nhưng không ăn thua gì. Tiền đưa vào tay Ta rồi khó lấy lại lắm. Thôi xuống đứng ở vệ đường mà vẫy xe. "Có mấy đồng bọ mà cũng ky bo, thôi xuống cho rảnh, cho rộng xe. Rầy ra cũng mất đến nửa tiếng với mấy đứa Tây rách này" - Một cậu tóc nhuộm vàng cằn nhằn. Cũng không phải tất cả mọi hành khách đều nghĩ như vậy. Có một người ngồi sau tôi nhìn chúng lắc đầu bảo cậu bé ngồi bên: "Không phải họ không có tiền nhưng họ quan niệm khác". Người đó nói đủ khẽ nhưng tôi lại nghe rõ.

Lúc cậu tài xế vào ghế, đóng cửa xe quay lại nhìn cậu lái phụ mắng: "Có mấy thằng Tây củ chuối thôi mà mày không giải quyết nổi, thôi đi". Xe chuyển bánh để lại mấy người khách nước ngoài dưới đường. Thời tiết có vẻ không ổn lắm. Tôi ngoái nhìn thấy họ đã mở túi lấy áo mưa ra. Nói chung người nước ngoài họ đi đâu cũng chuẩn bị khá kỹ. Nếu cần thì họ có thể đi bộ năm mươi cây này về Hà nội. Tôi tin. Hình như với họ thế còn dễ hơn là trả tiền bốn chỗ với ba chỗ ngồi.

Xe đi, mọi người hể hả. Tưởng Tây gì chứ nghèo rách. Cậu lái xe còn vừa lái xe, một tay vừa gọi điện thoại báo cho các xe sau không cho Tây lên: "Chúng củ chuối lắm, nghèo rách, không có tiền đâu...".

Thấy cậu ta lái một tay, say sưa một tay điện thoại tôi buột nói: "Bác tài ơi cẩn thận lái đi. Còn mấy đứa ấy là sinh viên Úc khoa báo chí sang thực tập viết bài về Việt Nam đấy. Không biết chúng sẽ viết gì nhưng con bé tóc đen ấy nó quay, ghi âm và chụp được nhiều lắm".


Chỉ vì em mau nước mắt

Mà thơ tôi bật khóc suốt chiều qua

Tôi dỗ nó, nín đi nào hãy nín

Hóa thành khăn lau nước mắt cho nàng

 

Cái cầu vượt ở ngã tư phố Láng Hạ lúc mới xây bị nhiều người kêu ca là chướng mắt, làm xấu cái ngã tư, băm nát phố phường, làm xấu cả cái công viên có hồ nước bên kia đường và che mất cả khu chiếu bóng quốc gia bên này đường. Nhưng rồi với thời gian hình như ai nấy đều quen mắt cả, hết thấy kêu ca. Quan trọng là không tắc nghẽn giao thông ở ngã tư đã chứ. Cũng có thể là do người ta đã lại cho xây thêm ở góc phố ngã tư đó một cái nhà cao vút hai ba mươi tầng phủ kín kính xanh, ăn gần hết vỉa hè ra sát ra đường khiến cái cầu lúc đầu tưởng cao giờ lại thấy bình thường, đỡ chướng, hết kêu.

Và quen mắt hơn nữa là ngay dưới gầm cầu chỗ quẹo trái có cái mẹt hàng xén bé tẹo đựng vừa mấy gói tăm, bật lửa, bông tai, kim băng với một bà còng, móm mém, quần đen áo nâu phẳng phiu sạch sẽ. Bà ngồi gập hằn lưng xuống bụng. Không biết lúc bà ấy đứng dậy thì thế nào, bước đi thế nào, lại còn qua đường với cái mẹt nữa. Chắc phải có thêm ai đó giúp. Dù sao tôi cũng không bạn tâm lắm vì còn mải nhìn đèn xanh đèn đỏ ở ngã tư. Có lúc đèn đỏ đứng chờ tôi lại nhớ đến hồi trẻ ở quê, ra chợ thấy nhiều bà còng lắm. Chắc không phải do gen còng của người Việt vì các ông còng thấy hiếm hơn các bà còng. Ngay hồi bé tôi đã nghĩ đó là do nền văn minh lúa nước, do đi cấy và những công việc với tư thế lom khom dành cho phụ nữ. Cái lưng thì cứ sụn xuống cùng tháng năm chịu đựng. Cũng có lúc nhìn lên bản đồ hình chữ S ấy mà thấy cay cay trong lòng.

Ở chỗ quẹo trái đỗ xe ai cũng vội, năm thì mười họa lúc đèn đỏ có người lách đưa nghiêng xe máy vào sát chỗ bà còng ngồi để đặt mấy đồng bạc lẻ vào mẹt rồi vội rẽ xe sang đường. Cũng có lần có cả chiếc xe ô tô đánh sát vào dừng lại, cửa mở ra và một anh đi ra đặt vào mẹt tờ hai chục. Tôi chưa thấy ai mua gì, cầm lấy gì ở cái mẹt bà lão ngoài nàng. Mỗi lần tôi lai nàng qua đấy là nàng lại chuẩn bị mười ngàn và khi đèn đỏ xe dừng thì xuống. Nàng không cho tiền mà mua. Chỉ mười nghàn mỗi lần. Đưa tiền vào tay bà và nhặt một cái gì đấy trong mẹt, thường là cái bật lửa, kim băng, cũ bấm, phong bì hay cuộn chỉ.

Tôi không hỏi nàng bao giờ về chuyện đó, về những vật nàng mua cùng một giá mười ngàn ấy mà chỉ lăn tăn mỗi điều. Đó là giá có ở mẹt hàng xén đó khăn mui soa thì nàng sẽ ra sao nhỉ, nàng của tôi.....

Chuyện xảy ra đã lâu rồi, những vẫn như mới hôm nào rất gần. Chuyện về cái thời của những chiếc khăn tay thêu hoa hồng ấy, cái thời mà nàng rất thích nước hoa Chanel 5 với cái mùi thơm của Hoa Oải Hương, Hoa Hồng và cả Hoa Nhài nữa.

Ấy là hồi ở Ba Lan tôi lo cho nàng một kios ở trung tâm thương mại Alex. Phải nói là kios có lộc, nó nhìn ngay ra parking thấy cái container 48 feet màu xanh ghi được đặt làm kho của tôi. Cứ đầu tuần một vài hãng may mặc ở Lodz, cách hơn hai trăm cây, mang hàng đặt đến giao cho và các khách hàng từ các nước lân cận Ucraina, Tiệp, Hung, Ru lại sang lấy. Hàng chúng tôi tự đặt theo mẫu riêng và không nhiều nên không có gì phải lo lắng, không bán lúc này, bán lúc khác. Thường thì thứ năm hàng tuần là ngày giao hàng bán buôn, là việc của tôi, còn lại những ngày thường là việc của nàng, bận bịu với khách mua lẻ.

Khách mua của nàng đủ loại. Khách quen cũng nhiều. Có bà mua hàng của nàng sau cứ như là phải bùa, có cái gì ngon cũng để dành mang cho nàng. Lại có bà già lắm rồi, mắt kèm nhèm, chân lần từng bước một sáng nào cũng đúng giờ đến quầy hàng rồi móc ví ra đặt vào tay nàng. Nàng cầm ví mở ra đếm lấy tiền cho năm tập khăn mui soa Thái Lan in hoa các mầu cho vào túi đưa cho bà ấy rồi cất ví tiền vào ngực bà cẩn thận. Bà già lại lò dò đi qua Parking ra bến xe bus. Xe đến đỗ chờ bà lên. Mọi người trên xe đều yên lặng chờ. Họ thu xếp nhường bà chiếc ghế trống ngay cửa. Bà già tự lò dò sờ cửa, lần tay vịn lên xe, lò dò ngồi. Tự một mình, không cầu xin, kiêu hãnh. Qua quảng trường trung tâm Crakow, nơi đông khách du lịch các nước đi dạo, lái xe vòng xe ra chỗ tường thành đỗ lại chờ để bà ấy xuống rồi mới đi tiếp ra bến trả khách. Bà lão ra đứng cạnh tường với các tập khăn mui soa trên tay. Đằng sau bà là những bức tranh treo trên tường của mấy họa sỹ vườn. Họ đứng tán gẫu và chờ khách mua tranh hay mời khách ngồi cho họ vẽ chân dung. Ở đó còn có mấy nhạc công kéo Violin nữa. Cũng có những người trên chuyến xe bà lão đi ấy chờ xe cho xuống bến xong lại đi bộ đến chỗ bà lão mua khăn, xem tranh. Tôi thì cho rằng những tập mùi soa của nàng từ tay bà có lẽ đã ở khắp các nước Châu Âu. Sau này nàng còn tự thêu thêm vào góc các khăn dành cho bà lão đó hai chữ TT tên nàng như một đánh dấu. Nàng kể là có lúc thấy trong ví của bà cả những tờ một trăm đô ai đó mua tập khăn. Nàng phải gói lại riêng ra để bà về cất đi.

Hồi đầu ngày nào cũng thấy bà lão đến, đều đặn, đúng giờ như những chuyến xe bus vậy. Tất nhiên cũng có ngoại lệ khi trời mưa, hay tuyết rơi dày mùa đông. Tuyết không rơi nữa bà lại đến, đi chậm, lò dò từng bước trên tuyết. Bà lão lại tìm đến trước kios của nàng. Những người khách mua hàng lại đứng né sang bên. Bà lão lại đưa tay vào trong cái áo khoác lấy cái ví cũ ra đưa nàng. Nàng lấy tiền, đặt tiền thừa vào ví và đưa cho bà lão cất đi vào cái túi ngực trong áo khoác, cài sửa áo cho bà lão rồi đặt vào tay bà lão  năm tập khăn tay in hoa hồng để sẵn trong túi nylon. Bà lão cảm ơn và quay đi ra cổng chợ cách đó chỉ hai mươi mét. Bà đi chậm lắm, từng bước. Nàng cùng mọi người đều đứng lặng nhìn theo cho đến lúc bà rẽ ra rồi mới quay lại công việc bán mua. Từ mùa đông nọ sang mùa đông kia những bước chân của bà rồi cứ chậm dần, ngắn dần. Rồi không thấy bà ấy đến nữa. Nàng đợi. Nàng đã chọn ra năm tập khăn in hoa hồng các màu cho bà, có cả màu tím, màu xanh. Năm tập khăn thật đặc biệt. Bà lão vẫn không đến. Một ngày, hai ngày, một tuần...và rồi.... Nàng khóc.

Những đồng tiền bán khăn cho bà nàng vẫn giữ cùng với năm tập khăn trong cái hộp cạnh con búp bê gỗ Matrioshka trên cái giá tủ kính trong phòng ngủ.

THẾ GIỚI ẢO

Hình như cõi ấy đông vui lắm

Chỉ thấy sang thôi, chẳng thấy về

(thơ Phạm Thị Thanh Hương)

                                                               

  Mấy năm trước tôi bị bệnh dãn tĩnh mạch, chân hay đau tức, mỏi. Tôi mở trang facebook tìm người cùng bệnh để chia sẻ, để cùng bảo nhau chữa bệnh. Nhưng mãi rồi như chẳng thấy mấy ai quan tâm chuyện chữa bệnh mà vào đó kết bạn chủ yếu là để chia sẻ ảnh, mà ảnh thì phần lớn là chị em đứng tạo dáng bên cảnh đẹp, còn lại là anh em ngồi chạm cốc.

Tôi định đóng facebook lại và đã viết lời chia tay thì có một anh nhắn tin ngăn tôi lại và hẹn gặp rồi đưa tôi đi chữa bệnh. Cũng nhờ đó mà tôi hiểu thêm là dân mình bị bệnh đó nhiều lắm chứ không chỉ riêng tôi và vì thế không có gì phải lo cả. Thế là tôi lại nấn ná ở lại trong facebook thêm.

Mỗi năm số bạn tôi trong thế giới ảo đó lại tăng lên, mà lại không chỉ có ảnh, còn có thêm nhiều bài viểt nữa từ nhiều góc cạnh khá thú vị của cuộc sống, những thứ ngoài đời thường bị che khuất hay thất lạc. Đôi khi có những ý kiến trao đổi cũng rất hay, còn hay hơn những gì tôi từng biết trước kia, ngoài kia. Tất nhiên là cát sạn ở trong đây thì vô vàn nhưng gặp may đãi được thì đó là vàng thật. Tôi cũng bị lây, hay viết comment cho các bài viết của họ, có khi còn share bài về trang nhà để viết phụ họa và nếu lúng túng về câu, về ý thì chọn câu đơn giản đi, xuống dòng cho vần. Rồi số bạn tôi tăng lên, có cả nhiều nhà thơ nữa. Tôi cũng tham gia thêm trong mấy trang nhóm chuyên thơ. Ở đó hoạt động thơ nhiều lắm, là nơi để người viết thơ có chỗ xả thơ viết ra, còn đó có phải là nơi họ chờ hay tìm đọc thơ thì tôi không chắc lắm. Đấy là tôi cứ suy từ mình ra thôi. Cũng phải nói thêm là nhờ chăm chỉ tham gia mấy trang đó mà khả năng gieo vần của tôi dần khá lên và nhận ra cái đáng yêu của tiếng Việt là viết có vần dễ hơn không vần nhiều, ít nhất không lo về ý nữa.

Mãi rồi bỗng dưng tôi lại chán, cũng chán thơ, chán gieo vần, lại định ra, tính tôi khổ thế. Tôi lại thông báo ý định đóng facebook thì có một bạn trong đó ngăn lại với mấy dòng ngắn ngủi "Anh đừng rời facebook và thơ nhé. Thơ anh rất khác". Hóa ra thơ mình có người đọc và tôi ở lại.

Đó là bạn nữ ở miền Nam, bạn ấy cũng làm thơ. Không hiểu sao những bài thơ ấy lại rất gần gũi với tôi, nó mộc, hoang sơ như thời con người chưa có lắm thơ như bây giờ, nhất là những bài thơ viết về cha mẹ, người thân. Cũng có thể những bài thơ của em đã đến với tôi đúng lúc tôi đang chán mọi hoa hòe hoa sói trong thơ nhưng lại muốn tìm trong nó "một nơi trú ngụ của tồn tại", cũng có khi là lại đúng lúc tôi chia tay với các triết lý của Nietzsche, tìm đến Heidegger.

Còn có một bạn nam ở Moscow nữa. Bạn ấy ít viết comment và chỉ like rồi inbox trao đổi riêng với tôi, hỏi về những bài thơ tình tôi viết. Tôi bảo thực ra chẳng phải thơ tôi đâu. Chủ yếu tôi thích xem phim Tây vì mơ có được một bộ phim nhựa cho mình (tôi mê viết kịch bản phim, viết nhiều nhưng vẫn chưa có gì lọt được vào mắt xanh của đạo diễn nào cả). Tôi xem phim rất chú ý lời thoại hay khi nghe bài hát là rất chú ý ca từ ở đó. Câu nào thấy hay là có thể gợi cho tôi tên hay một câu trong bài thơ, một lời thoại trong kịch bản mà tôi sẽ tưởng tượng viết tiếp ra. Nói như anh Khánh Hưng Nguyễn Hữu, một người bạn trên facebook thì thơ tôi viết được khởi đầu từ người khác chứ chẳng phải là của tôi. Và thế là bài thơ ra đời. Nó liên quan đến phim, đời, chuyện ai đó mà tôi chỉ là người thu gom nhặt nhạnh như dân đồng nát thôi. Và cũng chẳng bài nào là hoàn chỉnh cả. Khâu cuối cùng là ở người đọc thôi.

Nhưng cũng thật là mệt để giải thích mãi cho cái anh bạn ở Moscow điều đó. Anh ta cứ đinh ninh "thơ là người". Anh ta cứ cho rằng những gì tôi viết trong thơ là riêng của tôi, chuyện của tôi, tâm trạng của tôi, cô đơn và khao khát tình yêu.

Mãi rồi tôi mới hiểu ra là anh ấy không nghĩ khác được. Một người đàn ông gần đến tuổi năm mươi, cái tuổi của tâm trạng, sống độc thân ở xứ ngưòi và vẫn đang hy vọng, đang đi tìm và vẫn còn tin vào những gì thấy trong thơ, trong truyện, trong phim. Kể ra ở bên đó có gia đình vợ con hay ở Việt nam bận bịu với bao chuyện nọ kia thì nó cũng đỡ đi.

Thôi kệ anh ấy nghĩ về thơ theo cách của anh ấy. Cũng có khi anh ấy gọi qua Messenger kể cho tôi về Moscow, về cái ga Metro mới sửa nơi tôi hay đi về muộn trên chuyến tàu cuối thời nghiên cứu sinh, về món ăn Nga...Còn hỏi tôi thì anh lại hay hỏi về đàn bà, về tình yêu. Phải nói là thời trẻ tôi đọc truyện nhiều, nhất là những đoạn đánh nhau hay yêu đương nên hay có chuyện để kể thêm cho anh ta. Cũng đã sống ở Moscow nên tôi hiểu cái cảm giác trơ trọi của người độc thân bên đó, nhất là vào mùa đông tuyết trắng phủ, đêm dài, thèm nghe tiếng Việt, thèm một câu "Dạ", thèm cả bị trách móc...

Sau này tôi ít làm thơ. Một phần ý thích dịch chuyển dần sang các bóng đá, thế sự, các vấn đề khoa học hay tâm linh...những chuyện anh ấy ít quan tâm. Chúng tôi nói chuyện cũng thưa dần, đèn nhà anh ấy cũng ít sáng. Tôi nghĩ chắc anh ấy đang dành thời giờ cho ai đó bên ngoài. Tôi không hỏi chỉ thầm mong mọi việc sẽ tốt đẹp.

Vừa qua nghe bài hát của Celine Dion tôi bỗng xao xuyến. Cả cái clip, cả giai điệu, cả cái tiếng Pháp khiến tôi lại dựa theo phóng tác mấy dòng thơ tình và lại tag cho mấy người mê giọng nữ ca sỹ và lời Pháp này, có cả Phong.

Ở góc chợ có treo nhiều bùa hình nộm

Ánh mắt bà già ngăn bước chân ta

"Ông hãy mua đi và về cắm kim vào đây mấy chỗ

Miệng niệm thầm, em nhé của anh"

Ta cảm ơn, lắc đầu khất lỗi

Kim đau em, ta chẳng muốn chút nào

Chỉ mỗi khi chao mình trong vòng quay luân vũ

Ta lại niệm thầm "em nhé, của anh"

Tôi nhận được tin nhắn của một phụ nữ "Anh Trung ơi, anh Phong không đọc được bài thơ của anh và nghe bài hát Pháp này nữa rồi. Anh không biết à, anh ấy đã mất hơn năm rồi".

Tôi như lặng đi. Tôi kết bạn nhưng có quan tâm và hiểu gì họ đâu. Cứ tưởng là chỉ trong thế giới ảo, chỉ thế thôi.

Mà nhớ lại những chia sẻ trong Messenger với người bạn này xưa thì hình như câu hỏi chủ yếu mà anh ấy nhắc đi nhắc lại là "có Tình Yêu không". Tôi thì cũng trả lời đi trả lời lại là cái đó phụ thuộc định nghĩa "Love - What is it?". Cũng như thơ ấy, có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu định nghĩa. Bi kịch là con người cứ muốn cái quan niệm của mình là duy nhất.

Tôi có giới thiệu cho anh ấy cuốn "7 ảo tưởng tình yêu" của Mike George nhưng anh ấy chắc không đọc, vẫn hỏi. Tôi bảo chờ tôi cho in tập truyện ngắn "Hoa Oải Hương" đọc sẽ thấy câu trả lời của tôi. Tình Yêu nó có.... nhưng mà trong khung trời Ý Niệm còn chúng ta bị giam cầm trong cái hang Plato, chỉ thấy bóng rối nó bập bùng trên vách đá. Nói cách khác ở cõi ta Tình Yẻu kiểu Plato không có, có thể có những cái na ná. Cả những cái không na ná, khác Tinh Yêu lắm người ta cũng gọi bằng cái từ đó. Rồi người ta nhân danh nó làm đủ mọi chuyện.

Không biết Phong ra đi như thế nào. Có nhắc gọi tên ai không, có cô nào khóc gọi anh không. Nếu biết có ai đó thì inbox địa chỉ để khi có truyện tôi gửi tặng nhờ đọc Phong nghe. Đọc hộ cho Phong nghe cả bài thơ nữa. Bài thơ tôi viết về Phong.

Tôi nhớ mãi một lần kết bạn

Vào trang anh nhiều bức ảnh tha hương

Người bạn ấy ở nước Nga xa lắc

Nơi chỉ còn là hoài niệm trong tôi

Ở nơi ấy hình như vẫn thế

Tuyết vẫn rơi, miệt mài cả mùa đông

Cả con người, cả mùa Thu cũng vậy

Vẫn mong manh khi lá nhuộm sắc vàng

Nhiều bài thơ của tôi, ý do anh gợi

Chỉ là tôi không câu nệ, xuống dòng

Đảo câu từ cho thêm vần điệu

Tôi post lên, anh chờ đó và like

Anh còn hỏi tôi nhiều chuyện lắm

Về quê hương, về phụ nữ nước mình

Tôi nghĩ rằng anh khát khao một nửa

Sợ ghép vào chẳng biết có khớp không

Tôi trả lời quê hương thay đổi lắm

Không như xưa mọi thứ thật xô bồ

Và lên ngôi những bon chen, đố kỵ

Còn nếu nghèo thì đừng nghĩ nữa, quên đi

Những nỗi đau vẫn đi vào vòng lặp

Xé nhỏ rồi lan rộng, mất tăm

Những niềm vui chớp hiện rồi vụt tắt

Chỉ thời gian là hữu hạn cạn dần

Cùng số bạn trong Face cứ tăng lên

Những chuyện khác cuốn tôi đi, quên lãng

Tôi cũng ít dành thời giờ trò chuyện

Chỉ khuyên anh chớ nghĩ, cứ thử thôi

Rồi một lần nghe bài ca tiếng Pháp

Lại bỗng dưng cảm hứng, thơ ra

Và hình như trong mấy người tôi tag

Có cả anh vì lời ca nhắc...Tình Yêu

Trong Messenger ai gửi tôi tin nhắn

" Anh không biết à, anh Phong mất đã lâu "

Tôi lặng đi, rồi băn khoăn tự hỏi

Anh ấy kịp yêu chưa, dù thử, đã kịp chưa.

NHỮNG CON MỌT SÁCH

Sách có cùng kẻ thù như con người: lửa, sự ẩm ướt, thời gian và ngay chính nội dung của nó

(Paul Valery)

1.      THƯ VIỆN

Có một thời đối với nhiều người trẻ độc thân quê tỉnh lẻ, được đi học ở nước ngoài rồi về được phân công công tác ở các trường Đại học hay ở các viện nghiên cứu tại Hà Nội thi Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương ở phố Lý Thường Kiệt, Thư viện Quốc gia phố Tràng Thi là hai nơi lý tưởng để họ đến lấp một khoảng trống lớn thời gian của cuộc sống, để ngồi đọc sách, tất nhiên, nếu không thì cũng nhiều khi đành lang thang dong xe các phố hay ra hồ Tây ngồi ngắm người ta câu cá, xem người ta yêu nhau. Ở đây họ có thể bình tâm tiếp tục công việc nghiên cứu học hành mà họ đã trót đam mê, đã tưởng như tìm thấy ý nghĩa cuộc sống của mình. Nói là "tưởng" thôi vì họ chưa biết làm gì khác, đang chờ đợi hay tìm kiếm một cơ hội nào đó, một cái gì đó, một ai đó. Cơ hội chưa đến thì đọc sách cho kiến thức đỡ rơi lạc, cho đỡ mất thói quen đọc mà họ nhiễm phải bên Tây, cho tâm hồn đỡ xáo động bất an trước cái cuộc sống muôn màu nháo nhác của Hà Nội. Thời giờ thì họ có, lại không bận bịu với các quan hệ, gia đình. Cơ quan của họ thì nhiều nơi chỗ ngồi làm việc không đủ các điều kiện như sách vở, bàn ghế, quạt mát hay cả nhà vệ sinh nữa như ở hai thư viện đó. Những con đường đi dạo trong khuôn viên cũng là nơi để họ làm quen nhau. Cùng đi học nước ngoài, cùng thời thì dù ở Liên Xô hay các nước Đông Âu khác về họ cũng rất dễ làm quen với nhau, cảm thông trao đổi mọi chuyện. Có lẽ những ghế đá, những hàng cây ở sân thư viện đã luôn chứng kiến mọi câu chuyện, mọi ngõ ngãch của suy ngẫm, toan tính, dự định mà họ chia sẻ với nhau. Tất nhiên quá nửa là chuyện gái, chuyện yêu đương, mối lái, chuyện thơ văn. Rồi sẽ có ai đó thưa dần, vắng hẳn, không đến thư viện nữa như trong câu thơ của thi sỹ họ Hàn

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

2.      LĂN TĂN

Thực ra những con mọt sách chủ yếu là học ở Liên Xô về. Số lượng người được cử đi học ở Liên Xô nhiều hơn cả khối Đông Âu gộp lại. Kết quả là người học dốt nhất cũng ở đó, học lấy bằng hữu nghị, và nói tiếng Nga như đánh vật nói chi đến đọc sách. Nhưng những người học giỏi nhất cũng ở trong số sinh viên tốt nghiệp bằng đỏ ở Liên Xô về. Rồi hầu hết số đó lại chạm trán nhau ở hai thư viện Quốc gia ở Hà Nội.

Ngoài cái thói quen đọc sách bị lây ở người Nga những con mọt sách đó lại lây thêm cái tính thích thơ văn. Họ tự dịch khá nhiều thơ và truyện Nga sang tiếng Việt. Một số người thì còn biết tiếng Anh và tìm cách dịch các sách tiếng Anh cho các nhà xuất bản để kiếm thêm tiền. Nói cách khác phần lớn họ cũng quan sát cuộc sống bên ngoài hàng rào thư viện để tìm cách thích nghi. Với một số người để... rời bỏ sách vở.

Lác đác cũng có kẻ cố chấp một cách bướng bỉnh. Thực ra đó là những người rất mơ mộng, rất muốn có những thành công trong khoa học và sẵn sàng hy sinh mọi thứ cám dỗ khác. Lại cũng là một bệnh bị lây từ người Nga. Mơ mộng viển vông, mơ cả giải thưởng Nobel nữa chứ.

Mà cũng có thể họ ngại va chạm những nhốn nháo bên ngoài, ngại cái thực tế đầy phức tạp đua chen quyền lợi với những con người thực và chấp nhận thế giới sách vở như một nơi trú ẩn lý tưởng. Lâu dần họ càng ngại, cứ ì ra, nhiều người thành hâm hâm.

3.      TRÍ THỨC

Người ta hay nói trí thức là phải thức thời mà nghĩa là phải luôn tỉnh táo, thấy rõ mọi việc trong khi mọi người còn say mơ. Và đó lại là bi kịch của Khuất Nguyên khi cho rằng "Cả đời đục cả, một mình ta trong; mọi người say cả, một mình ta tỉnh“. Say hay tỉnh thì còn tùy quan niệm nhưng đúng là loài Homo sapiens giàu trí tưởng tượng thật.

Người ta cũng lại gắn liền trí thức với sách vở mà quên rằng đã rơi vào thế giới ma mị của sách vở thì nhiều người trở nên "điên điên" thế nào ấy. Họ mất khả năng quan sát, nhìn trước nhìn sau, cứ cắm cúi vào suy ngẫm theo ý những câu chữ thấy trong sách vở đến tội. Giặc đã dí giáo vào cổ rổi mà còn lo mấy cái hình vẽ như Archimedes.

Rồi lắm khi thấy họ như đứa trẻ ở trong truyện cổ tích Andersen. Ai ai cũng thấy ông vua mặc quần áo rất đẹp thì thằng bé lại bô bô kêu: "Vua cởi truồng". Hình như càng học nhiều, đọc nhiều thì họ càng xa rời cuộc sống, càng ngây ngô ra. Cuộc sống thực thì phiên phiến, nhìn quanh thấy đa số thế nào rồi theo, vỗ tay theo là xong. Cái gọi là " nhìn xu thế " họ rất biết. Họ cũng biết luôn mồm nói lại câu của Goethe " Mọi lý thuyết là mầu xám, chỉ có cây đời mãi xanh tươi ", cũng luôn lẩm bẩm câu tiếng Anh "To be or not to be" của Shakespeare. Biết thế nhưng không ít người trong số họ luôn mắc vướng phải cái bi kịch số phận của Hamlet "Tư duy thì không hành động, mà khi hành động thì lại buông theo cảm xúc không tư duy".

Các con mọt sách chủ yếu là học các ngành của khoa học tự nhiên, lác đác cũng có dân kỹ thuật và họ cũng khác các con mọt của các ngành khoa học xã hội, các ngành mà chút hồ đồ, ngây ngô là chết kiểu như mấy ông nhà thơ, nhà văn, nhạc sỹ một thời ấy. Những người học khoa học cơ bản như Toán, Lý, Điều khiển ở Tây về thì chỉ là chữ nghĩa nhiều thành hâm thôi. Hâm nhưng mà lành.

Mà có lẽ ở đâu các con mọt sách ấy cũng thế. Trong đời người ta khen nhau là "thành đạt", "hay", "khéo", "giỏi"... thiếu gì từ mà cái ông De Broglie, nhà vật lý quý tộc Pháp xưa lại dùng từ khen chê cho một nghiên cứu khoa học là "điên" hay "chưa đủ điên".

4.      MỌT TOÁN VÀ MỌT VĂN

Những con mọt trong khoa học kỹ thuật nói chung là bận. Máy móc, con người, hiện trường, bản vẽ… mới là cái chính trong công việc, sách chỉ để tra khảo thôi vì thế mọt loại này có lên thư viện cũng chỉ họa hoằn. Trong thư viện thấy chủ yếu là các loại mọt lý thuyết trong đó mọt toán là nhiều. Mọt văn chỉ lác đác.

Thực ra người Việt đi nước ngoài học toán nhiều. Nhiều người được giữ lại chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh luôn. Toán đâu có phải tài sản quốc gia gì mà phải giữ kín như những ngành kỹ thuật mũi nhọn của nước mà họ được đến học. Học toán còn có nhiều thuận lợi, chi phí chẳng tốn kém như học các ngành liên quan đến công nghệ, thí nghiệm, máy móc, thực tập ở nhà máy v.v. Học toán đúng là khó nhưng thực ra lại rẻ cũng như trong thể thao có môn cờ vua ấy, vẻn vẹn chỉ cần cái bàn cờ là xong, cũng lại chẳng có gì là bí mật công nghệ hay tạo ra sản phẩm xã hội dùng cả. Được cái nó cũng lành, người học toán tự họ trao đổi rồi khen chê nhau thôi chẳng có cảnh hưởng độc hại gì đến xã hội cả. Ngôn ngữ toán học nó lại khác biệt với ngôn ngữ cuộc sống của con người bình thường, tất nhiên là khác ngôn ngữ của văn chương rồi.

Học văn tốn hơn, tốn giấy. Mấy con mọt thơ thì sòn sòn ra thơ. Trong toán học ai ra được công thức hay định lý còn lâu. Cũng chẳng mấy khi thấy được định lý hay công thức mang tên người Việt. Chỉ lắm bài báo khoa học hay luận án tiến sĩ thôi mà ở đó chủ yếu là những hoạt động toán học, thao tác logic cái nọ suy ra cái kia sao cho không ai bắt lỗi được, khác hẳn thơ. Thơ chỉ cần vần và xuống dòng chăm chỉ. Thơ lục bát còn đỡ chứ thơ năm chữ, bốn chữ một dòng thì chóng dài lắm mà có khi mỗi dòng chỉ có một hai chữ, đọc mắt đỡ liếc trái sang phải mà gật một nhát từ trên xuống là xong, trống hoác màu trắng giấy. Có điều sản phẩm của mọt văn nó có thể đăng báo đại chúng, xuất bản thành sách cho dân, người ít học cũng đọc được, khen chê là ầm lên ở xã hội, nhiều khi không lành, bình an như toán.

5.      GIÁO SƯ MỌT

Cứ cách mấy ngày lại thấy chiếc Volga đên đỗ ngoài thư viện và thấy một ông người đậm bước ra với những quyển sách bìa cứng trong tay. Ông Bộ trưởng lên đổi sách. Khiếp, ông đọc nhanh thật. Mấy quyển đó tôi mới thấy ông mượn về mấy hôm trước, lúc đứng cạnh ông chờ lấy sách ấy. Tôi ngó sang ông toàn thấy sách tiếng Anh. Tôi hồi đó mới chỉ vùi đầu vào những sách tiếng Nga ngố. Tôi đọc thì cũng nhanh lắm, ẩu nữa, hay bỏ qua nhiều dòng, có khi cả trang, thậm chí gần cả quyển, chỉ đọc hoặc chép lại những chỗ mình cần. Sách chuyên môn khoa học thì đọc như thế là được rồi, dở nhất là đọc sách văn chương tôi cũng hay lướt. Chỉ có những truyện mà đến chỗ đánh nhau hay yêu đương thì tôi đọc đi đọc lại rồi cứ như thấy mình trong truyện.

Tôi cũng không dám hỏi ông đọc cách nào, có giống tôi không. Tôi chỉ chào ông, thấy ông giống ông Viện sỹ Filipov, thầy giáo của tôi năm xưa, một con người dành cả cuộc đời cho khoa học. Luôn có dáng cặm cụi với sách vở ngay cả khi đi không cầm sách.

Tôi ngưỡng mộ ông cũng như các thầy giáo của tôi, các nhà khoa học Soviet, nhưng thực ra trong lòng tôi còn có những khoảng trống... rất xa lạ với khoa học. Hồi ở Liên Xô tôi cũng là một con mọt sách, chỉ có là trong thư viện tôi hay ngồi bàn trên để khỏi ngủ gật khi đọc sách. Ở đó còn có người đi ra đi vào đập vào mắt, đầu tiên những đôi chân các cô gái, nhiều thứ nhưng nhất là những đôi chân đẹp, lại xua cơn buồn ngủ cho tôi. Về Việt Nam tôi lại gặm nhấm sách ở thư viện Lý Thường Kiệt, hay ngồi cửa sổ tầng hai nhìn xuống phố. Tôi vẫn thèm những mầu đỏ mù không lối về của hàng phương vĩ, mầu xanh của những tà áo...và cũng hiểu ngay là dưới kia, qua bờ rào có ai tìm ra mình, gọi tên mình thì tôi sẽ bỏ ngay sách vở đi xuống.

Trên thư viện hàng tuần có các thông báo các buổi nói chuyện chuyên đề về khoa học. Tôi được nghe và gặp các giáo sư Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Thúc Loan, các Giáo sư khác nữa nói chuyện về khoa học, gợi cho chúng tôi bao cảm hứng.

Lần cuối tôi gặp ông ở Viện Cơ. Lúc đó ông đã già hơn hồi tôi gặp ông ở thư viện, cũng thôi làm Bộ trưởng nhưng sách thì không buông. Viện mời ông nói chuyện về Cơ học Phi Tuyến, về sóng Soliton. Và đó là tên tiểu thuyết tôi đã ấp ủ "Những ngọn sóng Soliton" và năm nay đã cho in.

giáo sư Bộ Trưởng Tạ Quang Bửu là một Ngọn Sóng Đơn Độc, một điểm kdị.

6.      BẢN ROMANCE

Tôi thường hay đọc sách thư viện. Mua sách với tôi là chuyện xa xỉ, không như hồi sinh viên ở Liên Xô. Hồi đó chăm mua sách vì nghĩ mang về Việt nam như một tài sản, sợ ở nước ta không có sách đó. Nhiều khi đành nhịn ăn thịt, chỉ có khoai tây luộc với bánh mì bơ, nước chè đường vì mua sách. Mà mua sách thì cũng có nghĩ gì đâu. Lại còn mua cả sách nhạc piano. Đắt kinh. Vay nợ, hè sẽ đi làm để trả, đành vậy. Hồi năm thứ hai học bổng có 60 rup lại bỏ ra mỗi tháng 12 rup đi học đàn. Điên.

Natasa có mái tóc mầu hạt dẻ, mắt cũng màu nâu thì học ở violin tầng trên của nhà văn hoá Sinh viên. Em cũng 16 tuổi, bằng tuổi Nadia ở Taskent năm xưa. Đã hai năm rồi. Hình ảnh Nadia, bài hát "Những chú gấu", giọng em, mái tóc vàng cũng phai nhạt dần trong tôi. Tôi chỉ thấy mái tóc nâu bồng bềnh xoã từ cái đầu chao nghiêng xuống cái đàn violin. Tôi hay ra sớm đứng chờ Natasa ngoài cửa lớp học. Chúng tôi cùng về. Đường đi đầy lá khô...

Tôi cũng hẹn với Natasa cùng chơi bản nhạc Shostacovich sau này khi thành tài. Sau một năm học tôi thi trượt. Bà giáo kêu tôi không có tai nhạc. Bà khuyên tôi nên tập trung vào khoa học hơn. Trời không cho ai tất cả.

Và trời không cho tôi cùng chơi bản nhạc đó với Natasa. Tôi dứt được khỏi âm nhạc.

Tôi đành chúi đầu vào sách trong thư viện. Thực ra cũng một nửa thời gian trong thư viện là tôi vào lấy chỗ, để mấy quyển sách chuyên môn lên bàn rồi sang phòng sách truyện, văn chương, vùi đầu vào đọc như ăn cướp. Đôi khi chỉ cuối giờ tôi mới như bừng tỉnh trở về chỗ ngồi của phòng sách khoa học. Cũng phải đọc như ăn cướp. Chỗ nào khó thì gắng nhớ rồi suy ngẫm sau.

Rồi tình cờ một lần ở hiệu sách trung tâm tôi mua phái quyển sách "Lý thuyết phân phối" của nhà toán học Pháp Laurent Schwartz, thế là mê tít. Buổi chiều tranh thủ sang trường Đại học Tổng hợp cùng Sứ nghe giảng thêm về cái món đó. Đến năm thứ ba gặp Grinev, thầy giáo hướng dẫn nghiên cứu sinh của tôi sau này. Ông dúi vào tay tôi quyển sách của Pontryagin và dứt nốt tôi ra khỏi những thi ca, văn chương phù phiếm.

7.      TÌNH YÊU VÀ SÁCH VỞ

Không chỉ là sở thích hay đam mê mà là Tình Yêu thật, Tình Yêu với sách của thằng bạn cố tri của tôi, cùng tên, cùng tuổi, cùng nghiên cứu sinh ở Kharkov, lại ít nhiều cùng chuyên môn, Nguyễn Tài Trung người Thanh Chương xứ Nghệ. Đến nhà hắn có thể đụng vào, táy máy bất kỳ cái gì trừ sách vì phải hỏi ý kiến chủ nhà. Cho ai mượn sách thì hắn phải lấy vở ghi tên sách, tên người và ngày mượn, ngày trả. Có thể khá nhiều điều có được trong đầu tôi là từ giá sách của hắn. Tôi thì chưa bao giờ nhà có giá sách cả. Cần đọc thì lên thư viện, mượn của ai lo trả nên phải lo đọc. Sách của riêng mình thì yên tâm quá nên chẳng nghĩ chuyện vội đọc làm gì. Cái này không phải như kiểu "bụt chùa nhà không thiêng" mà có cái gì giống như "ăn vụng thì ngon" ấy, đọc cứ như ăn cướp, nghiến ngấu. Mà tôi có quyển sách nào ai mượn à mừng, vì thế cũng chẳng giữ được quyển sách quý giá nào cả. Vẫn vui dù biết cho mượn là mất. Nhà còn ít sách thì thường dùng vào việc xếp kê chặn cái vật gì đấy.

Tài Trung thì ngược lại. Sách nhiều ơi là nhiều. Nhà thì như một thư viện với một nửa là sách khoa học, một nửa là văn học. Các giá sách luôn được cơi nới đến tận trần. Nhà PGS TS NGƯT (phó giáo sư tiến sĩ nhà giáo ưu tú) độc thân này như một thư viện cho tôi và một số người, như một quán rượu cho tất cả. Cái ý thứ hai mới là chính - Người không biết uống rượu thì chớ đến, không được vào. Chị em cũng không ngọai lệ. Trên tường có treo một cái bảng và chủ nhà viết các bài thơ khi uống rượu, hôm sau xóa đi. Ai đọc, nhớ được thì muốn bảo của mình cũng không sao vì chưa đăng ký bản quyền, nhưng không được dùng giấy bút chép hay chụp trộm. Trung có viết tặng riêng tôi một bài thơ và tôi vứt đâu lúc đêm về chân nam đá chân siêu. Hôm sau tôi bắt hắn viết lại. Hắn không nhớ. Tôi cũng không nhớ. Hai anh em đều tiếc. Trung bảo tôi: "Đời người chỉ cần gặp được một người, viết được một bài thơ thế mà ông đánh mất". Chúng tôi uống thên rượu, rất nhiều rượu cho say để lấy lại bài thơ nhưng không được. Tôi ngủ, còn hắn khóc, cứ nức nở như trẻ con. Hắn vẫn bảo tôi là "Trí ngủ". Tôi không tự ái vì nể hắn có một kho trí thức trong đầu thôi. Từ Phong thuỷ, Kinh Thi đến Mạc Ngôn, Trương Tửu, từ Pele, Pavel đến trường phái Biểu Tượng của Thi Ca, từ Bát Nhã Chân Kinh đến Cựu Ước, Tân Ước, cái gì hắn nói được hết. Đấy là chưa kể chuyên môn hẹp mà hắn chẳng biết nói với ai cả.

Không biết có phải do sách vở đọc nhiều quá không nên hắn "ở vậy". Hắn quen biết cũng lắm, tự biên tự diễn, người mai mối cũng nhiều nhưng chẳng đi đến đâu. Có lần tôi hỏi một cô nàng đã gặp ở nhà Tài Trung là sao hai người trai tài gái sắc lại không thành đôi. Em bảo khi anh ấy mời em đến nhà, rất lịch sự hỏi là em muốn uống gì rồi xuống bếp pha nước. Lúc lên thấy em đang cầm quyển truyện trên giá sách lấy xuống xem, mấy quyển khác em cũng đặt lên bàn thì anh ấy nghiêm mặt, cầm sách trên bàn xếp lên giá cho ngay ngắn. Em sợ.

Rõ khổ, cái con mọt sách này. Rồi cũng một lần một trong những giá sách của hắn bị mối mọt ăn. Cái giá sách để chỗ khuất gần bếp toàn sách chuyên môn bìa cứng, tiếng Nga. Hắn xót lắm, cố cứu. Hai chúng tôi hì hụi suốt tối. Xong rồi là rượu.

Và hắn khóc thì là thường xuyên, những lúc say rượu. Từ hồi còn ở Kharkov cơ. Hồi đó tòan rượu quốc lủi do bố cô sinh viên Nga, bạn gái Nina của hắn nấu ở quê.

Mấy bà chị thỉnh thoảng ghé qua cứ sốt ruột về chuyện vợ con của hắn và nhờ tôi tác động. Các bà đánh giá tôi hơi cao. Hắn quý tôi thôi chứ tôi chẳng thể có chút ảnh hưởng nào với  type người như thế này. Có lần sinh nhật hắn, tôi đọc mấy câu thơ.

Có hai ngày kỳ diệu

Ngày mà mình sinh ra

Và ngày nữa mình hiểu

Sinh ra để làm gì..

Trung hỏi tôi: "thế theo ông thì sinh ra để làm gì?". Tôi còn đang chưa nghĩ ra để nói thì hắn bế lấy thằng con trai chưa đầy một tuổi của tôi úp mặt vào và hít.

Năm năm trước tôi đang vui chơi nhảy nhót tối ở sân công viên Hồ Thành Công thì có điện thoại của Trung: "Đức Trung ở đâu, đến đi, tao cô đơn quá". Giọng nghe thấy lạ, không đùa. Tôi gọi taxi đến ngay chung cư Trung Hòa. Bấm mãi hắn mới ra mở cửa. Yếu quá rồi, sinh khí hết. Tôi nhìn thấy quyển sách và chai rượu dở trên bàn. Tôi ngủ đêm ở đấy, đến sáng có người nhà hắn qua. Hắn còn dậy tiễn tôi... bằng rượu.

Mấy hôm sau Uyển dạy cùng ở trường Bách Khoa gọi lúc tôi đang lên lớp: "Tài Trung nó đi rồi, ông biết chưa".

Tiễn đưa Tài Trung xong tôi sực nghĩ đến một người. Nina không biết bây giờ ra sao.

8.      VĨ THANH

Bây giờ đã luống tuổi, mắt kém, tôi ít đọc sách hơn. Mà không chỉ có tôi, bạn bè cùng trang lứa của tôi cũng vậy. Báo giấy cũng ngại đọc, chỉ đọc báo mạng, cập nhật những tin tức thời sự nóng là chủ yếu để có chuyện nói với nhau chứ chẳng lẽ lúc quây quần chỉ toàn hoài niệm về một thời xưa ấy à.

Lại nói thêm về sách văn học, nó đã trở thành xa xỉ nếu không nói là xa lạ trong giới trí thức khoa học kỹ thuật bách khoa. Mà cũng chẳng ai thấy thiếu gì, lại đỡ đi nhiều phiền hà để tập trung vào những thứ thiết thực trong đời mà mọi người đang theo đuổi. Sách vở của mình thì tôi cho một phần, một phần thì ai đó mượn rồi quên trả hay đúng hơn là tôi quên người mượn. Thế cũng tốt.

Cũng nhiều khi tôi nghĩ nếu cuộc đời mình đã không gắn liền với sách vở thì sẽ ra sao nhỉ. Tôi sẽ có nhiều thời gian hơn là chắc rồi, sẽ thực tế hơn, gần gũi được nhiều người hơn, những người của đời thực chứ không phải của ảo vọng, tôi đỡ làm người ta dè chừng hơn, còn bản thân cũng sẽ đắn đo ít hơn, hành động nhiều hơn, tận dụng cơ hội nhiều hơn và cuối cùng là biết đâu có thể thành đạt hơn…. Cái Con Mọt Sách Tôi này. 

PARTY

Kể cũng lạ

Các bông hoa thường có tên đàn bà

Và cũng vậy

Ta gọi đúng tên rồi chẳng thấy em thưa

                                      Như câu thơ cứ trốn đâu, e ấp

Chỉ mùi hương cho cảm giác… em đây

 

 Tình cờ hôm qua ở party tôi gặp một cô nàng trông quen. Mùi nước hoa nhè nhẹ dịu hương Lavender thấy quen như một cái gì trong ký ức của tôi đã bị thất lạc từ bao giờ. Nàng nói ngay tên tôi, nói đã gặp nhau ở đâu ấy, ở nơi nào ấy ở Warszawa năm xưa, nhưng ngay lập tức thì không nhớ ra được.

Tôi lại càng không nhớ. Tên em cũng không. Dạo này xem phim Ấn Độ. Phim nào cũng vậy, anh chàng nhân vật chính kiểu gì cũng mắc bệnh quên và mọi mắc mớ ở đấy mà ra, nhà văn tha hồ tạo các tình huống quên quên nhớ nhớ

 Tôi cầu khẩn em gợi ý. Em nói là tên em liên quan đến Hoa.

- Đúng rồi em là Cúc, mình gặp nhau ở kho Dobra gần bờ sông ấy, hôm ấy em mặc cái áo cộc tay màu cam, cái bờm tóc cũng màu cam - tôi mừng quá, nhận ra em.

- Không phải, anh nhầm - Cô nàng thất vọng

- Thế thì Lan rồi, Hương Lan. Chắc chắn rồi, chỉ em mới có nụ cười gieo nhớ thế này. Lần đó tôi chở em về nhà sau phiên chợ ngoại ô Olkus phía nam thành phố ấy. Em mặc chiếc áo da màu đen, cái khăn cổ thì màu rêu. Lúc em xuống xe đi rồi mà Hương Lan vẫn còn mãi trong xe

- Trời - Cô nàng chực khóc

- Em là Phượng, Bích Phượng. Mình gặp nhau hồi Noel ấy ở đám cưới ai đấy trong quán gì đấy. Mình cùng nhảy với nhau và còn hát cùng bài Phượng Hồng.

- Khổ thân em, anh nhớ lắm tên quá, chỉ không nhớ tên em - Cô nàng rơm rớm.

Tôi lo quá, chịu thua và giảng giải cho nàng là cách đây mấy năm tôi bị ngã va đầu nên mất một vài thông tin trong bộ nhớ (cái này tôi dựa vào bộ phim Ấn Độ có người bị vậy). Phải một thời gian nữa tôi sẽ nhớ lại dần.

- Còn đâu thời gian anh ơi. Thôi để em nói tên em vậy, coi như em cho nợ. Tên em là Hào.

- Trời ạ, thế thì tại em định hướng sai cho anh. Đáng lẽ là em phải gợi ý tên em là một loại củ thì anh đoán ra ngay Su Hào ạ. Chúng mình đã cùng ăn ở chợ Balakha cái món flaki ấy còn gì. Hôm đó tuyết rơi to quá, em nhớ không.

- Em gợi ý đúng mà nhưng không ngờ về Việt Nam anh bị lú đi đến thế. Hồi bên kia anh đâu đến nỗi. Anh phải nhớ tên em là Hào Hoa chứ.

MÙA THU HÀ NỘI

Ai bảo là Thu không có tuổi

Tuổi Thu bằng đúng tuổi em tôi

Còn tuổi của tôi, bằng tuổi Thu em ấy

Cộng những mùa Thu khi em chửa ra đời

 

Người Hà Nội thanh lịch, tinh tế và nhiều chất Tràng An khác nữa. Các tỉnh gọi bằng cụ.

Đặc biệt là họ rất chú ý ăn mặc và màu sắc. Tôi ở Nam Định lên, cua đồng bò ra đường nhựa cứ ngẩn tò te nhìn họ. Thực ra phụ nữ Hà Nội họ ăn mặc thế nào thì tôi không để ý, không phân biệt được chứ đàn ông thì thấy ngay, chỉn chu, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao, cũng là so ngay với mình thôi.

Bao năm ở Hà Nội mà cái chất quê vẫn nguyên si như thuở nào, vẫn thô kệch vụng về và hay cười to, thấy đẹp là nhìn, có khi còn buột miệng khen nữa. Thảo nào thi sỹ Baudelaire có nói: “Tại Cái Đẹp ấy. Nó làm cho người anh hùng trở nên nhút nhát và kẻ quê hèn lại thành dũng cảm“. Tôi thì nghĩ rằng chẳng phải là quê hèn dũng cảm gì đâu, chỉ là không kìm nén được, chứ người Hà Nội thanh lịch ai lại thế, họ biết bộc lộ điều tiết cảm xúc chứ. Rồi đã là chất quê thì khó giấu, thường là lộ hết, vẻ mặt, cái nhìn nó khai hết, có đi xem thấy cái gì hay là sướng, cười vỗ tay, vào facebook thấy ảnh đẹp thơ hay là like là love chứ đã chắc gì dám xin kết bạn nói chi đến hẹn hò.

Ông Mã này tôi thấy một lần lúc gửi xe trong sân rồi đần thối ra đứng nhìn theo cái đuôi tôm đỏ, quần đỏ, giày trắng đến quên cả rút chìa khóa xe. Hình như ông ấy có thắt cả cà vạt đỏ. Xe thì Vespa tất nhiên. Đang ngơ ngẩn ngắm cái xe trắng đặc trưng của trai Hà Thành thì bỗng có một tiếng nói nhẹ nhàng bên tai: "Anh quên chìa khóa kìa".

Có tiếng hát Nga, giai điệu Nga từ tầng 5 vọng xuống. Chiếc áo đỏ đuôi tôm khuất chỗ lên tầng 1 tòa nhà. Hay là lên đó nghe nhạc một lúc đã rồi sang chợ sau. Đang tần ngần thì nàng cũng bước đi rồi. Đôi chân giống chân của con gái Kiev quá. Cổ chân tròn trắng. Nhớ. Đôi chân cũng đã khuất ở lối vào tòa nhà. Tôi rảo bước theo thấy em đang giữ thang máy. Trong thang máy tôi cảm ơn em đã giữ chờ và nhắc nhở ở sân. Em nói: "Không sao đâu, có điều anh nên học chút thanh lịch nơi đô thành này. Nhìn gì lúc nãy mà cứ nghệt ra thế như Nga ngố ấy. Chắc anh ở tỉnh lẻ đi học ở bên đó về. Mà chắc anh chưa đi khiêu vũ bao giờ. Anh cũng nên cho áo vào trong quần đi rồi ngồi uống nước xem cũng được nhưng đừng vỗ tay nhé".

Hóa ra đây là sàn khiêu vũ. Ở hành lang có cái bàn nước chè tầu, thuốc lào và bàn cờ nữa với 5, 7 quý ông đang ngồi trao đổi chuyên môn về món Nhảy Đầm này. Tôi hỏi sao họ không vào nhảy thì họ bảo là cạ (bạn nữ nhảy) chưa đến với lại trong đó đầy các ông, Dương thịnh Âm suy, mất cân bằng giới tính trầm trọng ở Việt nam nhất là ở Hà nội này. Thấy trang phục đi chợ của tôi các ông ấy có vẻ ái ngại xen lẫn yên tâm.

Tôi mua cốc nước chè 20 ngàn và chọn ngồi bàn đầu xem cho rõ. Đôi khi cứ phải tay mình giữ tay mình. Hở ra thấy hay là lại vỗ tay thì chết. Nàng dặn rồi.

Cô nàng gặp dưới sân lại mặc quần đùi đen với cái áo trắng cộc, lại ngồi ngay sau. Họa sỹ Trương Thảo có nói với tôi hôm nọ về hai mầu trắng đen đó. Hai mầu dung môi. Nó làm cho sự lòe loẹt trở thành lông lẫy, nhợt nhòa trở nên nhẹ nhàng, những dở dang trở nên dịu dàng rồi dụ dỗ nhức lòng như câu thơ của Bergolt ấy " dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi ". Cô nàng cứ chúi vào xoa vuốt cái điện thoại. Chắc là chát gọi cạ. Tôi uống xong cốc nước rồi nấn ná ngồi thêm. Biết đâu sẽ lại có những bản nhạc tôi yêu thích, những giai điệu Valse đến nao lòng rồi Tango nữa. Nhưng lý do chính và tôi không thể dối được mình là rất muốn xem cái người đàn ông của nàng thế nào, chất Tràng An đến đâu. Anh có thắt cà vạt hay nơ bướm, có đeo dây chuyền không và hơn tất cả là trong vũ điệu với nàng có nâng niu bao dung chờ đợi không

Sang vũ điệu Kizomba. Ông Tràng An trong bộ đỏ đuôi tôm, giày trắng từ đâu tiến đến phía tôi rồi mời nàng ngồi ngay phía sau. Tôi mừng lắm, được xem nàng chuyển động trong vũ điệu chậm Lento mê hồn đó rồi, đôi chân, bờ vai trắng thế...nhưng bỗng tưng hửng. Nàng chìa điện thoại ra, chắp tay lại từ chối.

Ông ấy đi mời người khác. Một quý bà cũng váy áo màu đỏ. Tôi quay lại nói khẽ với cô nàng "Sao em lại từ chối. Đàn ông bị từ chối thế thì họ tủi thân lắm. Lại mùa thu nữa, cái mùa mà đàn ông rất dễ bị tổn thương". 

 

LỜI CẢM ƠN

 Trong tập truyện ngắn đầu tay "Bản Tango Italiano NXB HNV 2014" tôi đã có viết Lời Cảm Ơn. Tôi vẫn muốn giữ nguyên những lời viết cách đây bốn năm đó cho tập truyện ngắn "Hoa Oải Hương" này.

“Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo Từ Ngọc Ánh không chỉ vì những kiến thức hóa học thầy dạy mà còn vì những truyện ngắn nước ngoài thầy dịch và thường kể lại cho cả lớp 10C trường cấp III Bến Tre Phúc Yên xưa.

Tôi xin cảm ơn vợ chồng giáo sư Nguyễn Xuân Lạc và tiến sĩ Đặng Kim Nhung đã luôn động viên, tin tưởng tôi trong Cuộc sống, Khoa học và Nghệ thuật.

Cảm ơn tiến sĩ Vũ Như Lân và thư ký tòa sọan Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lê Thị Thiên Hương cùng các đồng nghiệp ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam vì sự nhiệt tình lắng nghe những câu chuyện tôi kể, hứng thú theo dõi số phận những nhân vật của tôi.     

Cảm ơn anh Phan Quý Bích và anh Đỗ Đình Khang, hai người bạn học thân thiết đã cùng chia sẻ những suy nghĩ, ấp ủ của tôi.     

Cảm ơn giáo sư Nguyễn Hoàng Nghị, một nhà khoa học nghiêm khắc khó tính đến khó chịu, đã chịu đọc xong các truyện ngắn của tôi với lời nhắn gửi ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa: “Congratulation”.

Cảm ơn những người đã dành tình cảm cho tôi, đã đọc những dòng bản thảo, đã động viên và chờ đợi.

Tôi cũng xin gửi tới gia đình vợ con lòng biết ơn vì những gì tôi đã có đến hôm nay.

Cuối cùng con xin cảm ơn Cha Mẹ đã cho con đến với thế giới kỳ diệu này”.

Hà Nội, 2021  Trần Đức Trung

 

MỤC LỤC 


LỜI TÁC GIẢ.................................................................... 5

4.       HOA OẢI HƯƠNG.................................................... 7

5.       MARIA THÙY DƯƠNG.......................................... 32

6.       MƠ HỒ...................................................................... 43

7.       VŨ ĐIỆU VALSE BÊN HỒ...................................... 68

8.       KHUNG TRỜI Ý NIỆM.......................................... 109

9.       MỐI TÌNH ĐẦU..................................................... 149

10.    CÁT VÀ TUYẾT..................................................... 165

11.    MÙA HÈ CHAO XOAY........................................ 188

12.    VÔ HỒN................................................................. 207

13.    CHIẾC ÁO KHOÁC DẠ NỮ MÀU RÊU............. 234

14.    SÓNG THETA........................................................ 248

15.    CHUYẾN XE KHÁCH........................................... 261

16.    NHỮNG TẬP KHĂN TAY IN HOA.................... 271

17.    THẾ GIỚI ẢO......................................................... 277

18.    NHỮNG CON MỌT SÁCH.................................. 286

19.    PARTY..................................................................... 303

20.    MÙA THU HÀ NỘI............................................... 306

LỜI CẢM ƠN............................................................... 310


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét