1. Lời dẫn
- Cuộc chiến tranh trên đất Ucraina tùy góc nhìn có thể gọi bằng những tên gọi khác nhau. Vladimir Putin gọi là " Chiến dịch đặc biệt ". Hầu hết người Nga và người Việt được giới truyền thông hướng dẫn dùng thuật ngữ đó.
Một số người từ một góc nhin nghệ thuật quân sự thì gọi nó là " Chiến tranh lai ghép ".
Người dân Ucraina bình thường thì gọi nó theo cái tên truyền thống là " Cuộc chiến xâm lược của Nga " và cũng là " Cuộc chiến tự vệ ( vệ quốc ) của Ucraina ", cái tên nghe quen xưa nay trở nên lạ lẫm.
Nếu từ góc độ khoa học thì còn có thể gọi nó là " Cuộc chiến ĐKH - CyberWar "
- Lại nhớ cách đây chục năm rồi, hồi mới chuyển về ở Hà Thành Plaza Thái Thịnh, tôi có cùng Khánh đến chơi nhà Bùi Quang Minh gần đấy. Hôm đó 3 người pháp đàm đủ mọi thứ trên đời theo các chủ đề gắp thăm từ thơ ca đến tâm linh khoa học hay chứng khoán. Mỗi người được tối đa 5 phút rồi im để đến lượt người khác và mình yên lặng ngồi nghe, nhấm nháp vang với Salami Nga.
Lúc cuối tưởng hết chuyện, hết chữ là lật ngẫu ngẫu nhiên quyển từ điển tay dính cái từ giáo dục. No nê và say hết rồi tôi bảo mọi người kết thúc và trước đó là viết vào giấy xem cái môn học nào cần cho dân Việt khai trí nhất bây giờ. Lúc chìa giấy ra thì như một điều ngớ ngẳn rất linh. Trên cả ba tờ giấy đều ghi " Cybernetics - Điều Khiển Học ".
2. Cybernetics
Nếu nói lịch sử là những câu chuyện về chiến tranh thì may quá hầu hết các cuộc chiến tranh từ WW2 về trước ĐKH chưa ra đời. Chỉ sau WW2 với quy mô lớn về không gian và áp dụng nghệ thuật quân sự chiều sâu cùng với kết nối các tầng lớp khí tài hiện đại khác nhau việc mô hình hóa trò chơi giết người của thần chiến tranh này đã thai nghén cho ra khoa học Cybernetics. Lúc đó MTĐT cũng ra đời để lưu giữ, chuyển đổi thông tin. điều kiện phát triển kỹ thuật và lý thuyết điều khiển để rồi dần dần trở thành môn khoa học hoàn chỉnh. Điều khiển học dần trở thành một khoa học sau thế chiến 2 nhờ sự tham gia của các trí thức như Wiener, Rosenblueth, John von Neumann, McCulloch, Shannon, Heinz von Forster, Lorenz, Walter và Claude ...... đến từ những khoa học khác nhau và như vậy, điều khiển học ngay từ đầu đã làm công việc nghiên cứu liên ngành, tìm cách phát hiện các đặc điểm chung của nhiều loại hệ thống khác nhau trong một mô hình điều khiển tổng quát. Một cách nói khác đó là " Khoa học về hệ thống " tìm hiểu quan hệ chức năng của các thành phần hệ thống tập trung về tính mục tiêu: sự định hướng mục tiêu là do các vòng phản hồi âm giảm bớt sự chênh lệch giữa mục tiêu là trạng thái mong muốn với trạng thái đã đạt được. Hệ thống đây là theo quan niệm Tập hợp các phần tử có cấu trúc và chức năng với mục tiêu bên ngoài đặt rõ.
Về lý thuyết, điều khiển học nghiên cứu các hệ thống và cơ chế điều khiển của nhiều loại hệ thống khác nhau, không giới hạn chỉ một loại hiện tượng cụ thể. Tương tác xã hội cũng là phạm vi nghiên cứu của điều khiển học bởi trong hiện tượng xã hội con người đề xuất yêu cầu về mục tiêu, thỏa thuận, hợp tác và giám sát các phản hồi để đạt được các mục tiêu.
Theo chiều ngược lại thì từ điều khiển học sản sinh ra các ngành khoa học hiện đại như: khoa học máy tính, đặc biệt là Lý thuyết Thông tin, Lý thuyết automata, Trí tuệ nhân tạo và Mạng Neuron nhân tạo, Mô hình hóa và mô phỏng bằng máy tính, Kỹ thuật robot, và Sự sống nhân tạo. Rất nhiều khái niệm cơ bản của các lĩnh vực này, như Sự phức tạp ( complexity ), Sự chọn lọc (selection), Sự tự trị (autonomy), Sự kết nối (connection), và Sự thích nghi (fitness) được các điều khiển đưa ra.
Và chính thức thì có thể tính từ năm 1947 khi nhà điện toán Wiener cùng bác sĩ thần kinh Rosenblueth đã khai sinh ra khoa học có tên Cybernetics với hệ thống có thể : a- quan sát được..... b- điều khiển được. Cyber tiếng Hy lạp có nghĩa đen là " tay lái ", đó chính là " phần điều khiển " ghép thêm vào đối tượng hệ thống để luôn cải thiện trạng thái của nó ( tọa độ, hướng ) cho gần đích hơn. Liên quan đến tên gọi đó thì từ thời Hy Lạp cổ đại Plato đã từng đề cập đến việc " Trên một con tàu, phải chăng một vị thuyền trưởng tự do làm điều anh ta chọn, với trí tuệ sáng suốt, chỉ dẫn hành trình tuyệt vời, nắm chắc mọi điều sẽ xảy ra với con tàu và các thủy thủ của mình " và đó cũng là quy luật cai trị, lãnh đạo con người, vị thuyền trưởng cũng chính là người cầm lái, cầm quyền (governor). Với điều khiển học có thể nhìn xuyên suốt cho quá trình nghiên cứu hoạt động, cơ chế có mục tiệu.
Cũng có thể lấy mốc ra đời của Cybernetics là sự ra đời cuốn sách của Wiener năm 1948 với tựa đề " Cybernetics, or control and communication in the animal and machine - Điều khiển học, hay điều khiển và giao tiếp trong động vật và máy móc ".
Ở LX mấy ông lãnh đạo nghe lời các nhà khoa học xã hội liệt ngay cái thứ đó vào khoa học tư sản vì ở không thấy có tính giai cấp. Thế là sau di truyền học lại một khoa học nữa cùng số phận các nhà khoa học của nó bị kết án, dừng.
Thực ra là không oan vì 3 chứng cứ:
a- Điều khiển học yêu cầu mục tiêu phải được lượng hóa, là số. Quan sát được nghĩa là đo được. Ai mà thích dùng lời, chỉ quen định tính, tránh định lượng là rất ngại.
b- Mô hình hệ thống cần điều khiển gồm 3 phần theo thứ tự: 1-Input, 2- Output, 3-Black Box.
Hóa ra cái bên trong - Black Box ấy số thứ tự lại là 3, phải xét hai cái bên ngoài 1, 2 trước. Kiểu mèo đực mèo cái cũng là 3, phải bắt được chuột đã. Cái Black Box là cái bên trong được đánh giá, giải mã dựa hoàn toàn vào 1- tín hiệu đầu vào và 2- đáp ứng đầu ra.
c- Cybernetics coi đối tượng như một cơ thế sống. Mà cơ thể sống là cái thông minh nhất trong vũ trụ vì nó luôn phải: a- phân biệt.....b- lựa chọn để tiến hóa. Nó có thêm ngòai 1, 2, 3 kể trên là 4- Feedback và 5- Control.
Đóng góp căn bản nhất của điều khiển học là giải thích tính mục tiêu, một đặc trưng quan trọng của trí não và sự sống bằng những khái niệm quan hệ điều khiển. Minh họa đơn giản nhất điều này là máy điều hòa duy trì một nhiệt độ riêng có thể xem như mục tiêu bên của nó. Cơ thể sống có tuyến mồ hôi là hệ thống điều khiển như vậy. Hệ thống điều khiển có phản hồi âm (negative feedback) là như vậy.
3. Điều khiển học và Nhận thức luận (epistemology)
Điều khiển học nhìn những hệ sống phức tạp như hệ điều khiển để chỉnh hoạt động trong các quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài. Điều ấy thật tự nhiên đưa ta đến gần hơn Nhận thức luận ( nhánh triết học về kiến thức ). Điều khiển học chỉ ra xu hướng coi tri thức mang tính Kiến tạo luận ( contructive ) tức là kiến thức không là một dạng phản ánh bị động thực tế bên ngoài giống một bức tranh khách quan, mà là kết quả của một quá trình hệ thống tích cực xây dựng hiểu biết.
Trước hết, kiến thức thế giới của chúng ta được điều chỉnh tất yếu bởi các quá trình cảm nhận của chúng ta, với nghĩa - cảm giác về hỗn loạn. Kết quả là một mô hình chủ quan những khía cạnh của thế giới phù hợp với các mục đích hệ thống. Ít nhất là ta có thể biết thu được các mô hình hiệu quả từ môi trường của mình.
Một giải thích thái quá cái nhìn này có thể dẫn tới thuyết duy ngã, hoặc không có khả năng để phân biệt bản thân với môi trường ngoài. Một giải thích thực dụng hơn là mọi mô hình xây dựng bởi người quan sát nào đó, thì mô hình ấy phải chứa cả người quan sát. Trong Điều khiển học, điều này dẫn tới “ Điều khiển học thế hệ 2 ", tự hệ thống thử nghiệm mô hình về bản thân mình trong quá trình mô hình hóa thế giới.
Cũng cần bổ sung là Điều khiển học trong mô hình toán của mình phát triển về Sự sống nhân tạo gắn với giải thích nguồn gốc sự sống và mô phỏng những hệ sinh học. Theo thời gian, các ngành như khoa học quản lý, điều trị tâm lý... sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng thêm cho nghiên cứu theo như khái niệm và lý thuyết của điều khiển học. Nói chung, điều khiển học mở ra cách thức cho nhân loại tìm hiểu sự phức tạp đầy đủ của thế giới quanh ta và cung cấp cả công cụ mô phỏng máy tính đối với các hệ thống trong thế giới này.
4. Cuộc chạy đua tên lửa Xô- Mỹ
Năm 1953 Stalin chết, Khrupsov lên thay. Mâu thuẫn Xô-Mỹ tăng dẫn tới chạy đua vũ trang. LX đã có vũ khí nguyên tử rồi nhưng phải hoàn thiện hệ thống tên lửa để mang nó đi đến đích, phải điều khiển nó. Đành phải chấp nhận Điều khiển học vậy. Pontryagin đã đưa ra nguyên lý cực đại mang tên ông làm cơ sở cho " Lý thuyết điều khiển các quá trình tối ưu ". Nguyên lý đó nhà toán học phát biểu như một giả thuyết và các bài toán cơ bản trình bày trong cuốn sách của ông là dành cho việc bắn trúng mục tiêu với thời gian nhanh nhất ( быстродействие ). Mục tiêu có thể cố định hoặc di động với quy luật cho trước ( theo thời gian ). Áp dụng nguyên lý đó thực ra là đảm bảo một hàm số đặc biệt mà Pontyagin gọi là hàm Hamilton luôn đạt cực đại ở thời điểm hiện tại. Lời giải sẽ là luật biến đổi theo thời gian của đại lượng điều khiển. Cuộc chạy đua tên lửa Mỹ-LX trong lĩnh vực vũ khí và trong việc chinh phục vũ trụ đã làm cho Điều khiển học có chỗ đứng và phát triển. 4 năm sau nhóm 4 nhà khoa học trẻ ở viện toán Steklov ở Moscow đã hoàn thành việc chứng minh nguyên lý cực đại Pontryagin đó.
Có thể nói Khrupsov đã cởi trói cho môn khoa học này và sự thành công trong lĩnh vực đầu đạn hạt nhân và tên lửa để ông ấy có thể tuyên bố là an ninh LX đã được đảm bảo để cùng Mỹ chung sống hòa bình và giảm trù quân bị.
5- CyberWar
Có lẽ cuộc chiến Mỹ xâm lược Irak năm 2003 mang đậm chất CyberGame. Buổi chiều dân Mỹ ra bật TV thấy trái đất trên màn hình được zoom to dần và một mục tiêu hiện rõ đóng khung. Đúng giờ ấn định mục tiêu. Mục tiêu bị hủy diệt. Tất nhiên đó là những mục tiêu cố định đã được định vị trước hay những mục tiêu di động theo quy luật đã biết của những bài toán trong quyển sách của Pontrygin.
Sau này bài toán tìm diệt được nâng cấp lên với việc bổ sung phần nhận dạng và dẫn đường đến mục tiêu. Thủ lĩnh ly khai của Chechnia là Dudaev năm 1995 sử dụng điện thoại liên lạc và bị giết bởi tên lửa có lazer dẫn đường từ một máy bay trinh sát của quân đội Nga.
Cuộc chiến tranh Nga trên đất Ucraina hiện nay khốc liệt với yếu tố nhận dạng mục tiêu và dẫn đường. Các đặc điểm và hành vi của đối tượng sẽ được thiết bị ghi nhớ, khoanh vùng, đi tìm và đánh dấu. Hàm mục tiêu sẽ luôn là khoảng cách của đối tượng điều khiển đến đối tượng tiêu diệt.
Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghệ tiên tiến, đặc biệt là của công nghệ điện tử là tiền đề phát triển cho các loại vũ khí điều khiển chính xác nói chung, cũng như của Vũ khí " phóng và quên " nói riêng.
Công nghiệp điện tử hiện nay cho phép chế tạo những thiết bị dẫn đường và cảm biến (sensor) đủ nhỏ, thậm chí lắp được cả trong đạn pháo.
÷÷÷
P/S
Trong STT có sử dụng những tư liệu của Bùi Quang Minh